Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



TUY LÝ VƯƠNG MIÊN TRINH,

ÔNG HOÀNG ÁO VẢI





  Tuy Lý vương tên thật là Nguyễn Phúc Miên Trinh, tự Khôn Chương và Quí Trọng, hiệu Tĩnh Phố và Vỹ Dạ, con thứ 11 của vua Minh Mạng và bà Tiệp dư Lê Thị Ái, sinh ngày 3-2-1820 tại kinh thành Huế. Ông là thành viên Tùng Vân thi xã và là một trong Tam Đường của nhà Nguyễn. Ông chăm học từ bé, sớm có khiếu về thơ. Năm ông 13 tuổi, mọi người trong triều đều gọi ông là “ông hoàng thơ ”. Ông thờ mẹ có hiếu nên người bấy giờ gọi ông là “ông hoàng hiếu”. Ông sống thanh đạm, ăn mặc đơn giản nên người dân Huế còn gọi ông là “ông hoàng áo vải”. Tính ông an phận thủ thường, xem nhiều đọc rộng nên học vấn uyên thâm, lại kiêm cả nghề thuốc.

Năm Tự Đức thứ tư, vua lập Viện Tôn học, cử ông giữ chức Đổng sự (Giám đốc), lo việc dạy học cho con cháu vua và con các quan trong hoàng tộc. Năm 1865 ông kiêm chức Hữu Tôn nhơn. Ông được phong Tuy Lý công rồi Tuy Lý vương. Người ta quen gọi ông theo tước hiệu này. Ông được lập phủ riêng gọi là Tĩnh Phố, ở bên cạnh Ký thưởng viên của người anh khác mẹ là Tùng Thiện vương Miên Thẩm.

Bấy giờ trong Hội đồng phụ chính, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết nắm hết quyền bính, đứng đầu phái chủ chiến, tích cực chống thực dân Pháp. Hai ông thực hiện các cuộc phế lập để chọn ông vua đứng về phe mình. Sau khi vua Dục Đức bị giết, Lạng quốc công Hồng Dật được đưa lên ngôi tức là vua Hiệp Hòa (1883), nhưng nhà vua lại muốn hòa với Pháp.Tuy có lòng yêu nước thương dân nhưng là người của hoàng gia nên Miên Trinh ngấm ngầm chống đối Tường và Thuyết. Rồi con trai của ông là Hồng Sâm mưu cùng vua Hiệp Hòa nhờ tay Pháp trừ hai người ấy. Việc bại lộ, cả vua Hiệp Hòa và Hồng Sâm đều bị giết (1).

Miên Trinh trốn xuống một chiếc tàu chiến của Pháp nhờ Thống sứ De Champeaux che chở nhưng bị Tôn Thất Thuyết đòi lại. Hai ông Tường và Thuyết giáng ông từ tước Vương xuống Huyện công, giam ông tại binh xá Thừa phủ rồi an trí vào Quảng Ngãi. Các con cháu ông đều bị giáng cách và đưa đi an trí tại các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, đến khi Đồng Khánh (1885-1888) lên ngôi ông mới được thả về. Ông mất ở Huế ngày 18-11-1897, thọ 77 tuổi.

Miên Trinh là em cùng cha khác mẹ với Miên Thẩm, là bạn học với nhau từ thuở nhỏ, lại rất sành thơ và ở gần nhau nên thường qua lại liên ngâm xướng họa rất là tương đắc. Tác phẩm của ông để lại gồm có: Vỹ Dạ hợp tập bằng chữ Hán gồm 12 quyển (5 quyển văn, 6 quyển thơ, 1 quyển tự truyện); cuốn Nữ phạm diễn nghĩa từ (Lời diễn nghĩa các khuôn phép của nữ giới) soạn theo Liệt nữ truyện của Lưu Hướng đời Hán và Cổ kim liệt nữ truyện của Giải Tấn đời Minh. Riêng tập Nghênh tường khúc thì bị thất truyền. Ngoài ra ông có làm chung với Miên Thẩm và Miên Bửu (Tương An quận vương) bài thơ nôm Hòa lạc ca theo thể song thất lục bát liên ngâm khi ba anh em đi chơi trên chiếc du thuyền Hòa lạc tại Thuận An gặp sóng gió suýt lâm nạn.

Thơ Miên Trinh trong Tĩnh Phố thi tập phần nhiều thiên về tình cảm, ngoài ra cũng có thơ tả cảnh, thơ thù phụng và thơ yêu nước. Thơ tình cảm của ông nói về tình yêu và tình bạn. Một chiều ghé thăm nơi ở của người thiếp trẻ đẹp đã sớm qua đời, lòng ông buồn thương vô hạn, rồi xúc cảm thành thơ, lời thơ chân thành và tha thiết.

ÔN HƯƠNG QUÁN
(Vong thiếp cư xứ)

Y cựu đào hoa khai mãn chi,
Phong xuy hoa phiến tự sâm si.
Tối liên thử nhật khan hoa khách,
Lệ trích hoa tiền, hoa bất tri ?

溫 香 館
(亡 妾 居 處)

依 舊 桃 花 開 滿
風 吹 花 片 自 參 差
最 憐 此 日 看 花 客
淚 滴 花 前 花 不 知

Dịch thơ:

QUÁN ÔN HƯƠNG
(Nơi ở của người thiếp đã qua đời)

Như cũ, đào hoa vẫn nở đầy,
Gió đưa dìu dặt cánh hoa lay.
Thương thay, nay khách xem hoa đó,
Lệ ướt cành hoa, hoa có hay?

Miên Trinh mượn lời người xuân nữ nhẹ nhàng trách móc chồng mình ra đi vui thú sông hồ mà quên người vợ trẻ mỏi mòn chờ đợi ở khuê phòng. Trong cảnh cô đơn ấy, nàng hồi tưởng lại mối tình của hai người đã từng có những tháng năm tươi đẹp:

Tình chàng đằm thắm dòng sông trôi,
Lòng thiếp trong veo trăng nước soi.


( Lang tình diểu diểu (2) giang thủy bình,
Thiếp tâm trừng trừng giang nguyệt minh).
(Xuân khuê oán – Nỗi hờn trong phòng khuê)

郎 情 渺 渺 江 水 平
妾 心 澄 澄 江 月 明
( 春 闋 怨 )

Thơ tả cảnh của Miên Trinh thật tươi vui, bay bướm, nhẹ nhàng. Ông tả cảnh Hồ Nam trong đó màu sắc ở hoa, ở áo, ở cánh bướm quyện vào nhau rộn rịp, tưng bừng:

HỒ NAM

Nước hồ màu xanh ngắt,
Gợn sóng ánh trời trong.
Các cô giặt trên bến
Soi thấy áo màu hồng.
Áo hồng vào hoa mất,
Bướm làm áo rối bong.


NAM HỒ

(Hồ thủy lục ương ương,
Cốc văn đãng thiên quang.
Tân đầu chúng nữ hoán,
Chiếu kiến hồng phấn trang.
Hồng trang nhập hoa khứ,
Hồ điệp loạn y thường).

南 湖

湖 水 綠 泱 泱
穀 文 蕩 天 光
津 頭 眾 女 浣
照 見 紅 粉 粧
紅 粧 入 花 去
蝴 蝶 亂 衣 裳

Về tình bạn, Miên Trinh có nhiều bạn tài hoa và nổi danh. Hai người bạn rất thân là Phan Thanh Giản (3) hiệu Mai Xuyên và Nguyễn Văn Siêu (4) hiệu Phương Đình. Phan Thanh Giản quê miền Nam, có thời gian làm quan tại kinh thành Huế, Miên Trinh mến tài mến đức nên trở thành tri kỷ. Làm bài thơ tặng Phan quân, ông tỏ lòng nhớ thương người bạn hiền tài hoa nhưng gặp nhiều trắc trở trên hoạn lộ, phải gánh vác trọng trách trong khi miền Nam đang gặp cảnh khó khăn:

NHỚ MAI XUYÊN, GỬI THƠ TẶNG

Quen nhau từ thuở trước,
Thân mật đến bây giờ.
Phong độ trông nho nhã,
Nói cười đầy đón đưa.
Thơ, nhờ lịch lãm cứng,
Tâm, hợp thánh hiền xưa.
Miền Nam hoa cỏ úa,
Nhớ nhau lòng ngẩn ngơ.

Nguyễn Văn Siêu đỗ Phó bảng năm 1835. Khi làm Án sát, ông dâng sớ đề nghị cải tổ công việc triều chính nhưng không được triều đình chuẩn thuận nên ông cáo quan về nhà soạn sách và dạy học. Miên Trinh rất hiểu tâm sự của bạn nên làm thơ gửi thăm với lòng thông cảm và tôn kính:

THĂM NGUYỄN VĂN SIÊU

Cao sĩ nhớ người vin gốc quế,
Thân bằng tìm đến gõ lều tranh.
Gập ghềnh hoạn lộ nay đầu bạc,
Lừng lẫy thi danh tự thuở xanh.

Ngoài Phan quân và Nguyễn quân trên đây, Nguyễn Hàm Ninh (1808-1867), danh sĩ tỉnh Quảng Bình, cũng là bạn thân của Miên Trinh.

Thơ yêu nước của ông nói lên tấm lòng của một kẻ sĩ đầy tâm huyết trước cảnh người phương Tây sang xâm lấn nước ta. Ba bài Ngắm cảnh thu của ông cho thấy tâm tình thiết tha đau đớn của ông trước cảnh đất nước lâm vào vòng khói lửa, những ngày đầu dân Nam kỳ anh dũng đứng lên chống xâm lăng:

Ngắm cảnh Nam châu (5) mây phủ đầy,
Vị Ương (6) trước điện lá thu bay.
Ba Xuyên về Bắc người thưa thớt,
Nông Nại đầu sông lũy khít dày.

(Ngắm cảnh thu – Bài I)

Trước tai ương của đất nước, nhiểu văn nhân thi sĩ còn đề vịnh, đánh cờ, mải miết vui chơi đã bị Miên Trinh chê trách :

Say sưa ngọn bút ham đề vịnh,
Lặng lẽ vườn hoa đắm cuộc cờ.

(Cảm hứng – Bài I)

Nhiều phen lòng yêu nước bừng dậy trong lòng, Miên Trinh khẳng khái kêu gọi sĩ tử hãy xếp bút nghiên để lên đường giết giặc:

Chống kiếm, hát lên, đừng bịn rịn,
Ném bút, đầu quân, việc chúng ta.

(Cảm hứng – Bài II)

Miên Trinh lại còn sành âm nhạc. Có lần ông dự buổi đánh đàn của nhạc sư A Đặng Trích Nguyễn (7) rồi làm thơ ca ngợi :

Cửa sổ màu xanh khói tỏa ngang,
Tiếng đàn vừa dứt, ánh trăng tàn.
Năm xưa khúc hát nào ai biết,
Đầu bạc cung nhân lệ thấm tràn.

(Làm lúc nghe nhạc sư Nguyễn đánh đàn)

Buổi đương thời, Trường Sa Dương Ân Thọ đời Thanh, vào năm Tân Tỵ (1881) có gửi tặng Miên Trinh đôi câu đối ngợi khen ông thành thạo ngón đàn cũng như có tài thưởng thức âm thanh :

Sành điệu bên ve, chơi Lục Ỷ (8),
Bay danh ngoài biển sánh Thương Sơn (9).

Tự nhận định về thơ mình, Miên Trinh viết :“Gần đây, tôi thường ân hận tấm thân không rời khỏi bọn hoạn quan và đám cung nữ, dấu chân không ra khỏi cung đình nội phủ nên thơ tôi không có cảnh núi cao đầm rộng để khơi dậy cái khí thế hùng tráng của mình”.

Tuy nhiên nhiều người nhận xét: Thơ Miên Trinh đẹp cả từ lẫn ý, phong phú về mọi đề tài, mọi thể loại, mọi khuynh hướng. Theo một số nhà bình luận Việt Nam và Trung Hoa đương thời thì thơ Miên Trinh có nhiều bài đặc sắc, có thể xếp ngang hàng với thơ Đường.

Thám hoa Nam Sơn Nguyễn Đức Đạt, người Nghệ An, đề tựa “Vỹ Dạ hợp tập”, viết :“Tập thơ này hấp dẫn khiến tôi phải khêu đèn đọc hết, trông thấy hàng hàng châu ngọc, không thể thêm bớt được chữ nào”

Tiến sĩ Trường Sa Vương Tiên Khiêm đời Thanh đã khen :“Ông Thương Sơn (Miên Thẩm) sành về thơ. Người Trung Quốc xem thơ ông đều kính phục. Nay thấy tập thơ Vỹ Dạ của Tuy Lý vương, những ai đã đọc thơ Thương Sơn đều kinh dị, cho là không kém thơ Thương Sơn”.

Mai Bửu Lộ cũng người đời Thanh thì khen ông cùng với Miên Thẩm thật chẳng kém gì Nhị Tô (10) bên Trung Quốc:

Một nhà trước tác truyền muôn thuở,
Thiên hạ đồng thanh ví Nhị Tô.

(Nhất môn trước tác, quân thiên cổ, 一 門 著 作 均 千 古
Trung ngoại tranh truyền bễ Nhị Tô) 中 外 爭 傳 媲 二 蘇

Nhà thơ Dương Ân Thọ đời Thanh còn tặng Miên Trinh ba bài tứ tuyệt. Bài 3 tỏ ý ước mong có dịp gặp một tài thơ:

Trân trọng xem thơ chẳng nói năng,
Những mong gặp mặt luận thơ văn.
Trời xanh bao rộng nhà thi xã,
Chén rượu lòng theo chiếu ánh trăng (7).

Thơ Miên Trinh thi tứ cao đẹp, uẩn súc, lời thơ nhẹ nhàng tươi tắn, phần nhiều thiên về tình buồn, bộc lộ những niềm lo âu khắc khoải và hướng về hoài niệm. Lòng yêu nước của ông cũng mạnh mẽ không kém gì Thương Sơn, luôn quan tâm lo lắng khi đất nước bị xâm lăng, nhân dân lầm than cơ cực.

Thơ ông cũng như tấm lòng của ông rất đáng cho chúng ta quí mến và cảm phục.

(1) Vua Hiệp Hòa viết một bức thư giao cho Hồng Sâm (con trai Tuy Lý vương) mang qua Tòa Khâm nhờ cứu giúp. Chẳng may tên nội giám Đạt biết được, mách với Nguyễn Văn Tường. Tường đến bắt quả tang bức thư còn để trong hộp sơn lại có đóng ấn của vua nên hạ thủ.
Vụ giết vua Dục Đức bị ông Phan Đình Phùng phản đối và quan phụ chính Trần Tiễn Thành không chịu ký tên vào tờ phế truất vua Hiệp Hòa. Phan Đình Phùng bị hai ông Tường, Thuyết cách chức đuổi về quê, còn ông Trần Tiễn Thành bị ông Thuyết cho lính Thân nghĩa đang đêm đến tận nhà đâm chết (Việt sử tân biên, quyển V, tập thượng, trang 402-403).
(2) Cuốn “Thơ Tuy Lý vương Miên Trinh” của TS Trần Như Uyên viết Diểu diểu nghĩa là nước chảy dài ; sách khác viết Diếu diếu nghĩa là tấm lòng sâu kín.
(3) Phan Thanh Giản (1796-1867) tự Tĩnh Bá và Đạm Như, hiệu Lương Khê và Ước Phu, biệt hiệu Mai Xuyên, phải nhiều phen thăng giáng và khi ba tỉnh miền Tây Nam kỳ mất vào tay quân Pháp, ông uống thuốc độc tự tử.
(4) Nguyễn Văn Siêu (1799-1872) tự Tốn Ban, hiệu Phương Đình và Thọ Xương cư sĩ.
(5) Nam châu: Nam kỳ.
(6) Vị Ương: tên một cung vua ở Trung Quốc. Đây chỉ cung vua nước ta.
(7) Nhạc sư A Đặng Trích Nguyễn chưa rõ là ai.
(8) Lục Ỷ : tên cây đàn của Tư Mã Tương Như đời Hán.
(9) Thương Sơn : tức Tùng Thiện vương Miên Thẩm.
(10) Nhị Tô: hai anh em ruột họ Tô, Tô Thức (tức Tô Đông Pha) và Tô Triệt (tức Tử Do) đời Tống, cả hai đều nổi tiếng về văn chương.
(11) Tất cả những bản dịch trong bài này đều do TS Trần Như Uyên dịch.
Bài này đã đăng trên tạp chí KIẾN THỨC NGÀY NAY số 848 ngày 1-3-2014

Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa chuyển từ SàiGòn ngày 23.03.2014 .