Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






Kinh Thánh của Thomas Jefferson






Thomas Jefferson (1743–1826)

Là Tổng thống thứ 3 của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, người sáng lập ra Đảng Dân chủ–Cộng hòa Hoa Kỳ, và là một trong những người theo chủ nghĩa tự do nhiệt thành lớn nhất thời cận đại. Ông sinh ngày13 tháng 4 năm 1743 tại Shadwell, bang Virginia, lúc đó còn là vùng biên giới hoang vu, trong một gia đình kĩ sư gốc Anh. Thuở nhỏ, ông học ở quê nhà, rồi sau đó vào trường Đại học William & Mary (1760–1762). Năm 23 tuổi, ông trở thành luật sư. Bảy năm sau, ông thôi hành nghề với một tài sản kha khá và với mối ác cảm sâu sắc về giới luật sư, rồi sống cuộc sống của một nhà quý tộc nông thôn độc lập.

Tuy nhiên, sự quan tâm đến các vấn đề xã hội của Jefferson không cho phép ông hưởng thú ẩn dật. Ông được cử làm thành viên Viện đại biểu bang Virginia, và khi các vấn đề thuộc địa trở nên gay gắt, ông đóng vai trò tích cực ngày càng tăng trong phong trào đấu tranh giành độc lập. Những kiến nghị của Jefferson trong đoàn đại biểu Virginia với Hội nghị lục địa được công bố trong quyển sách nhỏ tựa đề "Quan điểm tóm tắt về các quyền của nước Mỹ", đã đưa ông lên vị trí của một trong những nhà lãnh đạo cách mạng hàng đầu. Ông được cử làm công tác đặc biệt ở Anh, và tại Mỹ ông được các cộng sự chọn để dự thảo bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776.  

Từ bỏ ghế đại biểu ở Quốc hội, Jefferson quay ra quan tâm đến việc xây dựng một bản hiến pháp cho quê hương Virginia. Nhiều tư tưởng của ông tập trung trong văn kiện đó, và nhiều ý tưởng khác được thể hiện trong các đạo luật ban hành những năm sau đấy. Năm 1779, Jefferson được bầu làm thống đốc bang Virginia và giữ chức vụ này cho đến năm1781. Năm 1783, trở lại tham gia Quốc hội một lần nữa, ông đứng đầu ủy ban được cử ra để xem xét hiệp ước hòa bình với Anh. Năm kế ông được cử làm công sứ đại diện cho chính phủ Mỹ non trẻ ở Pháp và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ này.

Từ năm 1789, với tư cách là ngoại trưởng Mỹ trong nội các của Tổng thống George Washington, ông đã công bố tư tưởng dân chủ mà dựa vào đó Đảng Dân chủ Hoa Kỳ được xây dựng, điều này đã đưa đến việc Jefferson đắc cử Tổng thống Mỹ năm 1800. Sau 2 nhiệm kì, ông rút lui và cống hiến những năm cuối đời cho việc thiết lập trường Đại học Virginia, được ông xem là một trong những công trình quan trọng nhất của mình.

Jefferson mất ngày 4 tháng 7 năm 1826 ở Monticello, gần Charlottesville, tại căn nhà tự ông xây cất, cùng một ngày với John Adams, hưởng thọ 83 tuổi. Trên mộ bia được ông chọn từ trước, có mang dòng chữ: "Đây là nơi an nghỉ cuối cùng của Thomas Jefferson, tác giả của bản Tuyên ngôn Độc lập Mỹ, của Đạo luật Virginia về tự do tín ngưỡng, và là cha đẻ của trường Đại học Virginia".

Kinh thánh của Jefferson 

là một quyển kinh thánh  được viết ra từ vị Tổng thống thứ 3 của nước Mỹ. Nhắc đến Thomas Jefferson , mọi công dân của nước Mỹ đều nghĩ đến một nhà chính trị  tài năng, cha đẻ của Hiến pháp Hoa Kỳ, một nhà phát minh …  

Quan điểm luận

Jefferson luôn đấu tranh để bảo vệ tự do tôn giáo, ông từng nói: "Tôi chẳng cảm thấy bị tổn thương nếu hàng xóm của tôi nói rằng có 20 vị chúa hoặc không có vị chúa nào. Nó chẳng tổn hại đến túi tiền của tôi và cũng không làm đau chân tôi".  

Thomas Jefferson nhận thấy mình xung đột với một số quan điểm trong bốn cuốn Kinh Phúc âm của Matthew, Mark, Luke và John nên ông đã chọn hướng đi độc nhất vô nhị: tự tạo Kinh thánh cho riêng mình sử dụng.

Jefferson đánh giá cao giáo lí của Giê-su nhưng ông không đề cao cái mà ông gọi là "những sai lệch trong đạo Thiên chúa". Ông cho rằng các sách Phúc âm Tân ước   có quá nhiều nội dung không nên đưa vào. Vì vậy, ông cắt và dán bốn cuốn Phúc âm của Tân ước để tạo ra phiên bản của mình. Ngày nay, nó được biết đến là cuốn Kinh thánh của Jefferson.

Nội dung

Trong cuốn Kinh thánh của Jefferson, Chúa Giê-su không có phép lạ. Ngài không tuyên bố mình là người của Chúa. Và ngài không lên thiên đường  sau khi bị đóng đinh trên cây thánh giá. Ngài Tổng thống đáng kính nghĩ rằng tất cả những điều này đã được các tín đồ "ngốc nghếch" và "tinh nghịch" của Giê-su thêm vào. Chúa Giê-su theo quan điểm của Jefferson là người đàn ông bình thường, có linh hồn và sùng tín.

Kinh thánh của Jefferson gồm rất nhiều lời dạy của Chúa Giê-su, được kể dưới dạng   truyện ngụ ngôn và những bài thuyết pháp. Jefferson xem Giê-su là một nhà triết học và có điểm khác biệt với ông: "Tôi là một người theo chủ nghĩa duy vật trong khi Chúa lại đứng về phía những người duy tâm".

Sự công khai

Jefferson đã giấu công chúng việc viết lại Kinh thánh vì sợ nó sẽ khơi nguồn cho một cuộc tranh cãi lớn. Ông nói với bạn bè rằng: "Tôi không chỉ không viết gì về tôn giáo. Tôi còn hiếm khi cho phép mình nói về nó".

Ngài Tổng thống đã thành công trong việc che giấu quan điểm trong suốt cuộc đời. cuốn Kinh thánh Jefferson chỉ được công bố 75 năm sau ngày mất của ông.

“Thánh Kinh Jefferson” thể hiện quan điểm về Thượng Đế và Đức tin của vị Cha già lập quốc của dân Mỹ. Tổng thống Thomas Jefferson đã xáo trộn bốn Kinh Phúc âm vào làm một, cắt bỏ tất cả các đoạn nói về phép lạ, và chấm dứt Kinh thánh (mới nầy) bằng đám ma của Giê-su thay vì bằng phép lạ phục sinh của Giê-su.

Tác giả: Louis Sahagun - Nhật báo Los Angeles Times ngày 5 tháng 7 năm 2008.

Giữ đúng lời hứa với một người bạn là sẽ tóm tắt quan điểm của mình về đạo Thiên Chúa, Tổng thống thứ ba của nước Mỹ, Thomas Jefferson, đã tập họp cả bốn cuốn Kinh Thánh Tân Ước của Mát-thêu, Mác-cô, Lu-ca và Gio-an vào làm một, rồi dùng kéo cắt bỏ đi tất cả những đọan nói về phép lạ và những đọan mâu thuẫn nhau. Sau đó, ông cắt và dán những đọan còn lại với nhau trên những trang giấy trắng theo một nội dung mạch lạc chỉ còn trong 46 trang giấy nhỏ và dịch ra 3 thứ tiếng Pháp, Hy-lạp và La-tinh.

Năm 1813, trong một lá thư gửi từ tư thất ở Monticello đến (cựu Tổng thống) John Adams, Jefferson đã viết rằng “cuốn sách nhỏ tí” của ông đã được dựa trên những suy tư và trầm tưởng của suốt một đời. Theo ông thì cuốn sách nhỏ này chứa đựng “những luân thường đạo lý cao siêu và nhân đức nhất cho loài người.” Ông đặt tựa cho cuốn sách là “Cuộc đời và Đạo lý của Giê-su ở Na-da-rét“. Bạn bè của ông thì gọi cuốn sách này là “Kinh thánh của Jefferson”.

Đây có lẽ là biểu trưng đầy đủ nhất của quan điểm của vị Tổng thống thứ ba của nước Mỹ, và cũng là tác giả chính của bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ (Tuyên ngôn Độc lập 1945 của Việt Nam có chép một đoạn của bản này) về những điều hay ho về đạo đức trong Phúc âm và trong cuộc đời của Giê-su. Ông nói: “Tôi làm chuyện này cho riêng tôi sử dụng bằng cách cắt bỏ ra khỏi Kinh Thánh từng đọan một và sắp xếp lại các sự kiện chắc chắn là thuộc về Giê-su mà ai cũng thấy một cách dễ dàng như nhìn một viên kim cương trong bãi cứt trâu...”

Vài bản sao của cuốn sách bọc da nho nhỏ này, đang nằm trong thư viện Huntington ở San Marino (Nam California), đến ngày nay vẫn còn làm kinh ngạc các học giả chuyên nghiên cứu về mối liên hệ đa dạng giữa những vị Cha già lập quốc của dân tộc Mỹ và cuốn sách thiêng liêng nhất của thế giới Tây Phương.

Theo bà Lori Anne Ferrell, giáo sư lịch sử cận đại và văn chương của viện Đại học Claremont, câu hỏi quan trọng nhất là: “Ai có thể tưởng tượng được phản ứng của quần chúng sẽ như thế nào nếu chúng ta biết được vị Tổng thống của nước Mỹ đã dùng kéo cắt bỏ nhiều đoạn trong Kinh Thánh rồi dán những đoạn còn lại với nhau trên giấy và nói ‘Tôi chỉ tin những đoạn dán trên giấy này’?”

Giáo sư Ferrell là tác giả cuốn sách sắp xuất bản “Kinh Thánh và Dân Gian” trong đó bà cũng có đề cập đến cuốn Kinh Thánh của Jefferson này. Bà nói tiếp: “Jefferson là sản phẩm của thời đại của ông ta. Nhưng ông là người cuối cùng mà tôi muốn cùng đọc kinh chung. Jefferson là người nghi ngờ tôn giáo nhiều nhất trong số các vị Cha già lập quốc của dân tộc Mỹ.”

Một thí dụ trong cuốn Kinh Thánh của Jefferson là Giê-su vẫn được quấn trong tã sau khi sinh ra ở thành Bết-Lê-Hem. Nhưng không có đoạn nói về các thiên thần thông báo cho các du mục rằng đêm ấy sẽ có một đấng cứu rỗi được sinh ra. Jefferson giữ lại đọan Giê-su bị đóng đinh trên thập tự giá nhưng chấm dứt cuốn sách bằng cái chết chứ không bằng sự sống lại của Giê-su.

Dẹp bỏ những phép lạ trong cuộc đời của Giê-su là một trong những công việc đại quy mô của một người với một đầu óc nổi tiếng là năng động. Năm 71 tuổi, Jefferson đọc cuốn “Nền Cộng Hòa” (“Republic”) của Plato bằng tiếng nguyên bản Hy Lạp và đã phê bình cuốn này là đáng chán.

Theo ông Robert C. Ritchie, Giám đốc Nghiên cứu của Tổ chức W.M. Keck tại thư viện Huntington, thì vì Jefferson vốn là một nhà khoa học nên ông đã dùng mủ tươi của những gia súc bị bệnh làm thuốc chích ngừa bệnh đậu mùa cho vợ con ông và những người nô lệ trong trang trại của ông.

Ông Ritchie cũng nói: “Đối với nhiều người, lấy kéo mà cắt Kinh Thánh là một hành động phạm thánh ít ai dám làm, nhưng điều này cho ta thấy được tầm nhìn của Jefferson đối với Kinh Thánh. Ông coi đó không như những lời huyền khải mà chỉ là một cuốn sách in thường ai cũng cắt bỏ được.” Jefferson là một người cao ráo và cường tráng. Ông thích đọc tác phẩm của các tác giả cổ điển về chiến tranh và chính trị như Thucydides và Cicero hơn là đọc các nhật báo.

Trong thế kỹ 18, ông không phải là lãnh tụ duy nhất có những thắc mắc về kinh điển Thiên Chúa giáo. Cũng như George Washington và những trí thức thuộc giai cấp thượng lưu của nước Mỹ cộng hòa, Jefferson là một nhà thần luận (deist).

Nhà thần luận khác với người theo đạo Thiên Chúa ở điểm họ không tin ở những phép lạ và những điều tiên tri. Những nhà thần luận chấp nhận khái niệm một vũ trụ có trật tự được Thượng Đế sáng tạo nhưng vị Thượng Đế này không nhập thế mà đã xuất thế vào cảnh siêu việt. Thần luận đã bị chỉ trích là một cố gắng để hòa hợp tôn giáo với những tiến bộ của khoa học một cách lộn xộn. Với những nhà duy lý của Thời đại Ánh Sáng thì thần luận là một trong những lý thuyết chủ trương giải phóng nhân loại ra khỏi tình trạng mà họ coi là mê tín dị đoan.

Người mà Jefferson đặc biệt thán phục là Joseph Priestley, một khoa học gia kiêm Linh mục và cũng là bạn của chính ông. Priestley - người khám phá ra dưỡng khí và sáng chế ra nước cacbonat và tẩy bằng cao-su – là một tác giả của nhiều sách nổi tiếng vì chỉ trích nặng nề những phép lạ trong Kinh Thánh. Jefferson đặc biệt thích những so sánh của Priestley về cuộc đời và lời dạy của Socrates và Giê-su. Những thảo luận và thư từ trao đổi giữa Jefferson và một người bạn khác ở Philadelphia, bác sĩ Benjamin Rush, đã gợi hứng cho Jefferson hoàn thành “cuốn sách nhỏ tí” của ông. Trong một lá thư gửi ông Rush ngày 21 tháng Tư năm 1803, ông viết công việc kiểm duyệt Kinh Thánh của ông là một kinh nghiệm để ông thử xem có thể gạn lọc được những lời đạo đức của Giê-su ra khỏi những thêm thắt vào đạo Thiên Chúa trong hai ngàn năm sau đó.

Jefferson đã viết cho ông Rush: “Dĩ nhiên là tôi chống lại những gì thối nát trong đạo Thiên Chúa và hoan hô những lời dạy thật sự của chính Giê-su.” Vì vậy, ông Ritchie đã nói: “Đối với Jefferson, Kinh Thánh chỉ là một cuốn sách mà ta có thể giữ gìn hoặc sửa đổi.”.

Cuốn Kinh Thánh của Jefferson chỉ được lưu hành trong một số bà con và bạn bè cho đến năm 1904 mới được phát hành công khai theo lệnh của Quốc hội Mỹ. Đã có khoảng 9,000 cuốn sách này được xuất bản và phân phối tại Thượng viện và Hạ viện Mỹ. Ngày nay, nhiều ấn bản của cuốn sách này đã được bày bán trong các tiệm sách. Người ta cũng có thể đọc Kinh Thánh của Jefferson này qua các ấn bản điện tử. Một trong những ấn bản đó thuộc Jefferson Monticello,www.monticello.org/library/links/jefferson.html...

Không ai biết được là Jefferson sẽ buồn hay vui khi thấy sách này được xuất bản công khai như vậy ngày hôm nay. Ông đã từng tuyên bố: “Đừng nói gì về tôn giáo của tôi. Đây là điều riêng cho tôi và Thượng Đế của tôi mà thôi. Hãy nhìn vào cuộc đời của tôi để thấy mức độ tu tâm tích đức của tôi; nếu những hành hoạt của tôi là lương thiện và nghiêm túc đối với xã hội thì hẳn nhiên là tôn giáo của tôi không đến nổi tệ.”

Tu chính án số I của Hiến pháp Hoa Kỳ Con người là động vật có tư tưởng. Trong tình huống nào đó, tư tưởng bị giam bó, đời người lập tức biến thành kiếp vật. Nhận thức được vai trò trọng yếu của tư tưởng, nhà làm luật của Hoa Kỳ đã hình thành Tu Chính án số I, có hiệu lực từ ngày 15-12-1791. Tu chính án đó như sau:

"Quốc Hội không làm luật để tôn xưng sự khai lập một tôn giáo, hoặc ngăn cấm sự tự do hành đạo, hoặc hạn chế tự do ngôn luận, hoặc tự do báo chí, hoặc quyền của người dân được hội họp trong hòa bình và quyền yêu sách chính phủ về việc sửa sai những bất công".

Về phương diện văn phạm, Tu Chính án số I là một câu viết rất gẫy gọn gồm 45 chữ (Anh ngữ). Trong cái gẫy gọn kia, các quyền tự do sau đây được xác định và tôn vinh:

Tự do tôn giáo và tự do hành đạo 

- Tự do ngôn luận 

- Tự do báo chí 

- Tự do hội họp 

- Tự do yêu sách chính phủ

(Các loại tự do ghi trong Tu Chính án Số I được gọi chung là quyền tự do tư tưởng).

Hiến pháp Hoa Kỳ là bản hiến pháp thành văn đầu tiên trên thế giới, ban hành từ năm 1787, cho đến nay chưa hề có một cuộc chính biến nào hủy bỏ Hiến pháp này, mà chỉ có những sự bổ sung vào bằng 27 Tu chính án của Hiến pháp (tính đến năm 1992). Một Tu chính án phải trải qua thủ tục đặc biệt: biểu quyết với đa số 2/3 của tổng số Thượng và Hạ nghị sĩ Quốc Hội Liên Bang và sau đó, giới thiệu về các Tiểu bang phê chuẩn với đa số 3/4 tổng số Quốc hội của 50 Tiểu bang, cuối cùng Tổng thống ban hành thì Tu chính án mới có hiệu lực.

TÓM TẮT

Tổng thống Jefferson đã loại ra những gì tạp nhạp mà người ta thêm thắt vào trong Kinh Thánh, và đã giữ lại những tinh túy của giáo lý đức Ki Tô truyền dạy để làm ra cuốn “The Life and Morals of Jesus of Nazareth”, sau này được gọi là Jefferson Bible.

Nếu ta biết làm như Thomas Jefferson, ta có thể học hỏi và thừa hưởng được từ bất cứ truyền thống tâm linh nào, và vì vậy ta không còn chống đối hay kỳ thị một truyền thống nào khác, trái lại ta có thể giúp cho việc thanh lọc được truyền thống của chính ta và giúp cho các bạn của những truyền thống khác thanh lọc được chính họ.

Ví dụ học Phật, ta có thể đem áp dụng tứ diệu đế, bát chánh đạo, tam pháp ấn, tứ niểm xứ, v.v… vào đời sống hàng ngày của ta. Ta không cần phải tin những chuyện như thái tử Siddhartha sinh ra từ phía hông phải của hoàng hậu Ma-gia và khi mới sanh đã có thể bước đi 7 bước và tuyên bố: ‘Trên trời dưới đất chì có mình ta là tôn quý hơn cả.’ Ta có thể cho những chi tiết ấy là không quan trọng, là do đời sau thêm thắt vào. Còn khi đọc Phúc Âm, ta cũng chỉ cần học những đạo lý mà đức Ki Tô dạy trong đời sống hàng ngày và trong cách tiếp xử, mà không bắt buộc phải tin rằng đức Maria là mẹ đồng trinh, rằng Thượng Đế có hình dáng con người, nắm hết quyền quyết định và thưởng phạt…

Thái độ cởi mở và bao dung này đưa tới sự xây dựng tình huynh đệ, xóa bỏ mọi kỳ thị và đây là công tác căn bản cho hòa bình thế giới.

Tham khảo: Tài liệu trên Internet và sách Tuổi trẻ, Tình yêu, Lý tưởng của Thích Nhất Hạnh

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 05.04.2014.