Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






PHỐ CỔ HỘI AN







Vị trí và xu thế Hội An trong lịch sử

   Thị xã Hội An hiện nay gồm 3 phường, 6 xã trên đất liền và 1 xã hải đảo, cách thành phố Đà Nẵng 30km về phía Đông Nam, trên bờ bắc sông Thu Bồn, ở vĩ độ 15,54' (Bắc) và kinh độ 108,20' (Đông). Diện tích là 61km2, dân số 81, 200 người. Quần thể di tích lịch sử - văn hoá phố cổ Hội An được xếp vàp hạng mục di tích quốc gia (tháng 3/1985).
   Hàng trăm di tích có giá trị lịch sử - văn hoá với 80% công trình kiến trúc ở nội thị trong một không gian đô thị cổ đa dạng, hỗn hợp nhiều loại hình: đình - chùa - hội - quán - miếu - lăng – nhà ở - nhà thờ tộc - cầu, giếng - mộ táng và các di tích khảo cổ còn đang được bảo tồn. Những kết quả khảo cổ, những di tích, di chỉ được khai quật chứng minh: Đây là loại hình tiêu biểu về đô thị - thương cảng từng có thời gian dài, không những đóng vai trò thương cảng quốc tế, mà còn là trung tâm hội nhập, giao tiếp văn hoá quan trọng.
   Nằm trên bờ bắc cửa sông Thu Bồn - con sông dài nhất Quảng Nam – Đà Nẵng, cũng là một trong những con sông lớn nhất miền Trung Việt Nam, Hội An chính là điểm "hội thủy" của hệ thống lưu vực rộng lớn sông ngòi, và tất yếu trở thành điểm hội tụ tàu thuyền, hàng hoá, sản vật của khu vực nội địa.
   Hội An lại thông ra biển Đông bằng Đại Chiêm Hải Khẩu (Cửa Đại), cách 15km trước mặt là điểm dừng chân không thể thiếu được trong các hành trình hàng hải quốc tế xuyên qua biển Đông.Phía tây Hội An là khu di tích Trà Kiệu, Mỹ Sơn và vùng Amaravâti của Chăm Pa, đi sâu thêm vào là vùng thổ sản: trầm hương, quế, hồ tiêu là những mặt hàng nổi tiếng trao đổi tại Hội An, con sông Thu Bồn nối duyên hải với trung du và thượng du... đó là những yếu tố thiên nhiên đã đóng góp không nhỏ trong thời kỳ du nhập và giao lưu văn hoá.
   Với vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi trên con đường thương mại quốc tế và nhờ chính sách ưu đãi ngoại thương của các chuá Nguyễn ở Đàng Trong, cho nên nhiều thương gia đã nhanh chóng trở bên giàu có và nhiều người trong số đó đã xây dựng nhà cửa khang trang, tạo dựng các công trình kiến trúc công cộng nổi tiếng tại Hội An.

Hội nhập và giao lưu thời sơ sử

Những di tích, di chỉ khảo cổ học trong những cuộc khai quật mấy chục năm nay trên địa bàn vùng Hội An cho thấy: Với niên đại cách nay khoảng 2,000 năm, chủ nhân của người vùng nầy đã có quan hệ giao lưu với những vùng lân cận và bên ngoài. Điều nầy đã được xác nhận do sự tiếp xúc, gần gủi và trùng khớp giữa một số hiện vật trong các di tích, di chỉ ở Hội An với các thể loại di tích, di chỉ cùng loại, cùng niên đại ở vùng trung du và vùng rừng núi xứ Quảng, cùng với số lượng lớn của những hiện vật gồm có: tiền đồng, đồ gốm, đồ trang sức, mà hầu hết có nguồn gốc hay mang phong cách Trung Quốc và Ấn Độ.
Về nhân văn học, tục chôn cất người chết trong những chum gốm vốn xuất hiện rất phổ biến tại những quốc gia thời cổ đại vùng Đông Nam Á hải đảo cũng như lục địa cũng đã tìm thấy tại Hội An với mật độ khá dày. Những loại "mộ chum" như thế hay cùng chung thể loại cũng đã tìm thấy ở Tabhin, Đại Lãnh, Quế Lâm, những vùng đồi núi hay trung du của đất Quảng. Sự gần gủi trong tục chôn cất người chết, những đồ tùy táng cho thấy: đã có sự khởi đầu trong quan hệ giao lưu văn hoá giữa vùng rừng núi, trung du và duyên hải, với nội địa và hải đảo.

Hội nhập và giao lưu thời cổ đại và trung đại

Cho đến thời kỳ Chăm Pa (thế kỷ II đến thế kỷ XIV), thì yếu tốgiao lưu - hội nhập văn hoá nầy mới định hình rõ nét hơn. Với vị trí nằm trên trục hàng hải nối liền các các trung tâm mậu dịch Đông Tây, là cửa ngõ thông thương với bên ngoài của miền Amaravâti, vốn nổi tiếng với các đặc sản quý: vàng, trầm hương, quế, hồ tiêu, sừng tê, tơ lụa, nước ngọt, để mua lại vàng bạc, gấm vóc, đồ trang sức, thủy tinh, gốm.

Những phát kiến mới

Những phát kiến gần đây cho thấy: Vùng đất Kẻ Chàm, Cửa Đại Chiêm, Chiêm Bất Lao, Pulo Ciam... từ lâu trở thành những địa chỉ hấp dẫn đối với thương thuyền xuất phát từ Địa Trung Hải, Trung Cận Đông, Ấn Độ và Trung Quốc. Những thương thuyền này đã mang đến ở tại cảng đô thị Hội An những yếu tố văn hoá mới có nguồn gốc từ các vùng đất xa xôi.
Tại khu di chỉ Bãi Làng - Cù Lao (Chiêm Bất Lao, Chiêm Bích La), đã tìm thấy những mảnh gốm Islam nằm chung trong tầng văn hoá với đồ gốm Chăm Pa, đồ gốm sứ Trung Quốc đời Đường, đồ thủy tinh dân dụng và trang sức nhiều màu, trong đó, một số có nguồn gốc Nam Ấn. Một di chỉ vùng ven sông khác thời Chăm Pa tại Hội An (Bầu Đà, Trảng Sỏi) cũng đã phản ảnh về sự giao lưu văn hoá với bên ngoài, mà bằng chứng cụ thể là sự có mặt một số lượng lớn các hiện vật có nguồn gốc từ Trung Quốc, Ấn Độ và một số vùng khác ở Đông Nam Á.
Những chứng tích nầy cho thấy: Trước khi vào các trung tâm chính trị và tôn giáo của người Chăm Pa ở phía tây của Hội An (Trà Kiệu, Mỹ Sơn) các thương thuyền ngoại quốc đã ghé cảng Hội An, và ở đây, quá trình giao lưu hội nhập văn hoá đã diễn ra khá sâu sắc.Từ năm 1989, các nhà khảo cổ học đã phát hiện tại lòng đất Hội An 2 loại tiền đồng Trung Quốc là tiền Ngũ Thù (Tây Hán, thế kỷ II trước Công Nguyên) và tiền Vương Mãng (Đông Hán, thế kỷ I).
Phát hiện nầy đã nói lên rằng: Vào thời trước hay sau Công Nguyên, ngành kinh tế ngoại thương đã manh nha hình thành tại vùng sông nước Hội An. Trong khai quật, đã tìm thấy những chiếc vò sành có in những ô vuông theo kiểu "Kỷ hà ấn văn đảo", một kiểu hoa văn phổ biến thời Lục Triều Trung Quốc (thế kỷ III).
Kết quả của những công trình khảo cổ và khai thác những vùng nói trên, đã minh định rằng: Trước khi vào các trung tâm văn hoá, chính trị và tôn giáo của người Chăm Pa ở phía Tây Hội An (Mỹ Sơn, Trà Kiệu), các thương thuyền nước ngoài đã ghé qua cảng thị Hội An- và chính tại đây, quá trình giao lưu hội nhập văn hoá đã diễn ra khá mạnh mẽ; hiện tượng nầy mang tính phổ biến đổi các cảng thị nói chung (như Phố Hiến, Thanh Hoá, Phú Xuân, Nha Trang, Gia Định, Vũng Tàu...)

Giao lưu Chàm - Việt

Từ thế kỷ XV, hình thái và diện mạo văn hoá Hội An đã phong phú thêm lên. Giai đoạn nầy đã có bước chuyển hoá với sự hội nhập của các yếu tố văn hoá Việt, do các tộc người từ Đàng Ngoài mang vào. Như thế, quá trình giao lưu Chăm - Việt, Việt - Chăm đã diễn ra khá sâu sắc tại Hội An. Những di tích về tín ngưỡng, một số vị thần của người Chăm Pa (Ấn Độ Giáo) cũng đã được người Việt tiếp tục và tổ chức thờ cúng tại đây.
Ngoài ra một số phong tục, tập quán, những kinh nghiệm về ngành nghề, kỹ thuật hàng hải, từng bước cũng được chuyển giao cho những cư dân mới tại Hội An. Trong thời kỳ nầy, các thương thuyền Trung Quốc, Ả Rập, Ba Tư... đã từng ra vào hải khẩu Đại Chiêm để trao đổi hàng hoá, sản vật với cư dân Chăm Pa. Từ nguồn hàng hoá đa dạng, phong phú được bán mua, trao đổi tại Hội An, nhà bác học Lê Quý Đôn đã viết: "Hàng hoá ở đây không có thứ gì là không có, nhiều đến nổi trăm chiếc tàu to lớn chở cùng một lúc cũng không thể hết được".

Sản phẩm

Trong thời Cham Pa, với tư duy hướng biển tích cực và với những phương tiện kỹ thuật đi biển khá tiến bộ, người Cham Pa đã xây dựng nơi đây thành một thương cảng, một Lâm Ấp Phố xây dựng thịnh đạt. Thương thuyền Trung Quốc, Ả Rập, Ba Tư... đã từng vào Đại Chiêm Hải Khẩu để trao đổi hàng hoá, sản vật với người Cham Pa.
Một số thương thuyền khác ghé đến Hội An để mua lương thực, nước ngọt uống, trên tuyến đường từ Ả Rập, Ấn Độ, Đông Nam Á sang Trung Quốc, và ngược lại. Những khai quật khảo cổ học gần đây tại Trảng Sỏi, Cù Lao Chàm đã cung cấp thêm những chứng cứ vật chất cho những nhận định trên đây. Còn cư dân bản địa thì chuyên bán những loại: trầm hương, ngàvoi, sừng tê, đồi mồi, tơ lụa, nước ngọt... để mua lại vàng bạc, gấm vóc, đồ trang sức, đồ thủy tinh, đồ gốm với kiểu dáng và phong cách mới.
Cho đến ngày nay, ở Hội An, ngoài việc hiện tồn hàng chục giếng Chàm vẫn luôn tinh khiết, các nhà khảo cổ học cũng đã phát hiện khá nhiều đồ thủy tinh màu có nguồn gốc Nam Ấn và di tích những mảnh gốm sản xuất từ Trung Quốc. Đó là hàng trăm mảnh gốm thời Đường (thế kỷ VII-X), được sản xuất từ các lò gốm nổi tiếng như Việt Châu (Triết Giang), Hình Châu, Định Châu (Hà Bắc), Tượng Âm, Trường Sa (Hồ Nam), Quảng Đông... Ngoài ra, còn có loại gốm Islam men xanh lam, với phong cách đặc trưng của khu vực Trung Đông ở thế kỷ IX-X.
Theo các nhà khảo cổ học trong và ngòi nước, tính đến nay, Hội An là nơi tìm thấy số lượng gốm Islam nhiều nhất Việt Nam.Qua những chứng liệu kể trên cho thấy: trong thời Chiêm Cảng - Lâm Ấp Phố, nhất là trong những thế kỷ IX-X, Hội An đã thể hiện đậm nét sự hội nhập gốm quốc tế, dù cho lúc đó nền mậu dịch hàng hải chưa mấy phát triển.
Trên bình diện văn hoá, sự giao lưu nầy đã tạo nên một sắc thái mới, mang tính nhân văn hơn, sâu sắc hơn và khai phóng hơn. Có thể tìm thấy điều nầy trong Gia Phả của một tộc người Hoa, gốc Quảng Đông cư trú tại Hội An có chép như sau: -" Tại địa phương Hội An và Hoa Phố buôn bán dễ dãi, sưu thuế nhẹ nhàng, nam canh, nữ chức, tục mỹ phong thuần, khiến cho lòng khách viễn phương đều muốn kiết cư lập nghiệp ở đây".
Đoạn trên đây trích trong Gia Phả tại nhà thờ tộc Châu người Hoa, số nhà 298 đường Cường Để, phường Sơn Phong. Những tư liệu Gia Phả khác cũng có nội dung tương tự.
Trong "Bản Tường Trình về sứ mạng mới với Vương Quốc Đàng Trong" (sau nầy đăng lại trong BAVH), giáo sĩ Chrisforo Bori, đến Hội An năm 1618, đã ghi lại cảm nghĩ của mình về cư dân Hội An – Đàng Trong như sau: (...) "Họ đến gần chúng tôi từng đoàn, hỏi chúng tôi cả ngàn câu hỏi, mời chúng tôi ăn với họ, tóm lại, cư xử với tất cả sự lịch thiệp, thân tình và văn minh... Vì lẽ, tính tình vui vẽ, lịch thiệp tự nhiên, vì tập quán dễ dàng này mà có được một sự hoà hợp toàn hảo giữa họ; họ cư xử thân tình như là anh em trong một nhà cả, trước khi họ gặp và biết nhau. Một người bị xem là hèn mạt, đáng chê trách, khi ăn một cái gì dù ít đến đâu nữa là không chia cho những người chung quanh mỗi người một miếng nhỏ. Bản năng tự nhiên của họ là tử tế, ưa làm điều thiện, nhất là đối với người nghèo, những người nầy không bao giờ bị từ chối khi kêu gọi sự giúp đỡ. Từ chối họ sẽ là thiếu bổn phận, như pháp luật, luân lý buộc họ phải làm như vậy. Kết quả là mỗi lần có vài kẻ đắm tàu không thể tự cứu sống trong một hải cảng Đàng Trong cho dù không biết tiếng địa phương, chỉ họ được một lời: "Doij".
Từ giao tiếp đến truyền đạo, các giáo sĩ Tây Phương đến Hội An đều cảm thấy dễ dàng, thoải mái trong ứng xử và thực hiện bổn phận của mình. Từ thế kỷ thứ XV, cùng với thời kỳ Phục Hưng của các nước Tây Âu, người Việt đã đến khi thác vùng đất Hội An, để rồi sau đó ít lâu, đã biến vùng cửa sông, ven biển vùng nầy trở thành cảng thị lớn lao bậc nhất của Đàng Trong - Việt Nam và khu vực.
Niên đại:
Trong thời gian gần đây, những nghiên cứu di vật và những phân tách bằng Phóng xạ Các-bon C.14 được ghi nhận: Niên đại các khu mộ chum, trong đó có các loại hình dao có chuôi hình vành khăn Tây Hán (111 trước Công nguyên đến 25 sau Công Nguyên).
Như vậy, niên đại sớm nhất của những khu mộ táng văn hoá Sa Huỳnh ở Hội An là khoảng thế kỷ IV-III trước Công nguyên và kết thúc là khoảng thế kỷ I sau Công nguyên. Những sưu tầm hiện vật Sa Huỳnh ở Hội An thể hiện cơ cấu kinh tế Nông Chài - Thương Lâm của cư dân cổ Hội An. Đặc trưng riêng của văn hoá nầy (những đồng tiền Ngũ Thù, Vương Mãng, rồi Qua, Dao kiểu Tây Hán tìm thấy ở Hội An) do tính chất sông biển và nhờ vị trí thuận lợi cho việc giao lưu văn hoá qua lại của Hội An thời đó.
Những nhà sử học trong khi nghiên cứu vấn đề nầy khẩng định: Vào giai đoạn "bản lề" (trước và sau Công Nguyên), nhiều điạ điểm cửa sông, ven biểu ở Hội An đã là nơi sầm uất về thương mải, văn hoá. Đây là tiền đề cho sự hình thành cảng thị sơ khai của nhũng tiểu quốc từ những thế kỷ đầu Công nguyên, trở nên hưng thịnh của những cảng thị trên con đường giao thương quốc tế ven biển ở thế kỷ IX và X.

Hội An: thời trung, cận đại

Hội An vào thời trung cận đại thật sự là cửa ngõ đón nhận các yếu tố văn hoá mới từ ngoài vào, đồng thời, cũng là nơi mở cửa ra để vùng đất nầy tham gia hội nhập với trào lưu phát triển kinh tế - văn hoá chung trong khu vực và toàn vùng Đông Nam Á.
Giao lưu và hội nhập văn hoá tại Hội An trong thời kỳ nầy diễn ra khá sâu sắc, rõ nét, với sự gia nhập mạnh mẽ của các yếu tố văn hoá từ Trung Quốc, Nhật Bản và các nước Tây Âu (Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh, Pháp...) Thực tế nầy đã diễn ra trước hết ở quan hệ trao đổi hàng hoá và các sản phẩm văn hoá.
Di tích và hiện vật:
Tại vùng biển Cù Lam Chàm hiện đang ẩn dấu một con tàu ngoại quốc chứa đầy những sản phẩm gốm Hải Dương đã không may bị đắm cách đây khoảng 400 năm. Dựa vào lượng lớn hiện vật do ngư dân quanh vùng tình cờ vớt được và năm 1998 người nước ngoài tham gia hợp đồng để trục vớt trên 300,000 hiện vật, có thể nhận ra đây là những mặt hàng gốm được sản xuất chủ yếu tại lò Chu Đậu vào thế kỷ XVI.
Các thương thuyền nước ngoài đến Hội An không chỉ mang đến hay mang về sản vật địa phương, vũ khí, nguyên liệu, hương liệu, mà trong đó còn có cả những tân thư, kinh sách, những thành tựu kỹ thuật, những sản phẩm văn hoá của các quốc gia khác. Gần đây nhất, cuộc thám sát khảo cổ bổ túc ở khu vực di chỉ Bãi Làng ngoài Cù Lao Chàm đã phát hiện loại sứ Islam, sứ Nguyên, gốm Chàm, Kendi (ấm có vòi), sứ Heiden.

Hội An: Vùng trung chuyển

Những cuộc khai quật khu di tích, di chỉ Hội An cho thấy:(1) Ở lớp dưới, tồn tại một vài loại hình gốm thô gia dụng, mangđặc trưng loại gốm thô Sa Huỳnh, đồng thời cũng đã thấy xuấthiện nhiều loại gốm và hiện vật khác (hạt cườm, hạt chuỗi), thể hiện mối giao lưu văn hoá mới, đặc biệt là giao lưu với Trung Hoa và Ấn Độ. (2) Ở lớp trên, chất kiệu gốm thô chiếm ít hơn, nhưng tỉ lệ lớn nhất là loại gốm Chàm mịn màu đỏ nhạt, đỏ vàng, đồ sứ từ một số lò đúc ở Nam Trung Hoa như Trường Sa, Việt Châu, Tây Thôn.
Loại gốm thuộc dòng men Islam có niên đại thế kỷ IX. Ở Cù Lam Chàm, còn khai quật được nhiều gốm Islam, bên cạnh những đồ thủy tinh có nguồn gốc từ Trung Cận Đông. Loại nầy cũng tìm thấy trong những đợt khai quật ở vùng Ko Kho Tho, tỉnh Phangnga và Laem Pho, tỉnh Suratthani (Thái Lan).
Điều nầy cho thấy: Vùng Đông Nam Á là nơi giao lưu văn hoá quan trọng với Bắc Á và Trung Đông.Một trong những sản phẩm giao lưu hàng hóa là gốm, từ những xuất xứ khác nhau. Qua khai quật nhiều nơi, dấu tích từ trong lòng đất về những loại hàng nầy chính là những thông tin quan trọng nhất.
Hầu như trong 10 phường, xã, với tổng diện tích hơn 60 vây sốvuông, đâu đâu cũng tìm thấy gốm của nhiều nơi trong nước vàngoài nước. Các triều đại của Trung Quốc, từ Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh... thời nào cũng có rất nhiều gốm du nhập Hội An.
Có những địa điểm, những di chỉ xuất hiện dầy đặc gốm Trung Quốc như khu phố cũ, Bàu Đà, Bãi Làng (Cù Lao Chàm), nhất là trong các thế kỷ IX-X và XII-XIII. Tại những địa điểm nầy, có sự góp mặt của gốm Việt Châu, Định Châu, Trường Sa (thế kỷ IX-X) gốm Quảng Đông, Trường An, Long Tuyền (thế kỷ XII-XIII), gốm Phước Kiến, Cảnh Đức Trấn (thế kỷ XVI-XVIII); đặc biệt là những loại gốm của thời kỳ "Minh mạt - Thanh sơ" (thế kỷ XVI-XVII) đã được những đoàn thương nhân Trung Quốc mang đến rất nhiều đến Thương cảng Hội An để trao đổi.
Ngoài di tích của hàng vạn mảnh vỡ của những phế phẩm lấy được từ lòng đất, lại còn lưu lại những bộ sưu tập gốm nổi tiếng (như bộ sưu tập của ông Thái Tế Sùng (80 đường Nguyễn Thái Học) có thể xem là một bảo tàng gốm giá trị nhất của Hội An, mà du khách thường đến để chiêm ngưỡng.
Sẽ thiếu sót trong lãnh vực nầy, néu không đề cập đến sự góp mặt của một loại gốm nổi tiếng: Gốm Heizen của Nhật Bản. Gốm Heizen đã được các nhà khảo cổ học của trường Đại học Nữ Chiêu Hoà (Nhật Bản) và các chuyên viên địa phương phát hiện năm 1993, gây tiếng vang lớn trong giới khảo cổ Nhật.
Theo họ, loại gốm Hizen nầy được những thương gia Nhật mang theo sang Hội An để dùng chứ không để trao đổi hàng hoá như các loại khác. Đến tham Bảo Tàng Gốm Hội An, chúng ta sẽ nhận diện rõ 12 chiếc gốm Heizen với phong cách khác nhau. Qua nhũng chứng liệu đó, Hội An vốn đã tập trung được thể loại gốm của Islam, Trung Quốc, Nhật Bản, lại có thêm gốm Thái Lan (thế kỷ XV-XVII), gốm Pháp (thế kỷ XVII-XIX). Còn về gốm trong nước, cũng đã tìm thấy gốm Phước Tích (Huế) gốm Gò Sanh (Bình Định), gốm Chu Đậu, gốm Hải Dương, gốm Đồng Nai.
Nhiều nhà nghiên cứu thường dùng đến từ "Con đường gốm" để chỉ nơi tập trung gốm dày đặc và đa dạng tại đây. Hội An là nơi "trung chuyển" gốm từ nước ngoài đến nhiều quốc gia trên thế giới, cũng như các như cảng Kinh Kỳ, Phố Hiến ở Đàng Ngoài, Quy Nhơn, Gia Định ở Đàng Trong. Và qua con đường trung chuyển nầy, gốm Việt Nam đã được tìm thấy ở 32 địa danh và Viện Bảo Tàng trong vùng Đông Nam Á, tại 7 thành phố Nhật, tại Fustat (Ai Cập), tại bán đảo Sinai, tại Viện Bảo Tàng Louvre (Pháp) tại Viện Bảo Tàng Istamil (Thổ Nhĩ Kỳ)...
Về văn hoá:
Các nhà nghiên cứu và điền dã đã tìm thấy trong các chùa cổ Chúc Thánh, Vạn Đức, Phước Lâm hàng trăm bản gỗ in kinh Phật, có niên đại từ thế kỷ XV đến XIX, trong số có một số bản ghi niên hiệu các triều vua Trung Quốc; điều nầy chứng tỏ đã được người Trung Quốc nhập vào Hội An.
Những tài liệu văn hoá cũng là một trong số các mặt hàng từ Trung Quốc chở đến Hội An, rời từ nơi đó đã toả đi đến các điạ phương khác. Các thương nhân người Hoa (lúc nhiều nhất đã lên đến 6,000 người) và các thương nhân người Nhật (khoảng 1,000 người) đã định cư, lập phố buôn bán tại Hội An, và họ chiếm thị phần đáng kể trên thương trường của cảng thị nầy, nên dấu tích mà họ lưu lại khá đậm nét.
Về tư trào canh tân: Về sau, Hội An cũng là một trong những nơi đã tiếp nhận những tân thư đến từ Nhật, Pháp, Trung Quốc, để chuyển cho các thành viên của phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân và những nhà cải cách khác thời cận đại. Cùng với việc trao đổi hàng hoá, sản phẩm văn hoá, lại còn là trao đổi kỹ thuật và kinh nghiệm ngành nghề khác.
Đây cũng là một hình thức giao lưu và hội nhập văn hoá. Người Nhật, người Trung Hoa, người Tây Âu tại Hội An đã học được ít nhiều ở người Việt dân gian, kỹ thuật đi biển, dệt vải, nấu đường mía... và ngược lại họ cũng đã truyền bá cho cư dân bản địa các kinh nghiệm về đóng tàu, chế biến hải sản, chế tại kim hoàn, đúc đồng, y dược... Những tài liệu lịch sử và du kýcủa các nhà truyền giáo Tây Phương từng nói nhiều về những điều nầy.
Về tôn giáo: Cùng với các thương nhân đến Hội An, lại còn có những giáo sĩ Thiên Chúa Giáo, tăng sĩ Phật Giáo vào truyền đạo, rồi từ Hội Antoả đi các địa phương khác của xứ Đàng Trong, khai triển phạm vi truyền bá giáo pháp. Về phương diện nầy, Hội An là một trong những mảnh đất gieo cấy đầu tiên của Thiên Chúa Giáo Đàng Trong, và cũng là đất phát khởi dòng Thiền Lâm Tế - Chúc Thánh ở Đàng Trong; Thiền phái hiện nay có nhiều ngôi chùa và tu viện ở nước ta cũng như ở nước ngoài.
Giáo sĩ Alexandre De Rhodes từng bước đã hoàn chỉnh việc "La tinh hoá" tiếng Việt. Vị giáo sĩ nầy đã trú ở một nhà thờ Thiên Chúa Giáo ở Hội An trong nhiều năm và một cậu bé người địa phương đã giúp ông trong việc phát âm các từ tiếng Việt ghi trong Tự Điển Việt Bồ La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum Latinum).
Về kỹ thuật:
Cùng với việc trao đổi hàng hoá, sản phẩm văn hoá, phải kể đến việc trao đổi kỹ thuật và những kinh nghiệm ngành nghề của những thương nhân và công nhân nưóc ngoài. Đây cũng là một trong những hình thức giao lưu - hội nhập văn hoá trong liên hệ nghề nghiệp và dịch vụ thương mải hai bên.
Người Nhật, người Trung Hoa, người Tây Âu đến Hội An trong những thời điểm khác như đã học được ít nhiều cách chữa bệnh dân gian, kỹ thuật đi biển, dệt vải, nấu đường mía... Đối lại, chính họ cũng đã truyền bá cho cư dân bản điạ các kinh nghiệm về cách đóng tàu theo phương thức và kỹ thuật mới, cách chế biến hải sản, chế tác kim hoàn, đúc đồng, y dược.
Điều nầy dần dà thay đổi cách nhìn và cách làm của những cư dân trong hội nhập văn hoá.

Giai đoạn suy thoái của Hội An

Từ đầu thế kỷ XVIII, sông Hội An và các vụng Trà Nhiêu, Trà Quế bị lấp cạn dần; thuyền máy hơi nước tải trọng lớn ra vào bất tiện, nên dần dà Hội An phải nhường bước cho Đà Nẵng. Nơi đây trở thành cảng thị quốc tế chính của miền Trung. Vào nửa cuối cuả thế kỷ XVIII, đô thị cổ Hội An đi dần và suy thoái. Nguyên nhân chính là chiến tranh Tây Sơn - Trịnh và TâySơn - Nguyễn.
Theo tài liệu của những thương nhân và giáo sĩ châu Âu đến Hội An trong cuộc chiến 1773, mức độ tàn phá của chiến tranh nầy rất nặng nề. Đến Hội An vào cuối tháng 8 năm 1778, M. Chapman đã ghi trong Nhật Ký Hành Trình của mình như sau: "... Ngày 30 đến Hội An, thành phố nầy bị chiến tranh tàn phá gần hết, chỉ còn trơ trọi những mảng tường cháy nham nhở... Hội An xưa là nơi đô hội, nhà cửa bằng gạch ngói san sát nhau, đường đi lát đá, nay chỉ còn thấy một sự đổ nát mà không ngăn nỗi kinh dị. Nhà cửa nay còn một ít tường bao quanh mà thôi. Đằng sau những bức tuờng ấy, trước kia là lầu quỳnh, gác ngọc; ngày nay chủ nhân chỉ trú ẩn trong các lều bằng phên tre..." (Relation d'un voyage en Cochinchine en 1778 - tome XXIII - 1948).
Năm năm sau cuộc tàn phá đó (1780), Ch. Maybon đến Hội An cho biết: "... Không còn tìm thấy dấu vết gì của những nhà cửa lợp ngói trước kia, ngoài vài mảng tường bị đốt cháy. Toàn bộ các nhà cửa, phố phường bị san phẳng và phá hủy đến tận chân móng..." (Người Âu Châu ở Việt Nam -Khoa Sử- Đại Học Tổng Hợp, Hà Nội).
Hậu quả nặng nề của chiến tranh còn kéo dài, gần 20 năm sau, J. Barrow khi đến vùng nầy thì chỉ còn thấy: "...Những xóm làng đổ nát đến phải thất vọng; xóm làng to lớn nhất ngày trước thì cũng chỉ còn khoảng 100 nhà bằng tre. Ở đây đã trải qua một cơn gió bụi, nhìn lại, chỉ còn thấy vết tích hoang tàn của những kiến trúc vốn đẹp đẽ và rộng rãi xưa kia. Nơi nầy, trước kia là những tường thành của những công thự, những hào lũy, nay chỉ còn vài dấu vết còn sót..." (A voyage to Cochinchina in the years 1792-1793).
Về vai trò quan trọng của giao lưu văn hoá trong mọi thời kỳ, giáo sư Hà Văn Tấn (Viện Khảo Cổ Học) viết: Nhũng yếu tố văn hoá nội sinh hội nhập cùng với những yếu tố văn hoá ngoại sinh. Những yếu tố văn hóa ngoại sinh từ những thế kỷ trước Công nguyên đã có sự thay đổi về chất và được tăng cường hơn vào những thế kỷsau Công nguyên. Hội An với tính chất cửa ngõ giao lưu sông biển của mình là nơi tiếp xúc mạnh mẽ của văn hoá và cũng là nơi tiếp thu, thu nhận đầu tiên nhiều yếu tố ngoại sinh. Chính những điều kiện nầy đã làm cho văn hoá Sa Huỳnh và Chàm cổ khu vực Hội An mang tính chất tiên phong thực sự trong diễn biến văn hoá và lịch sử của mình.

    Cảnh quan phố cổ Hội An (Theo Wikipedia)
    Phố cổ Hội An là một đô thị cổ nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, thuộc vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam, Việt Nam, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 30 km về phía Nam. Nhờ những yếu tố địa lý và khí hậu thuận lợi, Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, nơi gặp gỡ của những thuyền buôn Nhật Bản, Trung Quốc và phương Tây trong suốt thế kỷ 17 và 18. Trước thời kỳ này, nơi đây cũng từng có những dấu tích của thương cảng Chăm Pa hay được nhắc đến cùng con đường tơ lụa trên biển. Thế kỷ 19, do giao thông đường thủy ở đây không còn thuận tiện, cảng thị Hội An dần suy thoái, nhường chỗ cho Đà Nẵng khi đó đang được người Pháp xây dựng. Hội An may mắn không bị tàn phá trong hai cuộc chiến tranh và tránh được quá trình đô thị hóa ồ ạt cuối thế kỷ 20. Bắt đầu từ thập niên 1980, những giá trị kiến trúc và văn hóa của phố cổ Hội An dần được giới học giả và cả du khách chú ý, khiến nơi đây trở thành một trong những điểm du lịch hấp dẫn của Việt Nam.
    Đô thị cổ Hội An ngày nay là một điển hình đặc biệt về cảng thị truyền thống ở Đông Nam Á được bảo tồn nguyên vẹn và chu đáo. Phần lớn những ngôi nhà ở đây là những kiến trúc truyền thống có niên đại từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, phần bố dọc theo những trục phố nhỏ hẹp. Nằm xen kẽ giữa các ngôi nhà phố, những công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng minh chứng cho quá trình hình thành, phát triển và cả suy tàn của đô thị. Hội An cũng là vùng đất ghi nhiều dấu ấn của sự pha trộn, giao thoa văn hóa. Các hội quán, đền miếu mang dấu tích của người Hoa nằm bên những ngôi nhà phố truyền thống của người Việt và những ngôi nhà mang phong cách kiến trúc Pháp. Bên cạnh những giá trị văn hóa qua các công trình kiến trúc, Hội An còn lưu giữ một nền văn hóa phi vật thể đa dạng và phong phú. Cuộc sống thường nhật của cư dân phố cổ với những phong tục tập quán, sinh hoạt tín ngưỡng, nghệ thuật dân gian, lễ hội văn hóa vẫn đang được bảo tồn và phát triển. Hội An được xem như một bảo tàng sống về kiến trúc và lối sống đô thị.

    Kiến trúc đô thị

    Khu phố cổ

    Khu phố cổ nằm trọn trong phường Minh An, diện tích khoảng 2 km², với những con đường ngắn và hẹp, có đoạn uốn lượn, chạy dọc ngang theo kiểu bàn cờ. Nằm sát với bờ sông là đường Bạch Đằng, tiếp đó tới đường Nguyễn Thái Học rồi đường Trần Phú nối liền với Nguyễn Thị Minh Khai bởi Chùa Cầu. Do địa hình khu phố nghiêng dần từ Bắc xuống Nam, các con đường ngang Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Hoàng Văn Thụ và Trần Quý Cáp hơi dốc dần lên nếu đi ngược vào phía sâu trong thành phố. Đường Trần Phú xưa kia là con đường chính của thị trấn, nối từ Chùa Cầu tới Hội quán Triều Châu. Vào thời Pháp thuộc, đường này được mang tên Rue du Pont Japonnais, tức Phố cầu Nhật Bản. Ngày nay, đường Trần Phú rộng khoảng 5 mét với nhiều ngôi nhà không có phần hiên, kết quả của lần mở rộng khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Hai con đường Nguyễn Thái Học và Bạch Đằng hình thành muộn hơn, đều do bùn đất bồi lấp. Đường Nguyễn Thái Học xuất hiện năm 1840, sau đó được người Pháp đặt tên là Rue Cantonnais, tức Phố người Quảng Đông. Đường Bạch Đằng ra đời năm 1878, nằm sát bờ sông nên xưa kia từng có tên gọi là Đường Bờ Sông. Nằm sâu về phía thành phố, tiếp theo đường Trần Phú là đường Phan Chu Trinh, con đường mới được xây dựng thêm vào khoảng thời gian sau này. Trong khu phố cổ còn nhiều đường hẻm khác nằm vuông góc với đường chính kéo dài ra đến tận bờ sông.
   Đường Trần Phú là con đường chính, nơi tập trung nhiều nhất những công trình kiến trúc quan trọng, cũng như những ngôi nhà cổ điển hình cho kiến trúc Hội An. Nổi bật nhất trong số này là các hội quán do người Hoa xây dựng để tưởng nhớ đến quê hương của họ. Nếu bắt đầu từ Chùa Cầu, sẽ thấy năm hội quán trên đường Trần Phú, tất cả đều bên số chẵn: Hội quán Quảng Đông, Hội quán Trung Hoa, Hội quán Phúc Kiến, Hội quán Quỳnh Phủ và Hội quán Triều Châu. Ở góc đường Trần Phú và Nguyễn Huệ là miếu Quan Công, di tích đặc trưng cho kiến trúc đền miếu của người Minh Hương ở Việt Nam. Ngay sát miếu về phía Bắc, có thể thấy Bảo tàng Lịch sử - Văn hóa Hội An, nguyên trước đây là ngôi chùa Quan Âm của dân làng Minh Hương. Bảo tàng văn hóa Sa Huỳnh và Bảo tàng Gốm sứ Mậu dịch cũng nằm trên con đường này. Theo đường Trần Phú, đi qua Chùa Cầu sẽ dẫn tới đường Nguyễn Thị Minh Khai. Những ngôi nhà truyền thống ở đây được tu bổ và bảo tồn rất tốt, phần lối đi bộ hai bên được lát gạch đỏ, phía cuối đường là vị trí của đình Cẩm Phô. Phía Tây đường Nguyễn Thái Học có một dãy phố được hình thành bởi những ngôi nhà có kiến trúc mặt tiền kiểu Pháp, còn phần phía Đông là khu phố mua bán nhộn nhịp với những ngôi nhà kiểu hai tầng, diện tích lớn. Bảo tàng Văn hóa Dân gian Hội An nằm ở số 33 của con đường này là ngôi nhà cổ lớn nhất khu phố cổ, có chiều dài 57 mét, chiều ngang 9 mét. Trong mùa mưa bão, đường Nguyễn Thái Học và khu vực xung quanh thường bị ngập lụt, dân cư phải sử dụng thuyền để đi mua sắm và đến các quán ăn. Khu phố phía Đông phố cổ từng là khu phố của người Pháp. Trên đường Phan Bội Châu, dãy phố phía Tây được xây dựng san sát những ngôi nhà với mặt đứng kiểu châu Âu, đa số một tầng. Nơi đây từng là nhà ở của các công chức dưới thời Pháp thuộc.

    Kiến trúc truyền thống

    Kiểu nhà ở phổ biến nhất ở Hội An chính là những ngôi nhà phố một hoặc hai tầng với đặc trưng chiều ngang hẹp, chiều sâu rất dài tạo nên kiểu nhà hình ống. Những vật liệu chính dùng để xây dựng nhà ở đây đều có sức chịu lực và độ bền cao do đặc điểm khí hậu khắc nghiệt và bão lụt hàng năm của vùng này. Thông thường, các ngôi nhà có kết cấu kiểu nhà khung gỗ, hai bên có tường gạch ngăn cách. Khuôn viên trung bình của các ngôi nhà có chiều ngang khoảng 4 đến 8 mét, chiều sâu khoảng 10 đến 40 mét, biến thiên theo từng tuyến phố. Bố cục mặt bằng phổ biến của những ngôi nhà ở đây gồm: vỉa hè, hiên, nhà chính, nhà phụ, hiên, nhà cầu và sân trong, hiên, nhà sau ba gian, vườn sau. Thực chất, nhà phố ở Hội An bao gồm nhiều nếp nhà bố trí theo chiều sâu và cấu thành không gian kiến trúc gồm 3 phần: không gian buôn bán, không gian sinh hoạt và không gian thờ cúng. Cách phân chia này phù hợp với mặt bằng hẹp và kết hợp nhiều công năng của ngôi nhà. Có thể nhận thấy đây là một sản phẩm kiến trúc mang tính văn hóa khu vực.
    Ở không gian nhà chính, hệ thống 16 cây cột phân bố 4 x 4 tạo thành phân vị chiều ngang và chiều sâu theo cấu trúc 3 x 3 gian, trong đó 4 cột trung tâm cao hơn hẳn các cột còn lại. Đây chính là không gian dành cho buôn bán với gian đầu từ đường vào là chỗ bán hàng, gian kế tiếp là kho hàng hóa được ngăn bằng vách, gian thứ ba bố trí nhà thờ quay mặt vào bên trong. Điểm đặc biệt này là một đặc trưng rất quan trọng của nhà phố Hội An, dù đôi khi cũng có trường hợp bàn thờ quay ra phía đường. Bên cạnh các nhà chính phổ biến dạng 3 x 3 gian, một số ít ngôi nhà khác có nhà chính rộng hoặc hẹp hơn, kiểu 3 x 2 gian hoặc 3 x 5 gian. Không gian tiếp theo nhà chính là nhà phụ, thường thấy ở những ngôi nhà hai tầng có chiều cao thấp. Khoảng không gian mở này vừa được tiếp nối với mặt đường, vừa tách biệt với những hoạt động buôn bán phía ngoài, lại có thể tiếp nhận ánh sáng của sân trời, được dùng làm nơi gia chủ tiếp khách. Nhà cầu và sân trong là không gian được chia hai phần theo chiều dọc, có kết cấu độc lập với nhà trước và nhà sau, mang chức năng chuyển tiếp. Phần sân trời được lát đá, trang trí bể nước, non bộ, cây cảnh, giúp ngôi nhà thoáng và hòa hợp với thiên nhiên hơn. Ngược lại, phần nhà cầu có mái nối liền nhà trước với nhà sau thành một cơ cấu liên tục, rất phù hợp với điều kiện khí hậu nhiều mưa và nắng nóng ở đây. Dù trong bất kỳ điều kiện thời tiết nào, mọi sinh hoạt trong nhà vẫn có thể diễn ra bình thường. Nhà sau là không gian sinh hoạt của cả gia đình, được ngăn buồng bằng các vách gỗ. Phía sau nhà sau còn một khoảng không gian nữa, dành cho bếp, nhà vệ sinh và các chức năng phụ khác. Đối với một ngôi nhà thông thường, không gian thờ cúng chỉ chiếm một phần nhỏ, nhưng luôn được dành riêng một vị trí quan trọng. Để các công năng buôn bán, vận chuyển hàng hóa, sinh hoạt không bị cản trở, ban thờ thường được chuyển lên gác lửng. Ở những ngôi nhà một tầng, ban thờ được đặt ở phần mái phụ của nhà trước hoặc trung tâm nhà sau. Trong những ngôi nhà hai tầng, toàn bộ tầng hai của nhà chính thường được dùng làm kho hàng và ban thờ cũng được bố trí ở tầng này.
    Những ngôi nhà ở Hội An hầu hết được làm theo dạng hai mái, đa số nhà chính và nhà phụ không chung một mái mà là hai nếp mái kế tiếp nhau. Rất ít trường hợp mái nhà chính phủ lên cả phần nhà phụ. Ngược lại, đa số nhà cầu được lợp theo kiểu bốn mái. Trên mặt bằng tổng thể thì nhà trước, nhà cầu và nhà sau được lợp bằng những mái riêng biệt. Ngói ở Hội An là loại ngói làm từ đất, mỏng, nung thô, mang hình vuông, mỗi cạnh khoảng 22 cm và có dạng hơi cong. Khi lợp, đầu tiên người ta xếp một hàng ngói ngửa lên và sau đó tiếp tới một hàng ngói úp xuống. Cách lợp này được gọi là kiểu lợp ngói âm dương. Khi lợp xong mái, các viên ngói được cố định bằng vữa, tạo thành những dải ngói nhô lên dọc xuôi theo mái, khiến toàn bộ mái toát nên một vẻ cứng cáp, mạnh mẽ. Ở trên đỉnh mái, phần nóc mái được xây cao lên hình chữ nhật như một cái hộp, cũng có một số trường hợp hai bên tường hồi cũng được xây cao hẳn làm cho toàn bộ tổng thể dường như bị mất cân đối. Hình thức và cách trang trí của tường hồi luôn gây một ấn tượng mạnh và là yếu tố tạo ra giá trị rất riêng của phố cổ Hội An.

    Các di tích kiến trúc

    Mặc dù phần lớn các ngôi nhà phố của Hội An ngày nay được hình thành vào thời kỳ thuộc địa, nhưng trong khu phố cổ vẫn gìn giữ được nhiều di tích phản ánh các giai đoạn lịch sử hình thành, hưng hịnh và suy tàn của đô thị. Các loại hình kiến trúc từ thế kỷ 16 đến đầu thế kỷ 18 thường mang chức năng có bản, bị tác động bởi nền kinh tế, yếu tố cảng thị của Hội An khi đó. Tiêu biểu cho giai đoạn này là những bến thuyền, giếng nước, chùa chiền, đền miếu, cầu, mộ, những nhà thờ tộc và các thương điếm. Từ thế kỷ 18, Hội An không còn vị trí thương cảng bậc nhất nữa. Thời kỳ này xuất hiện phổ biến những văn miếu, văn chỉ, đình, nhà thờ và đặc biệt là các hội quán. Qua sự phân bố, quy mô, hình thức, chức năng của các công trình kiến trúc, có thể thấy sự chuyển đổi của Hội An trong giai đoạn này. Thời kỳ Pháp thuộc, cũng như nhiều đô thị khác của Việt Nam, Hội An chịu ảnh hưởng sâu đậm của kiến trúc Pháp. Những ngôi nhà mang phong cách thuộc địa xuất hiện nhiều và tập trung trên một tuyến phố. Sự đan xen phong cách kiến trúc Pháp giữa những ngôi nhà cổ truyến thống là hệ quả của một lối sống phương Tây đã xuất hiện trong đời sống của cư dân Hội An. Các công trình thời kỳ này giữ được vẻ hài hòa trong ngôn ngữ kiến trúc, mềm dẻo trong trang trí, phù hợp với không gian đô thị, mang lại cho Hội An một dáng vẻ mới. Theo thống kê tháng 12 năm 2000, Di sản thế giới Hội An có 1360 di tích gồm 1068 nhà cổ, 11 giếng nước cổ, 38 nhà thờ tộc, 19 ngôi chùa, 43 miếu thờ thần, 23 đình, 44 mộ cổ loại đặc biệt và 1 cây cầu. Khoảng hơn 1100 di tích trong số này nằm trong khu vực đô thị cổ.

    Chùa, đền miếu

    Hội An từng là một trung tâm của Phật giáo sớm của Đàng Trong với đa số các ngôi chùa theo dòng Tiểu thừa. Nhiều ngôi chùa ở đây có niên đại khởi dựng khá sớm, nhưng hầu hết kiến trúc gốc đã bị thay đổi, thậm chí mai một qua những biến thiên của lịch sử và những lần trùng tu. Ngôi chùa sớm nhất được biết đến là chùa Chúc Thánh, tương truyền có gốc gác từ năm 1454, nằm cách trung tâm khu phố cổ khoảng 2 km về phía Bắc. Nơi đây vẫn lưu giữ nhiều di vật, tượng thờ, bia ký liên quan đến quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở Đàng Trong. Ngoại ô khu phố cổ còn nhiều ngôi chùa khác như Phước Lâm, Vạn Đức, Kim Bửu, Viên Giác... mang niên đại muộn hơn. Giai đoạn đầu thế kỷ 20 cũng là thời kỳ ra đời của nhiều ngôi chùa mới, nổi bật trong số này là chùa Long Tuyền hoàn thành vào năm 1909. Bên cạnh những ngôi chùa tách khỏi làng xóm, nằm ven những dòng chảy cổ, ở Hội An còn có các ngôi chùa làng gắn với những quần cư như một thành phần hữu cơ của tổng thể làng xóm. Điều này phản ánh giới tu hành gắn bó với thế tục và chứng tỏ Minh Hương Xã ở đây đã có một thiết chế văn hóa sinh hoạt cộng đồng khá mạnh. Trong khu phố cổ, Bảo tàng Lịch sử - Văn hóa Hội An nguyên trước đây là ngôi chùa thờ Phật bà Quan Âm do người Việt và người Minh Hương khởi dựng vào khoảng thế kỷ 17.
    Các công trình đền miếu ở Hội An mang chức năng chính là nơi thờ cúng các vị tiên hiền có công sáng lập phố, hội và Minh Hương Xã. Loại hình kiến trúc này thường có hình thức đơn giản, nằm ngay trong làng xóm, bố cục mặt bằng 1 x 3 gian tường gạch chịu lửa, mái ngói âm dương với ban thờ được đặt ở gian chính giữa. Tiêu biểu nhất cho loại hình kiến trúc này chính là miếu Quan Công, còn được gọi là Chùa Ông, nằm trong trung tâm khu phố cổ, số 24 đường Trần Phú. Công trình được người Minh Hương và người Việt khởi dựng vào năm 1653, thờ Quan Công, vị tướng nổi tiếng thời Tam Quốc, biểu tượng của trung hiếu, tiết nghĩa. Tuy đã qua nhiều lần trùng tu, miếu Quan Công vẫn không mất đi dáng vẻ ban đầu. Toàn bộ miếu bao gồm nhiều nếp nhà với các mái lợp bằng ngói ống men màu xanh lục, kết cấu gồm ba phần: tiền sảnh, sân trời và hậu sảnh. Ở phần tiền sảnh, công trình nổi bật với màu sơn đỏ, những trang trí cầu kỳ, mái ngói vững trãi và hai cánh cửa chính lớn chạm nổi đôi rồng màu xanh đang uốn mình trong mây. Hai bên, sát với tường là chiếc chuông đồng nặng trên nửa tấn và chiếc trống lớn đặt trên giá gỗ do vua Bảo Đại ban tặng. Tiếp đó đến phần sân trời, khoảng trống lộ thiên trang chí các hòn non bộ, tạo cho miếu vẻ sáng sủa, thoáng mát. Hai bên sân trời là hai nếp nhà dọc Đông, Tây. Một bia gắn vào tường nhà Đông ghi lại lần trùng tu miếu đầu tiên vào năm 1753. Chính điện nằm ở hậu sảnh, nếp nhà sau cùng, là nơi đặt hương án thờ Quan Công. Tượng Quan Công cao gần 3 mét, mặt đỏ, mắt phượng, râu dài, mặc áo bào màu xanh lục, tọa trên mình con ngựa bạch đang quỳ. Hai bên là tượng Quan Bình và Châu Thương, hai người con nuôi, cũng là hai võ quan trung thành của Quan Công. Trước đây, miếu Quan Công là trung tâm tín ngưỡng của các thương gia Hội An, nơi chứng giám, tạo niềm tin cho các thương gia trong những cuộc giao kèo thương mại. Ngày nay, vào ngày 13 tháng 1 và 24 tháng 6 âm lịch hàng năm, lễ hội Chùa Ông được tổ chức thu hút rất đông tín đồ và dân chúng tới dự.

    Nhà thờ tộc

    Tại Hội An, cũng như nhiều địa phương khác của Việt Nam, các dòng họ đều có nơi thờ cúng tổ tiên, được gọi là miếu tộc hay nhà thờ họ. Đây là một dạng kiến trúc nhà ở đặc biệt, của những dòng họ lớn có công lập làng dựng phố từ thời kỳ sơ khai của Hội An và truyền lại cho con cháu làm nơi thờ tự tổ tiên. Những dòng họ nhỏ, nhà thờ họ kết hợp với nhà ở của vị trưởng họ có nguồn gốc từ Trung Hoa.
    Hậu duệ về sau có trách nhiệm hương khói và tu sửa kiến trúc tùy theo tình trạng ngôi nhà. Phần lớn các nhà thờ họ tập trung ở khoảng giữa hai đường Phan Chu Trinh và Lê Lợi, một số ít rải rác trên đường Nguyễn Thị Minh Khai hay nằm ngay sau những ngôi nhà phố trên đường Trần Phú. Các nhà thờ tộc có niên đại sớm nhất hầu hết của người Hoa kiều, vào đầu thế kỷ 17, số có niên đại thế kỷ 18 chỉ chiếm một phần nhỏ. Khác với những nhà thờ tộc ở thôn quê, nhà thờ họ ở Hội An thường mang phong cách đô thị. Vì là nơi thờ tự nên nhà thờ tộc được xây dựng theo dạng khuôn viên, có bố cục và kết cấu chặt chẽ, bao gồm cả sân vườn, cổng, tường rào, nhà phụ... Nhiều nhà thờ họ ở đây có quy mô và kiến trúc rất đẹp, như nhà thờ tộc Trần, nhà thờ tộc Trương, nhà thờ tộc Nguyễn hay nhà thờ Tiền hiền Minh Hương.
    Nhà thờ tộc Trần nằm ở số 21 đường Lê Lợi, được xây dựng vào đầu thế kỷ 19. Cũng giống như các nhà tộc khác ở Hội An, nhà thờ tọa sâu trong một khuôn viên rộng khoảng 1500 m², tường cao bao quanh, sân trước trồng cây cảnh, hoa, cây ăn quả. Ngôi nhà có kiến trúc chịu ảnh hưởng từ Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam, dựng từ gỗ quý, 3 gian 2 nếp, mái dốc lợp ngói âm dương. Không gian trong nhà được chia làm hai phần, phần chính để thờ cúng, phần phụ là nơi ở của vị trưởng tộc và tiếp khách. Gian thờ cúng có ba cửa ra vào, trong đó cửa bên phải dành cho nữ, bên trái dành cho nam, cửa chính ở giữa dành cho những người cao tuổi có vai vế trong họ và chỉ mở vào dịp lễ tết. Trên bàn thờ, các hộp nhỏ đựng di vật và tiểu sử những người họ Trần xếp theo vai vế trong dòng tộc. Trong ngày lễ hay giỗ kỵ, vị trưởng tộc sẽ mở những hộp gỗ này để tưởng nhớ đến người quá cố. Phía sau ngôi từ đường có một vạt đất cao dùng để chôn những núm nhau của các thành viên trong tộc khi sinh ra. Cũng trên vạt đất này, phía sau còn trồng một cây khế, tượng trưng cho sự gắn bó với quê hương đất tổ của các thế hệ con cháu trong họ.

    Hội quán

    Một trong những đặc tính nổi trội của người Hoa là bất cứ nơi cư trú nào của họ ở ngoại quốc đều có các hội quán, sản phẩm sinh hoạt cộng đồng dựa trên cơ sở những người đồng hương. Tại Hội An ngày nay vẫn tồn tại 5 hội quán tương ứng với 5 bộ phận dân cư Hoa kiều lớn ở đây: Phúc Kiến, Trung Hoa, Triều Châu, Quỳnh Phủ và Quảng Đông. Các hội quán này có quy mô khá lớn, đều nằm trên trục phố Trần Phú và thống nhất hướng chính ra sông Thu Bồn.
    Về hình thức, các hội quán ở Hội An được xây dựng theo một nguyên mẫu các hội quán vẫn thường gặp ở những đô thị cổ khác. Đó là một tổng thể bao gồm: cổng lớn phía trước, tiếp đến một khoảng sân rộng có trang trí cây cảnh, non bộ và hai nhà phụ thờ Tả thần và Hữu thần, sau đó là phương đình, nơi tiến hành các nghi lễ, kết thúc bởi nhà thờ, kiến trúc lớn nhất của tổng thể. Các hội quán đều được trang trí cầu kỳ, tỷ mỷ với bộ khung gỗ được chạm trổ, sơn son thếp vàng, phần mái tô điểm các con thú bằng sành tráng men nhiều màu. Ngày nay, các hội quán tuy đã bị thay đổi sửa chữa nhiều, nhưng bộ khung gỗ vẫn bảo lưu được nhiều yếu tố gốc. Ngoài chức năng duy trì sinh hoạt cộng đồng, hội quán còn một chức năng quan trọng khác, đó là tín ngưỡng. Tùy theo tục quán tín ngưỡng của từng cộng đồng mà hội quán lấy cơ sở để thờ phụng.
    Trong năm hội quán ở Hội An, Phúc Kiến là hội quán lớn nhất, nằm ở số 46 đường Trần Phú. Buổi ban đầu, nơi đây chỉ là một ngôi chùa lợp tranh do người Việt dựng vào năm 1697 để thờ Phật. Qua thời gian, ngôi chùa bị hư hỏng và người Việt không đủ khả năng để sửa chữa. Những thương nhân Phúc Kiến mua lại ngôi chùa vào năm 1759 và sau nhiều lần trùng tu, năm 1792 đổi thành Hội quán Phúc Kiến. Công trình có kiến trúc theo kiểu chữ Tam, kéo dài từ đường Trần Phú đến đường Phan Chu Trinh, theo thứ tự: cổng tam quan, sân, hai dãy nhà Đông Tây, chính điện, sân sau và hậu điện. Cổng tam quan của hội quán mới được xây dựng trong lần trùng tu lớn đầu thập niên 1970. Chiếc cổng có một hệ mái ngoạn mục gồm 7 mái lợp ngói ống men xanh uốn lượn, xếp nối nhau thấp dần xuống, cân xứng giữa hai bên. Phía cao của cổng, dưới tầng mái trên, một tấm bảng trắng có ghi ba chữ Hán màu đỏ "Kim Sơn Tự". Phía dưới tầng mái dưới cũng có một tấm biển đá xanh đề bốn chữ Hán màu đỏ "Hội quán Phúc Kiến". Hai bức tường hai bên cổng tam quan ngăn cách sân trong của hội quán với một sân bên ngoài. Phần chính điện của hội quán được trang trí những cây cột màu đỏ son , treo những đôi liễn gỗ ca tụng Thiên Hậu Thánh Mẫu. Chính điện thờ tượng Quan Thế Âm Bồ Tát đang ngồi thiền, phía trước là một hương lớn. Hai bên hương án sẽ thấy hai bức tượng Thiên Lý Nhãn và Thượng Phong Nhĩ, hai vị thần phụ tá cho Thiên Hậu cứu giúp các thuyền buôn người Hoa gặp nạn. Tiếp theo chính điện, băng qua sân sau sẽ tới hậu điện. Ở đây phần chính giữa được dành để thờ sáu vị tướng nhà Minh người Phúc Kiến, bên trái là ban thờ 3 bà chúa Sanh Thai và 12 bà mụ, bên phải là ban thờ Thần Tài. Ngoài ra, hậu điện còn thờ những người đã có công đóng góp tiền của xây dựng hội quán và chùa Kim Sơn. Hàng năm, vào ngày 23 tháng 3 âm lịch, lễ vía Thiên Hậu Thánh Mẫu được người Hoa tổ chức với nhiều hoạt động như múa lân, bán pháo hoa, xộ cỗ, xin lộc... thu hút nhiều người dân Hội An và những vùng khác đến tham dự.

    Chùa Cầu

    Chiếc cầu cổ duy nhất còn lại ở Hội An ngày nay là Chùa Cầu, còn có tên gọi khác là Cầu Nhật Bản. Cây cầu này dài khoảng 18 mét, bắc qua một lạch nước nhỏ chảy ra sông Thu Bồn, nối liền đường Trần Phú với đường Nguyễn Thị Minh Khai. Theo sự tích kể lại thì Cầu Nhật Bản được xây dựng vào năm 1593, nhưng không có một cơ sở chính xác nào để khẳng định điều này. Trong Thiên Nam tứ chí lộ đồ năm 1630, cái tên "Hội An Kiều" và hình ảnh một cây cầu có mái đã xuất hiện. Nhà sư Thích Đại Sán cũng nhắc tới cái tên "Nhật Bản Kiều" trong cuốn Hải ngoại ký sự năm 1695. Trải qua rất nhiều lần trùng tu, hình dáng cây cầu đã bị thay đổi nhiều, dáng vẻ ngày nay được hình thành trong những lần sửa chữa vào thế kỷ 18 19. Những trang trí bằng mảnh sứ tráng men hay đĩa sứ là biểu hiện đặc trưng của kiến trúc thời Nguyễn.
    Cầu Nhật Bản có một kiến trúc khá độc đáo, kiểu thượng gia hạ kiều, tức trên là nhà dưới là cầu, một loại hình kiến trúc khá phổ biến ở những quốc gia châu Á nhiệt đới.[79] Dù mang tên Cầu Nhật Bản nhưng sau nhiều lần trùng tu, thật khó có thể tìm thấy một chút dấu tích kiến trúc Nhật Bản trên cây cầu này. Nhìn từ bên ngoài, cây cầu nổi bật nhờ hệ mái cong mềm mại nâng đỡ bởi một hệ thống kết cấu gỗ, và phần móng được làm bằng vòm trụ đá . Mặt cầu vồng lên kiểu cầu vồng, được lát ván làm lối qua lại, hai bên có bệ gỗ nhỏ, trước kia làm nơi bày hàng buôn bán. Gắn liền với cầu về phía thượng nguồn là một ngôi chùa rất nhỏ thờ Huyền Thiên đại đế, xây dựng sau cầu khoảng nửa thế kỷ. Ngôi chùa nằm ngay cạnh cầu, ngăn cách bởi một lớp vách gỗ và bộ cửa "thượng song hạ bản", tạo không gian riêng biệt. Trên cửa chùa treo bức hoành màu đỏ với ba chữ "Lai Viễn Kiều" do chúa Nguyễn Phúc Chu ban tặng vào năm 1719 với ý nghĩa cây cầu của những người bạn từ phương xa đến. Ở mỗi đầu cầu, hai bên lối đi đều có hai bức tượng thú, một bên tượng khỉ , bên kia tượng chó. Các tượng đều được chạm bằng gỗ mít trong tư thế ngôi chầu, phía trước mỗi tượng có một bát nhang. Theo truyền thuyết, con thủy quái Mamazu có đầu nằm ở Nhật Bản, đuôi ở Ấn Độ Dương và thân thì ở Việt Nam, mỗi khi cựa mình sẽ gây ra động đất, thiên tai, lũ lụt. Vì vậy những người Nhật đã xây dựng cây cầu cùng tượng Thần Khỉ và Thần Chó để trấn yểm con quái vật. Một thuyết khác cho rằng những bức tượng khỉ và chó xuất hiện trên cầu vì công trình này được khởi dựng vào năm Thân, hoàn thành vào năm Tuất. Cây cầu nhỏ này ngày nay đã trở thành biểu tượng của thành phố Hội An.


. Cập nhật theo nguyên bản chuyển từ HoaKỳ ngày 29.03.2014.