Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


NHỮNG DI SẢN VĂN HOÁ PHI VẬT

THỂ NHÀ MẠC THÔNG QUA NGHIÊN CỨU

THEN VỀ ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG




       1.Then là đặc sản văn hoá dân tộc

        Hát then, đàn tính là một sinh hoạt văn hoá dân gian phổ biến ở các dân tộc Tày, Nùng, Thái. Gắn bó với loại hình diễn xướng này là cây đàn tính, nó  nâng tiếng hát của then bay cao,vang xa. Thế nhưng, cũng như một số loại hình văn nghệ dân gian khác, then đang có nguy cơ mai một. Then được sinh ra dưới triều đại Mạc thời kỳ ở Cao Bằng. Then là sản phẩm của sự kết hợp giao lưu văn hoá  giữa miền xuôi và miền núi. Tuy nhiên trong nửa thế kỷ qua, hát then, đàn tính cũng trải qua những bước thăng trẩm cùng lịch sử. Trong một thời kỳ khá dài, “đặc sản” văn hoá tinh thần này không được nhìn nhận, đánh giá đúng giá trị.

        Nhắc tới then, nhiều người thường có suy nghĩ phiến diện, cho rằng, then là một sinh hoạt mê tín dị đoan. Đã có nhiều đợt vận động, cải tạo mo, then, thu sách ghi chép về các bài mo, đồ hành nghề của người làm mo,then và tổ chức giáo dục. Từ đó then ngày càng bị thu hẹp. Hiện nay những người làm then không còn  nhiều hoặc đã cao tuổi. Những làn điệu then cổ ít ai còn nhớ và biết hát. Theo thống kê thì hiện nay các tỉnh có nhiều đồng bào tày, Nùng sinh sống như Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, số nghệ nhân then nhiều nhất chưa quá ba chục người, độ tuổi từ 50 trở nên chiếm tỉ lệ rất cao. Hiếm hoi mới có nghệ nhân dưới 30 tuổi. Ngay cả Cao Bằng, một trong những địa bàn có hơn 40% số dân là đồng bào Tày, theo bà Nông Thị Thanh Tâm, Phó chủ tịch UBND tỉnh: “số lượng nghệ nhân hát then cổ cả tỉnh còn chưa đầy 20 người. Hầu hết tuổi cao sức yếu. Số nghệ nhân trẻ chỉ hát các bài then mới, không biết diễn xướng then, một phần do then cổ không được lưu giữ đó mất đi nhiều. Hơn nữa, học diễn xướng then rất khó và cần có thời gian quan tâm”. Chính vì vậy mà sinh hoạt then trong dân gian bị coi nhẹ, việc truyền dạy ít người được chú ý. Có chăng chỉ bó hẹp trong phạm vi gia đình vốn có truyền thống say mê nghệ thuật hát then. Mặt khác do xã hội ngày càng phát triển, sự tác động ồ ạt của văn hoá ngoại lai cũng làm lớp trẻ xa rời văn hoá nghệ thuật của dân tộc mình. Nghệ nhân , Hoàng Nừng, 68 tuổi một trong những nghệ nhân hát then cổ hiếm hoi ở Yên Bái tỏ ra sốt ruột: “Bụng người già buồn lắm, khi thấy bọn trẻ con phát âm tiếng mẹ đẻ còn chưa chuẩn, nói gì đến hát then. Thanh niên trong xã hội chỉ thích nghe nhạc hiện đại thôi. Chúng bảo đàn tính mỗi điệu pưng pưng, nghe thật chán”.

        Về mặt quản lý, ngành văn hoá chưa có chủ trương, biện pháp nào mang tính chiến lược nhằm bảo tồn, phát huy loại hình nghệ thuật này, chỉ có một số người có tâm huyết tự bỏ tiền túi, quỹ thời gian của mình ra để sưu tầm, nghiên cứu. Nhà nghiên cứu Lê Quang Tăng, 69 tuổi nhiều năm đi hát then và hiểu rõ văn hoá then. Ông là người tích cực biết dạy con cháu mình phải gìn giữ bản sắc dân tộc, dành nhiều thời gian dịch các bài hát then từ tiếng Nôm Tày sang chữ quốc ngữ, để con cháu học dễ dàng hơn. Ông Tăng chia sẻ : “Sách có, đàn có. Tôi sẵn sàng truyền dạy hát then, đàn tính cho lớp trẻ. chỉ buồn là không mấy thanh niên mặn mà theo học, trong khi đó, chúng tôi ngày một già đi” . Nghị quyết trung ương 5 của Đảng đã vạch ra  hướng bảo tồn vốn quý trong kho tàng văn hoá nghệ thuật truyền thống của các dân tộc. Then được xác định là một di sản văn hoá càn được chân trọng và bảo tồn, phát huy và phát triển phù hợp với giai đoạn hiện nay.

        Mốc quan trọng đầu tiên trong việc bảo tồn và phát huy nghệ thuật hát then là Liên hoan nghệ thuật hát then – đàn tính toàn quốc lần thư nhất, do Bộ văn hoá – Thông tin phối hợp chủ trì với các tỉnh Đông Bắc, Tây Bắc và một số tỉnh ở Tây Nguyên tổ chức tại Thái Nguyên năm 2005, quy tụ được hơn 300 nghệ nhân , diễn viên. Những giai điệu then của các địa phương góp phần tôn vinh và khẳng định vị trí của hát then và đàn tính trong đời sống tinh thần đồng bào. Các diễn viên quần chúng khi quay trở về địa phương đó trở thành hạt nhân, là nòng cốt trong việc khơi dậy tinh thần đam mê hát then của bà con nơi mình cư trú. Sau liên hoan nghệ thuật hát then – đàn tính làn thứ nhất, Bộ văn hoá – Thông tin lúc đó đã có văn bản hướng dẫn, chỉ đạo ngành văn hoá – thông tin các địa phương sưu tầm và thống kê về di sản hát then – đàn tính, chỉ đạo một số địa phương xây dựng làm điểm về bảo tồn, phát huy nghệ thuật hát then, đàn tính. Hàng chục câu lạc bộ hát then, đàn tính ở các tỉnh ra đời ở các trung tâm thôn, bản và huyện. Việc truyền dạy trong các địa phương được chú ý với các hình thức tổ chức phù hợp như tại các cơ sở văn hoá - nghệ thuật trường lớp truyền dạy trong gia đình, dòng họ, các câu lạc bộ.

        Nếu như ở liên hoan lần thứ nhất, số lượng diễn viên trẻ tham gia khiêm tốn, khiến người làm tổ chức không khỏi lo ngại thì tại Liên hoan hát then -  đàn tính toàn quốc lần thứ 2 tổ chức tại Cao Bằng đó có những tiến bộ rõ rệt với sự tham gia của nhiều gương mặt trẻ của 20 đoàn nghệ thuật, của14 tỉnh, thảnh phố vớí gần 500 diễn viên. Nếu chỉ nhìn vào sự thành công của liên hoan lần này thật hơi sớm để tin tưởng hát then, đàn tính đó trở lại trong đời sống của lớp trẻ hiện nay nhưng hình ảnh ba cháu thiếu nhi đến từ Câu lạc bộ tài năng trẻ tỉnh Thái Nguyên, độ tuổi từ 7 đến 10 biểu diễn hát then, đàn tính một cách thuần thục đó gây xúc động nhiều khán giả. Đồng chí Vi Hồng Nhân, Phó Tổng thư ký hội văn học - nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam cho biết: “Đây là một làn gió mới thổi vào nghệ thuật hát then, là tín hiệu đáng mừng của việc lớp trẻ đã không còn thờ ơ với nghệ thuật đặc sắc của dân tộc mình. Thành công của liên hoan hỗ trợ rất nhiều cho công tác khảo sát, nghiên cứu hồ sơ để trình UNESCO công nhận hát then là di sản văn hoá thế giới.”

        Những nội dung chủ yếu

        Hát then là loại hát độc đáo của dân tộc Tày, Nùng, Thái, và được phổ biến rộng rãi trong dân gian. Những khúc trường ca hấp dẫn được dân gian đặc biệt ưa thích. Hát then khác với lượn then, lượn then ở miền Đông sử dụng trong hát giao duyên theo một bài bản có thứ tự từ ngoài làng vào đến nhà, lượt từ quý, lượn tích, cuối cùng là lượn kết và lượn tạm biệt. Còn hát then là sử dụng vào trong hát tâm linh, để khát cầu chờ một sự bình an thịnh vượng phải đi qua nhiều cửa cũng từ dưới đất lên đến mương trời.

        Hát then xuất xứ từ thời Mạc do hai nhà danh nhân văn hoá thời Mạc 1594-1677 sáng tác và phát triển đến đỉnh cao nghệ thuật của then, lượn. đó là Trị Thiên Quản Nhạc Bế Văn Phụng,làm quan chiêm tỉnh và trông nom việc lễ nhạc cho nhà vua. Quê ở xóm Bản Vạn, xã Bó Triều, huyện An Hoà ngày nay. Người thứ hai là Nông văn Noọng, biệt hiệu Nông Quỳnh Văn, hay là ông”Vua ca đảng”, quê ở xã Nga Ổ huyện Trùng Khánh. Vào năm 1594, vua Mạc Kính Cung đăng quang ở Cao Bằng, lập đế đô ở Nà Lữ. Năm 1604, vua Mạc Kính Cung đã xuất thân về xuôi đánh Lê - Trịnh nhằm khôi phục địa vị của vua cha. Nhưng ông đã bị quan Lê - Trịnh đánh bại, buộc trở lại Cao Bằng đế đô cũ. Từ đó vua Mạc Kính Cung bị ốm mắc bệnh trầm uất. Bao nhiêu danh y chữa cũng không khỏi. Bế Văn Phụng và Nông Quỳnh Văn đã bàn bạc với nhau, sáng tác ra khúc hát then để chữa bệnh cho nhà vua. Từ Thiên Quản Nhạc tổ chức một đoàn then nữ ở phía Tây tỉnh, “Vua ca đảng” tổ chức một đoàn then ở phái Tây tỉnh gọi là “giàng” vào biểu diễn trong cung vua, vua Mạc Kính Cung dần dần được hồi phục, từ đó các nam, nữ diễn viên được phân tán ra khắp nông thôn trở thành “hát then” truyền từ đời này sang đời khác.

         Cái hay của hát then là có nhạc đệm là cây đàn Tính, chân xóc nhạc, miệng hát có nhiều làn điệu khác nhau: Như Diệu Lưu Thuỷ (tàng nặm), Diêu Cao Sơn (tàng tốc) điệu kể lễ rất linh hoạt. Nội dung phong phú: Có đến 10 chuyên đề khác nhau, đây là một công trình văn hoá đồ sộ. Hát then trong lễ kỳ yên, hát then trong lễ cấp sắc, hát then trong đám tang, hát then trong lễ đầy tháng trẻ em, hát then đưa trẻ con chết yểu về trời, hát then trong cầu mùa, hát then trong đám cưới, trong cách biểu diễn, hát then vào nhà mới, hát then trong lễ thượng thọ, hát then trong hội đi én mùa xuân…

        Từ “hát then” mới có từ sau cách mạng tháng 8-1945. Từ đó các làn điệu hát then được sử dụng vào trong ca ngợi sản xuất, thành tích trong lao động, trong công cuộc cách mạng. Vốn xưa không gọi là hát then, dân gian thường gọi là “Bụt” xuất phát từ chữ “Phật” mà ra con năm giờ làm bụt gọi là “giàu”. Hai dòng này tuy gọi khác nhau, nhưng nói chung như nhau, thuộc về một môn phái gọi là Thánh Sư, tổ sư họ được truyền bá từ xuôi lên, còn bụt xói nhau thuộc về một môn phái gọi là “Bụt Nùng” xuất xứ ở phía Bắc xuống. Nên dân gian phân biệt rất rõ ràng. Ngày nay dân gian cũng xác định như vậy. Họ phân biệt hai môn phái rất khác nhau, bằng giọng điệu và nội dung và cách biểu diễn. Nùng sử dụng thầy tào nên phải ở phía bắc xuống để cấp. Sử dụng ngôn ngữ văn chương khác nhau: bụt Kinh dùng tiếng Tày, trái lại bụt Nùng dùng tiếng Nùng.

        2.Giá trị văn hoá nghệ thuật trong hát then: tạm thời rút ra sáu điểm

       - Giọng điệu hát then là một điệu hát độc đáo của dân tộc Tày ở vùng Cao Bằng và tỉnh miền núi phái Bắc. Nghe có sức truyền cảm hấp dẫn mãnh liệt, ngày trước ai đi xem hát then, thức hết đêm thâu, không biết buồn ngủ, không biết về người xem có thể thuộc một số đoạn hay. Khi về nhà, đi đồng áng lấy củi…vẫn nhớ như in.

       - Ca ngợi nhiều cảnh quan đẹp của thiên nhiên như: Rừng hoa - rừng có 100 loài chim - biển cả cảnh đẹp núi ngọc trai - sắc cầu vòng. Ông mặt trăng - cảnh tối - cầu vòng - rừng hoa - chuối ven suối – núi hoa - rừng ve sầu…

       - Nêu lên những bất công, bị đè nén, áp bức trong xã hội như: Bắt phu sương chèo thuyền, cảnh bị phạt từ của ông Bế Quỳnh Văn, bà nói về gốc tích truyện con ve sầu xưa vốn là một cô gái chồng bỏ, sống chung thuỷ với hàng xóm, ngoài thất tuần, khi chết làng xóm đưa vào rừng chôn biến thành con ve sầu. Sống theo kiếp luân hồi, tháng 3,4 biến cà muống, tháng 7,8 thành ve.

       - Nêu lên những gương dũng cảm, khắc phục khó khăn trong lao động sản xuất.

       Đoạn lên chín tầng núi Khan Cài - Khan Khắc:Phải vượt qua tầng đầy vắt kinh khủng, đoạn qua tầng rắn độc - đoạn qua tầng toàn rừng chăn gửi ăn thịt người áp mạn thuyền, quân sương đều vượt qua.

       Đoạn xuống Long Vương: đi qua cùng thuồng luồng sa mạ, qua nơi sóng dữ, những cột sóng cao tận toà nhà, qua những cung ác quỷ lấy cưa về sẻ người.


http://du-lich.chudu24.com/f/d/090421/lien-hoan-nghe-thuat-hat-then-dan-tinh-toan-quoc-lan-thu-ba-tai-bac-kan.jpg

       Hát then mang theo những khúc hát trữ tình, thu hút lòng người

       Bài hội én đi xuân là một tiết mục chuyên đề dùng cho trai, gái mùa xuân, tổ chức lấy bụt và giàng để đi én, đi hướng, bụt dẫn đi ngoạn cảnh đất nước đến núi Ngọc Trai, rừng hoa chuối. Để mỗi người được xin lộc, xem ai lấy được nhiều hoa chối rừng, và đi núi Ngọc Trai, lặn tìm ngọc, tìm trai. Qua hai nơi này đoán phúc phận cho từng người. Từ đó duyên được chắp nối qua trung gian gọi là “Bụt giang” qua hai ngày đêm, trai gái và cả làng xóm đến xem không biết chán. Từ hội én du xuân nhiều người đã thành đôi lứa, bài hái hoa trong lễ kỳ yên là một bài độc đáo, hay nhất trong lễ kỳ yên. Bụt dẫn qua rừng Đông Xuân đến vườn hoa, bụt… cho hết, đem về trời soát xét. Những chàng trai hoặc thiếu nữ thật tham lam, hái hết cả một rừng hoa, để gốc lại, hẹn xuân sang cỏ hoa mọc lại xin bái lần nữa.

       Hát then còn mang theo tính chất hài hước, tạo ra những truyện cười như:

       Truyện Ông Pú cấy trong lễ cấp sắc, là một người khổng lồ nằm ngan chắn cả một khu đồng nước mênh mông. Không ai bảo con người khổng lồ này được, Bụt cũng chịu. Sau đó sai “Khoá Quan” đóng giả một thiếu nữ xinh xắn rất đẹp. Đôi vú làm giả bằng giẻ rách, quả nhiên thiếu nữ này đi đánh thức, mới vùng dậy. Hai tay vớ lấy cái vú giả,cười khì khì, nước đông ruộng rút ra chảy ào ào, đoàn quân tiến lên thẳng đường mà hành tiến.

       Một số điểm chứng minh: ca ngợi cảnh quan tươi đẹp trông trời.

Lúc vạ căm đùi lếch gọn chuông

Lan vạ cam đùi nóng gọn tổng

Mọi vày gọn nẳn đọng sí phương

Dảo vần tắng thế gian phét.

Dịch

Con trời cầm dùi gỗ đánh chuông

Cháu trời cầm dùi dồng đánh trống

Mỗi lần gõ vang động bốn phương

Tạo ra cả thế gian sấm sét.

Qua chợ tam quang

San sít sốc hàng phố nguy nga

Lan cung điêu, lầu hoa, đài các

Bấu đảy mê hoa nguyệt, nguyệt hoa

Bấu đảy mê sao tơ bác miác

Tấy khửn chổn vọng bân

Vỏ vạ dưa thiên hạ hất kin

Buồn hạ vạ non khoang rủng khoái

Dảo lồm phân chuyên vận đảy màu

Dảo phan đét thuân hoa sư ti.

Dịch

Ba mươi sáu phố chợ nguy nga

Những cung điện, lầu hoa, đài các

Chớ mê, hoa nguyệt, nguyệt hoa

Chớ mê mài giá tơ ong bướm

Lên tít đỉnh trời cao

Ông trời giúp mọi nơi thiên hạ

Tháng 5 trời sáng rõ sớm hôm

Tạo mưa gió tuần hoàn trời đất

Được bội thu tấc đất tấc vàng.

 

                Bài hái hoa: đến rừng đông Hoàng hái lấy hoa về trời:

Hải an bióc tằng cáng, tằng co

Bióc sắng cốc tẻ mưa

Hoa sắng co tẻ khửn

Cốc mừn tả dú mừn lâm san

Hẹn phi nả dẻo phông vày mẩu.

Dịch

Hái lấy cả thân lẫn cành

Dọn lấy cả lá lẫn thân về trời

Gốc bỏ lại chơi vơi để đó

Học hặn gốc hối hả bước đi

Hẹn mùa sau trở hoa sẽ đến.

Bài hội én

Roong thâng én phích luông

Roong thẩng ương phích đảo

Lắp lắp tẻ bân rùa

Bân gặm phiêng phia là dá

Bân sung tẻ lộn lẵm

Lồng tắm tẻ lộn ca.

Dịch

Gọi đến én cánh vàng

Gọi đến én cánh tím

Vỗ cánh hãy bay về

Bay là là ngang núi

Bay cao kẻo lẫn diều

Bay thấp hơi lẫn quạ.

Đoạn cung trăng: Lên trời đến cung trăng chúc trăng:

Lội thâng chốn hai quang rủng chơi

Gò vỉ ai ước đuổi dồm hai

Việc quan nhằng càn lại hay thả

Đấn an khân đáo dạ thâng năng

Đấn an doản khân hương dọn noọng.

Dịch:

Vầng trăng vằng vắc sáng trong

Nói sao được thẳm nàng ngọc thỏ

Việc quan còn bận qua sao đang

Chiếc khăn đào dạ nàng xin tặng

Giải lụa vàng gửi tạm cho qua.

 

 

Loại lao động dũng cảm, khắc phục khó khăn. Bài lên núi Khan Khoái, Khan Cái, một quả núi có 9 tầng vốn gọi là Khan Khắc, Khan Cào. Lên núi Côn Sơn.

Tẩy quạn khửn khan luông khan khoái

Mưng lồng hăn những tất dăm tha

Muông khưn nưa hăn phia táp đán

Quây quây hăn vấn tẳng phia luông

Lồm vắt vảo quá nả moóc mây

Tú biách toỏng nài mười ca kén

Không nẩy mười vần phướng như thin

Nhẳm nây gàm phả mừng tốt rịu

Bấu lo râng vất vả phất khảm.

Dịch

Trẩy quân lên núi đèo khan khoái

Nhìn xuống là vách đứng mắt hoa

Trông lên trên ngàn xa sừng sững

Núi sát núi dựng dứng tai mèo

Gió lùa qua trước mặt mù mây

Nước đóng băng cả ngày lạnh ngắt

Bầu trời sương phủ hết khắp nơi

Hai chân và cả hai tay lạnh ngắt

Khó khăn quyết phải vượt không lui.

Qua đông đặc(qua rừng vắt)

Tằng gò chang đông đuốc liếc đang

Vãng vạn phấn mặt mèng chang ngãn

…Khửu khốp kha nhẳm vần đăm

Lúa nàng đẳm lồng đin đẵm đe

Síp tua kẻ mì đo

Khốp mần doong mọi tua bấu phuống

Bấu lao răng kha nhẳm khảm phây.

Dịch

Cổ thò cao ven suối ven đường

Nhiều như giống côn trùng vô vạn

Leo lên chân vòi bám dằng dai

Các nàng sợ chân tay bủn rủn

Có con nhỏ, con lớn, con vừa

Vòi hút máu ăn no bụng õng

Chẳng ngại gì thẳng tiến vượt qua.

Bài đi  Long Vương

Đám lông tu thuỷ tinh đãi ất

Khái nẩy khái ngưởi vắt bấu rằm

Mừng sí sướng nặm đăm như mực

Sam síp soong hò lẩu quá đai

Mẻ phia cải thiện khái trung giới.

Dịch:

Bước vào cung thuỷ tinh thứ nhất

Nơi thuồng luồng phun nước cản đường

Nhìn tứ bích mênh mông như mực

Ba mươi hai sắc nước đáy sâu

C… lấn áp vào càn quấy.

 

Lạo chống cường quyền áp bức:các quan bắt suông đi chèo thuyền.Bài bắt phu suông chèo thuyền:

Việc quan bấu dú đảy sắc hoằn

Se noọng dú đang thân gần đoóc

…Phun rọ thêm nhục khâu đang

Năm tha tốc lây lồng rày rạy

Phua sắng là mìa hảy bưởg lăng

Hoằn nẩy là việc căn cà rai

Mìa suông sắng mọi nội phất khâm

Năm tha lác như phân rày rạy

Phun sắng là mìa hay bưởng lăng

Bấn vạ vần răng hại đất.

Dịch

Việc quan không được ở một ngày

Bỏ lại nhà một người đơn độc

Lấy chồng thêm tủi nhục làm sao

Nước mắt rơi lệ trào thê thảm

Chồng dặn vợ vừa than vừa khóc

Hôm nay ngày tạm biệt chia tay

Bao nỗi buồn đắng cay u uất

Hai hàng lệ nước mắt chảy quanh

Chồng dặn vợ khóc than thê thảm

Trời đất ơi cay đắng nỗi này.

Bài săn ve sầu:ve sầu chính là một con gái bị ép tảo hôn, bỏ nhau,ở đến già, khi chết biến thành con ve sầu.

Kin khẩu chan nặm tha táng tón

Bấu ai phây rườn đản hất lùa

Vỏ me ép an phun hai quả

An phua rập phun mả vô duyên

Cảnh ép mèo kin kinh hại hát

Ngây mà nặm tha lai như phân

Sam síp hoằn hất nườn nàn quá

Vườn lai táng châm khô thân đang

Vạn sự rốp từ nan tại mỉnh

Vuồn lác khỏi phây lửn lâm san

Khản đông ngộ đảy vuồng bióc nguội

Cẩm thua khỏi kin thuổn vày đèo

Kin xong khoăn liệu khửn vẹ

Khoăn nâng mừa phật cả thích ca

Khoăn năng siêu lồng mừa thấp diện.

Dịch

      Ăn cơm trộn nước mắt thay canh

Ai muốn làm dâu con nhà nọ

Cha mẹ bắt ép gã đắng cay

    Lấy chồng gặp con người độc ác

Mèo ăn gừng bị ép ai hay

Một cuộc đời tràn đầy nước mắt

Ba mươi ngày một tháng bao dài

Một mình ngõ cùng ai than thở

Vạn sự tại mệnh số định rồi

Buồn quá vào rừng chơi cho thoả

Trông buồng hoa ngón nở sắc vàng

Nhắm mắt co nuốt song vài đoá

Hồn bay bỗng ngừng thở về trời

Một hồn bay về nơi phật cả

Một hồn về chập điệu diêm vương.

       3.Tác giả sáng tác các bài hát then,lượn nổi tiếng thời Mạc

       Bế Văn Phụng, và Nông Quỳnh Văn đã cùng cộng tác phát triển nội dung hát then có tới 10 chuyên đề,có cả then vui như: Then Bách Điển ca ngợi 100 loài chim, Then hội em dành cho trai gái trần hiền, Then cấp sức có một bộ trên 30 bài dùng cho khoá quan rất hấp dẫn…Hai nhà danh nhân văn hoá Bế Văn Phụng và Nông Quỳnh Văn đã bàn nhau giải toả tâm thần cho nhà vua, sáng tác ra 10 khoa hát then khác nhau, mỗi khoa có thể biểu diễn đến hai tiếng bằng một ngày một đêm ở quân nhạc tổ chức một đoàn Then nữ, ông Nông Quỳnh Văn tổ chức một đoàn then nam ở phía Đông Đĩnh. Hai đoàn then nam nữ vào biểu diễn trong cung vua. Đặc biệt là hai ông đã nâng cao loại  hát này, đưa cây đàn Tính vào đệm, sáng tác ra hai giọng điệu cơ bản, là Điêu Lưu Thuỷ, Điêu Cao Sơn và một số làn điệu khác đã chữa khỏi bệnh tâm thần cho vua.

       Hát then là một công trình sáng tác đồ sộ nhất của người Tày ngày nay sưu tầm lại, mỗi khoa Then là một công trình khoa nào dài nhất trên 200trang, khoa ít nhất dưới 50 trang giấy, và phân chia ra nhiều loại Then khác nhau. Tổng hợp lại vào ngàn trang giấy.

       Then vui: có then nén du xuân, dành cho nam nữ giao duyên tìm hiểu.

       Then Bách: diễn ca ngợi 100 loài chim – hát then trong cưới xin.

       Then cầu tứ, cầu mùa, lễ kỳ yêu - lễ mãn nguyệt - lễ vào nhà mới…

       Then các nghi lễ về tâm linh như lễ cấp sắc, riêng quyển sách khoa quan đến 400-500 trang.

       Then cầu mùa: cầu cho mưa thuận gió hoà – mùa màng bội thu.

       Then trong đám tang: dành riêng cho những người mất làm nghề tâm linh.

       Tác dụng và giá trị về mặt văn hoá nào của nó, hát then đã có tác dụng chữa bệnh cho nhà vua qua khỏi bệnh trầm uất. Cho đến ngày nay tồn tại qua nhiều đời hát then vẫn có sức hấp dẫn kỳ lạ, nhiều người hát then trong chữa bệnh cũng khỏi: Có xóm làng hát then. Dân gian không ai bảo ai, đến xem không biết về, quên ăn, quên ngủ.

       Tác phẩm của ông Nông Quỳnh Văn còn  chấn chỉnh, bổ sung tập “Lượn Then” ở miền đông tỉnh Cao Bằng. Có một hệ thống từ lượn chào, lượn mừng, lượn kết, lượn tứ quý, lượn cảnh quan, lượn đố, lượn tích, lượn tạm biệt… Đây cũng là một tác phẩm đồ sộ, có nơi lượn ba ngày đêm, quên ăn quên ngủ. Trong những khúc ca giao duyên, tình tứ, nhờ có những khúc lượn nhiều đôi hẳn đã thành vợ chồng, hạnh phúc đến đầu bạc răng long. Những nơi tình thiêng chung thật tuyệt vời, trong tìm hiểu nhau bằng lượn then.

       Một tác phẩm tuyệt tác nữa của Nông Quỳnh Văn là tập sách Hồng Nhan tứ quý. Có một thời gian ông phạm thượng với nhà vua. Ông bị phạt tù tội. Nhà vua biết ông là một nhà văn, bèn ra điều kiện: ông phải làm được bài thơ hay sẽ được thả ngay: chỉ trong 10 ngày nằm ở nhà tù ông đã viết tập thơ Hồng Nhan tứ quý khoảng 10 ngày sau đo ông sáng tác khúc lượn Hông Nhan tứ quý, và ông được tha tù ngay, với một tác phẩm 664 câu thơ đầy ấn tượng là Hồng Nhan tứ quý. Nội dung là lượn ca ngợi cảnh quan trong 12 tháng. Nhung nội tâm là: nói lên sự oan uổng , cảnh tù xa vợ con, người thân rất đau lòng, chữ Hồng Nhan ý nói là một cô gái đẹp, nhưng ám ảnh là hồng nhan bạc mệnh. Ông cho bản thân ông là người con gái sắc nước, hương trời. Thói thương ở đời chữ Hồng Nhan bao giò cũng đi đôi với chữ bạc mệnh, cũng như số phận của bản thân ông, rất giỏ về văn thơ nhưng lại bị tù tội bị oan uổng .

       Toàn bộ tác phẩm của Nông Quỳnh Văn chịu ảnh hưởng của nho giáo thời nhà Mạc và chứng minh rất rõ có pha tạp tiếng Kinh 30%. Nay còn văn bản chữ Nôm, Tày.

       4.Lượn Hồng nhan tứ quý

       Lượn hồng nhan tứ quý là một đoạn trong lượn then :giao duyên được phổ biến ở bốn huyện phía đông tỉnh Cao Bằng gồm các huyện:Quảng Hoà, Trùng Khánh, Hạ Lang, Trà Lĩnh. Mở đầu là lượn mừng bản, mừng nhà, mừng tổ tiên, chào các cụ già. Sau đó  chuyển sang lượn tứ quý xuân, hạ ,thu, đông, tứ quý tháng.Cứ bên trai lượn tháng riêng,bên gái lượn tả cảnh tháng hai, cứ như vậy mà lượn hết tháng 12 tiếp đó lượn tích, kể các truyện như: Nam Kim, Thị Đan, Tống Trân, Ngọc Hoa, Tích tam quốc, lượn cảnh nói: núi non, sông núi danh lam thắng cảnh, cuối cùng mới đến lượn kết, lượn tạm biệt. Bằng khúc tứ quý 12 tháng này để được đưa vào trong tập lượn then giao duyên trên.

      Vậy xuất xứ của nó từ đâu? Khúc Hồng Nhan tứ quý là do nhà văn hóa lớn Nông Văn Noọng tức Nông Quỳnh Văn, biệt hiệu là ông vua Ca Đáng quê ở xã Nga Ố, huyện Trùng Khánh, sinh thời vào thời nhà Mạc thời Mạc Kính Cung(1594). Ông là một danh nho người Tày, nổi danh ở đó. Đã cùng với nhà văn hoá Bế Văn Phụng biệt hiệu là Từ Thiên Quản Nhạc, đã dựng nền văn hoá hát then để chữa bệnh trầm uất cho vua Mạc Kính Cung khi thua trận, đưa đoàn then nam nữ vào biểu diễn trong kinh có hiệu quả. Văn thơ hai ông rất hay, xuất khẩu thành chương. Riêng ở miền Đông ông đã chỉnh biên, đưa những khúc lượn then ở miền Đông, đưa nhiều nội dung vào trong lượn giao duyên, trong lượn then của dân tộc Tày. Nay nhiều nơi còn giữ được bản chữ Nôm thời xưa còn ghi lại. Bản này sưu tầm với ông Thanh quê xã đức Long, huyện Hoà An, Nguyễn Văn Đề là :Hồng nhan tứ quý.

     Chữ hồng nhan là ý nói một cô gái rất đẹp, một hai nghiêng nước nghiêng thành, thường chỉ cho một người con gái là hồng nhan bạc mệnh, cũng như trong truyện Kiều vậy, trong tác phẩm này liên hệ với bản thân ông cũng là một người hồng nhan trong văn thơ. Song bạc mệnh vì số phận bị phạt từ vì oan uổng bất công, vì lý do này, lý do khác.

     Tác phẩm Hồng nhan tứ quý là một tác phẩm tình duyên, dùng cho con trai, con gái lượn trong lễ hội, trong đám cưới, đã được phổ biến rộng rãi ở miền Đông. Trong hệ thống truyện thơ ca Tày, chưa có một tác phẩm nào in sâu vào quần chúng như vậy. Một tác phẩm được quần chúng hoá, vào trong mọi sinh hoạt: Lễ hội, chợ búa, cưới xin, không phải dễ dàng, và tác phẩm nào đều đạt được như vậy.

     Tác phẩm Hồng nhan tứ quý thể hiện một công trình sáng tác dựa theo  truyện thật, người thật, ở một hoàn cảnh tác giả bị phạt tù xa, xa cách người yêu, khiến cho tác giả vận dụng vào hoàn cảnh  thực tiễn của mình rất sinh động.

     So với các tác phẩm của người Tày rõ ràng tác phẩm Hồng nhan tứ quý là vượt trội. Trong một hoàn cảnh người thật, việc thật trong xã hội đương thời đó.

     Tác phẩm Hồng nhan tứ quý xuất hiện ở một hoàn cảnh xã hội thời Mạc (1954-1677). Một thời kỳ hưng thịnh và phát triển ở Cao Bằng. Những dòng người từ xuôi lên đây là binh lính, quan lại, công chức, thầy giáo. Nhà vua đã thực hiện chính sách lưu quan, khuyến khích xây dựng gia đình với người địa phương. Nên đã toạ một dòng người lưu quan khá đông. Các trường học chữ Nho được mở rộng khắp nơi, nên tạo ra một nguồn văn hoá giao thoa xuôi ngược rất lớn. Những tác phẩm xuất hiện thời đó phần lớn pha tiếng Kinh như : lượn then, hát then ra các loại nghi lễ khác khác như: lễ tang, cưới xin, tế lễ khác.

     Vậy tác phẩm hồng nhan tứ quý còn thể hiện một nền văn hoá giao thoa thời điểm đó, xem trong văn bản đã sử dụng từ  30-40% tiếng kinh. Đây là một chứng minh hùng hồn một thời điểm lịch sử giao thoa nền văn hoá xuôi ngược, làm cho các dân tộc anh em gần gũi nhau thêm và cùng phát triển.

     Cũng có người chê rưng: tiếng Tày không đủ nghĩa, lấy tiếng kinh pha khó nghe. Vấn đề này có người nói, nếu tiếng Tày không có, phải dùng tiếng Kinh hay mượn tiếng Hán, tiếng Pháp là rất cần thiết ví dụ: kiên quyết – tác phong – xuất hiện – giao thoa…hoặc dùng tiếng Pháp để chỉ sự vật như:xà phòng, nhà ga,…Nhưng nghĩ rằng ở thế kỷ thứ XVI cách đây trên 500 năm, nền văn hoá của người Tày xét ra chưa đầy đủ lắm, cũng như ở làng Nà Lữ sát Cố Đô nhà Mạc hoàn toàn nói Kinh pha, dưới đây là chứng minh:

    Những đoạn thơ bị tù tội, bị giam cầm, bỏ nhà , bỏ cửa, người yêu. Tuy rất đau lòng có nhiều đoạn pha tiếng kinh, thể hiện nền văn hoá giao thoa xuôi ngược thời đó.

     Chứng minh những đoạn sử dụng tiếng Kinh trong văn hoá giao thoa xuôi ngược, đoạn lượn tháng 5 gồm câu 287 đến câu 292 đoạn này hoàn toàn tiếng Kinh chỉ có một từ Tày.

Điệp hán gia lại nhớ hiền thê

Khác quan thở đêm khuya não nùng

Gió thổi đưa đùng đùng mưa sa

Khi mãn hạn là ta ra về

Lập đàn cao ăn thề chẳng quên

Bỏ khi khác ở miền Bắc Hải


Dịch:

Nhớ hán gia lại nhớ hiền thê

                Khác than thở đêm khuya não nùng

    Gió thổi đưa đùng đùng mưa sa

Khi mãn hạn là ta ra về

    Lập đàn cao ăn thề chảng quên

Bỏ khi khác ở miền Bắc Hải.

 

Tác phẩm lượn then giao duyên

Lượn then là một loại trường ca dao duyên bằng thơ thất thất trường thiên, dành riêng cho nam, nữ thanh niên, hát lượn, tìm hiểu nhau ban đầu thường diễn ra: khi đến làng chơi, trong đám cưới, trong lễ hội, khi đi chợ…

Theo một bài bản trình tự nhất định, không như lượn Nùng thường xuất khẩu thành chương. Thời gian lượn ít nhất là một đêm, dài nhất là 36  tiếng mới hết bài bằn.

   Lượn Phia (lượn của núi rừng), lượn then khác với hát then, hát then là một loại văn hoá tâm linh, còn lượn then là một loại lượn giao duyên.

Lượn then chỉ có 4 huyện miền Đông là: Trùng Khánh, Quảng Uyên, Trà Lĩnh, Hạ Long. Là vì xuất sinh của lượn then chỉ có ở miền Đông tỉnh do ông Nông Văn Noọng biệt hiệu ông vua ca đảng nỗi danh là một nhà Nho ở vùng đó, và nổi danh là một nhà thơ Tày, sinh thời cùng với vua Mạc Kính Cung.

Ông đã tu chỉnh bổ sung thơ giao duyên dành riêng cho thanh niên và cùng với ông Bế Văn Phụng đã sáng tác ra các bài hát then để chữa bệnh tâm thần cho vua, bị bệnh trầm uất.

Ông đã lập đội hát then nam ở phía Đông cùng với ông Bế Văn Phụng ở xóm bản Vạn Lập đối then nữ Hoà An vào biểu diễn trong cung vua Mạc Kính Cung, làm cho nhà vua bội lo toan vì quá sợ nhà Lê tiêu diệt, sau diễn xong Vua Mạc Kính Cung khỏi bệnh trầm uất và ngợi khen.

Nội dung một cuộc lượn giao duyên Tày, xếp trình tự một lần lượt như sau

Lượn mời - lượn chối - lượn niệm - lượn chốn - lượn mừng - lượn đi - lượn tích - lượn ban chu - lượn tứ quý - lượn chia tay.

Đây là một loại văn hoá độc đáo của dân tộc Tày. Được phổ biến rộng rãi trong dân gian, được mọi tầng lớp ưa thích, khi đến tuổi thanh niên ai cũng phải học hoặc được dìu dắt bằng đi theo hát, lớp này truyền cho lớp khác. Khi có một cuộc hát người có tuổi ngồi nghiêm chỉnh lắng nghe say sưa, tình duyên được tìm hiểu công khai dùng lượn bằng thơ mà tìm hiểu, nối tình, nối nghĩa, không phải dân tộc nào đều có.

Thể hiện một tình yêu trong sáng và lịch thiệp, mối tình được xây dựng trên tài hoa bằng “lượn”. Trai, gái đang tuổi thanh xuân, người không biết lượn, rất khó tìm được người yêu, người ta cho là đần độn. Rất nhiều người không đi vào gần vì không biết lượn.

Thể hiện tình yêu thầm kín, lặng lẽ đúng với thuần phong mỹ tục của người Tày.Hoàn toàn khác với thời đại ngày nay, tìm hiểu nhau bằng hành động lố lăng theo kiểu người phương Tây. Chưa thành gia thất mà ôm nhau hôn hít giưa thanh thiên, bạch nhật tông khó coi.

Những đoạn lượn còn thể hiện được tính nhân văn cao đẹp của con người, ca ngợi vẻ đẹp cảnh quan thiên nhiên như núi non, cảnh trời đất bốn mùa hoa nở. Ca ngợi lao động sáng tạo của con người trong 12 tháng chuyển vận, ca ngợi sự tích, giúp nhau hiểu sâu xa về quá khứ những tích truyện cổ xưa về dựng nước chống ngoại xâm. Cũng như những tích truyện trắc trở về luyến ái để lại trên đời.

Lượn then còn thể hiện bằng sự đối đáp nẩy lửa và còn mang theo tính chất bất khả kháng cao độ, không đáp lại được cảm thấy khó chịu, day dứt, ăn không ngon, ngủ không yên.

Những hình ảnh trong lượn then rất cao xa, tình tứ sâu sắc mà lại mộc mạc. Dùng vần thơ ví von rất văn hoá như:

Cây ngô đồng sao xứng đáng cho phượng đậu, chim chích nhỏ bé sao sánh với phượng hoàng, kẻ nghèo hèn so sánh với giàu sang phú quý.

Lượn then có hình ảnh trữ tình sâu sắc, cao thượng, qua lời lượn không yêu cũng phải lòng. Đã yêu lại càng thêm, những lời lẽ như khắc sâu vào da thịt.

Trích đoạn hay Lượn chào; tiếng Tày gọi là lượn đi đường, trai gái khi gặp nhau ở chợ, ở hội hè, hoặc đến chơi nhà bạn, nếu là nữ thì bạn trai đến hát chào, nếu là nam thì bạn nữ rủ nhau đến hát ghẹo, hát ghẹo mang tính chất bất khả kháng, những lời lẽ kích động, buộc phải đáp lại,một khi đã đáp lại coi như mở đầu vào cuộc lượn.

Đài:

Óc tu rẫp bóc đưa phông khao

Óc tu rập bóc đảo phông ơn

Xậy xo trông con soong gằm

Chắc gạ bạn tẻ dăng rụ bấu

Dịch;

Hoa xung bờ ao nở trắng phau

Ra cửa gặp hao đào khoe sắc

Xin cho lên tiếng trích vài câu

Không biết có đáp lời không nhỉ

     

Lượn kết: Lượn mở đầu qua các bước xong, qua một bước tìm hiểu ban đầu. Đội bên trai, gái nhận thấy đã tâm đầu ý hợp sẽ bước vào lượn kết bạn, tức là “lượn kết”. Lượn kết dùng những vần thơ cam kết yêu nhau. Những lời cam kết ấy thể hiện một ý chí sắt son như đinh đóng cột, dù non mòn biển cạn không lay chuyển, và đây cũng không kém gì những lời thề vàng ngọc, trong sáng của đôi bạn trẻ. Qua lượn giao duyên kết bạn, một bước nữa thường là thành đôi vợ chồng trăm năm ân ái cho đến bạc đầu. hạnh phúc khai hoa kết trái, khác lượn này đến 12 trang giấy.

                Cách lượn ; Thường bên nam, nữ hát đối đáp mỗi người một đoạn. Khi hết câu cuối bao giờ cũng tỏ ý bằng chữ “kể” trên đây trích từng đoạn hay bỏ chữ “ kêt” cở cuối cùng.

                Lượn tứ quý xuân, hạ, thu, đông: Lượn tứ quý là một loại lượn nói khuyên thanh niên hăng say lao động , không say mê chìm đắm mùa xuân.

 

Đại tá NGUYỄN THIỆN TỨ
      Hội văn nghệ dân gian tỉnh Cao Bằng MẠC TỘC


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả ngày 29.03.2014.

Quay Lên Đầu Trang

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn