Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




DÙ CHIẾN THẮNG,

TÂM TRẠNG TRƯNG VƯƠNG LẺ LOI QUÁ!






Nhân ngày Kỷ niệm Hai Bà Trưng 6-2 năm Giáp Ngọ (6-3-2014), chúng ta tưởng nhớ đến Hai vị Anh thư qua tuồng “Tiếng trống Mê Linh” và bài thơ “Trưng Nữ Vương”:

Nhị Trưng (Trưng Trắc và Trưng Nhị)

Nguyên là họ Lạc, con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh. Mẹ hai Bà là bà Man Thiện, người làng Nam Nguyễn, Ba Vì, Sơn Tây, Hà Tây. Chồng mất sớm, bà  Man Thiện  một mình nuôi dạy hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị giỏi võ, có tinh thần yêu nước, có chí lớn. 

Trưng Trắc là vợ của Thi Sách, con trai Lạc tướng Châu Diên. Các Lạc tướng Mê Linh và Chu Diên có ý chống lại sự cai trị tàn bạo của Thái thú Tô Định. Định bèn bắt giết Thi Sách để trấn áp tinh thần người Việt.

Tháng 2/40, Trưng Trắc cùng với em gái là Trưng Nhị nổi binh chống lại quân Hán. Các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng. Hai bà lấy được 65 thành ở Lĩnh Nam. Trưng Trắc tự lập làm vua, xưng là Trưng Nữ Vương, đóng đô ở Mê Linh.

Ngày 30/2/41, nhà Hán thấy bà xưng vương dấy quân đánh lấy lại các thành. 

Tháng 1 năm 42, tướng Mã Viện nhà Hán tiến đánh Hai Bà. Năm 43, Hai Bà Trưng chống cự lại với quân nhà Hán và thua nhiều trận lớn ở vùng Lãng Bạc (Tiên Sơn-Bắc Ninh), Cẩm Khê (Ba Vì-Hà Nội) nên đã gieo mình xuống Hát Giang tử tiết vào ngày 6/2/43.

Hai Bà Trưng được coi là anh hùng dân tộc, và được thờ cúng tại nhiều đền thờ, trong đó lớn nhất là Đền Hai Bà Trưng ở phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội và đền Hai Bà Trưng tại Mê Linh, ngoại thành Hà Nội - quê hương của Hai Bà.

Cuộc khởi nghĩa năm 40 do Hai Bà Trưng lãnh đạo quả là bằng chứng hùng hồn của tinh thần yêu nước, yêu tự do cũng như khí phách "tấn công cả trời" của tổ tiên ta thời đó, ngoài ra nó còn định ra một loại hình chiến tranh trước đây chưa hề có mà sau này dân tộc ta thường phải sử dụng: chiến tranh phải giữ dân tộc.

Nữ Hoàng sân khấu Thanh Nga

Thanh Nga (1942–1978) là một nghệ sĩ cải lương tài sắc nổi tiếng, bà còn được mệnh danh là "nữ hoàng sân khấu" của miền Nam thời điểm lúc bấy giờ. Dù cái chết của bà còn là một nghi án, nhưng bà vẫn được an ủi là Nghệ sĩ Ưu tú của sân khấu cải lương Nam Bộ.

Tuồng cải lương:” Tiếng trống Mê Linh” với Thanh Nga

“Biệt khúc Mê Linh” là nhạc chia ly giữa Thi Sách (Thanh Sang thủ vai) và Trưng Trắc (do Thanh Nga). Chính bà tìm được giai điệu rồi tự đặt lời –theo báo Tuổi Trẻ ngày 16-2-2014 nhân Giỗ lần thứ 36 của Bà.

- Trưng Trắc: Trong giây phút chia tay, tim nguyện ghi lời thề

- Thi Sách: Tuy xa nhau muôn dặm dài, nhưng có nhau kề vai trong chinh chiến, dẫu muôn đắng cay không sờn .

- Trưng Trắc: Bầu trời Nam u tối, quân thù gieo bạo tàn. Ta vui riêng đâu đành lòng. Đem máu xương cùng, muôn dân son sắt , nhớ nhau chớ quên câu thề.

- Thi Sách: Đêm nay có xa nhau, cho ngày mai lại gần

- Trưng Trắc: Ôi trăng sao trên bầu trời, như sáng soi đường ra biên ải, có em dõi theo chân chàng .

- Thi Sách: Kìa hồn thiêng sông núi, nghe từ xa vọng về. Ta chung lo ngăn giặc thù, mai mốt đây nhìn, non sông tươi thắm ... Ngày về vinh quang

Tuồng cải lương này đã ca tụng lòng yêu nước của Phu tướng Thi Sách và Nữ tướng Trưng Trắc. Vì Tô Định đã đưa ra điều kiện Bà phài ngưng tấn công quân Tàu, nếu không Chồng bà sẽ bị chém đầu. Chính vì thế, trước khi tấn công giặc, Bà đành phải tế sống người chồng yêu quý và xin chồng tha thứ cho mình. Sau đó, Bà đã chiến thắng Tô Định, sau đó 3 năm, Bà bị thua Mã Viện và tự vẫn ở sông Hát.

Nữ sĩ Ngân Giang (1916 – 2002)

Ngân Giang, tên thật là Đỗ Thị Quế, sinh ngày 20 tháng 3 năm 1916 trong một gia đình Nho học tại phố HàngTrống, Hà Nội; nhưng quê quán gốc của bà thì ở thôn Hướng Dương, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây.

Năm 9 tuổi, đọc kinh Phật, tự cảm thấy mình mắc nhiều tội lỗi quá, nên bà định quyên sinh. Rất may, người nhà đã kịp thời phát hiện và cứu chữa.

Năm 16 tuổi, bà in tập thơ đầu tiên Giọt lệ xuân, ký bút danh Hạnh Liên, do nhà xuất bản Tân Dân ấn hành.

Hiểu tính nết của con, cha bà bắt buộc bà phải lấy chồng. Nhưng rồi, theo Lê Thọ Bình thì:

“...tổ ấm gia đình cũng không thể giữ nổi con tim sôi nổi, ưa hoạt động của bà. Nhà thơ tìm đến với phong trào cách mạng. Vì mẹ chồng không ngớt lời chì chiết cô con dâu nên vào một đêm mưa gió bão bùng, bụng mang dạ chửa, bà lại gieo mình xuống Hồ Tây. "Dường như trời chưa cho tôi thoát kiếp trầm luân" - sau này Vì là nghiệp chướng nên cái nợ văn chương cứ đeo đuổi mãi.” .

Năm 22 tuổi (1938), bà rời Hà Nội vào Sài Gòn, viết cho Điện Tín nhật báo, báo Mai. Sau đó, bà trở ra Hà Nội viết cho Tiểu thuyết thứ bảy, Phổ thông bán nguyệt san, Đàn bà...

Năm sau (1939), thi phẩm "Trưng nữ vương" ra mắt, gây tiếng vang trên thi đàn. Và cũng trong năm này, bà cho in tập thơ Tiếng vọng sông Ngân. Năm 1954 hòa bình lập lại, Ngân Giang làm việc ở Sở văn hóa Hà Nội.

Từ năm 1961, được sự đồng ý của Hội Nhà Văn, bà về quê sinh sống và hoạt động văn nghệ quần chúng. Tại đây bà khước từ quan hệ với một người đàn ông nên bị bức bách về tinh thần, buồn chán, Ngân Giang quay trở lại Hà Nội để rồi, ngày ngày, bà ra bãi sông Hồng quét lá khô để bán, tối về rửa bát thuê, nhưng cũng chỉ đủ tiền mua gạo nấu cháo cho những đứa con lay lắt sống qua ngày. Rồi bà được nhận vào Hợp tác xã thêu ren. nhưng vì chống tiêu cực, nên bị đuổi việc. Khi không còn đủ sức để ra bờ sông quét lá nữa, bà ra đầu đường mở quán bán hàng nước. Bà Ngân Giang đã sống hẩm hiu như vậy, trải hơn ba mươi năm cho đến ngày từ giã cõi đời. Bà mất ngày 17 - 8 - 2002 và được chôn tại Hướng Dương, Thường Tín, Hà Tây.

Bài thơ :Trưng Nữ Vương - Ngân Giang

Thù hận đôi lần chau khóe hạnh
Một trời loáng thoáng bóng sao rơi
Dồn sương vó ngựa xa non thẳm
Gạt gió chim bằng vượt dặm khơi

  Ngang dọc non sông đường kiếm mã
Huy hoàng cung điện nếp cân đai
Bốn phương gió bảo dồn chân ngựa
Tám nẻo mưa ngàn táp đóa mai
 
Máu đổ cốt xương thù vạn cổ
Ngai vàng đâu tính chuyện mai sau
Hồn người chín suối cười an ủi
Lệ nến năm canh rỏ ngậm ngùi

  Lạc Tướng quên đâu lời tuyết hận
Non hồng quét sạch bụi trần ai
Cờ tang điểm tướng nghiêm hàng trận
Gót ngọc gieo hoa ngát mấy trời

  Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi
Chàng ơi Điện ngọc bơ vơ quá
Trăng chếch Ngôi trời bóng lẻ loi.

Mọi người biết đến nữ sĩ Ngân Giang từ những năm 1940 về trước qua sự giới thiệu của nhà văn Trúc Khê Ngô văn Triện trên những trang sách Phổ Thông Bán nguyệt san của Vũ Đình Long.

Bài thơ hoàn thành vào năm 1939, nên hình thức thoạt nhìn vẫn là thể thức của thơ mới, gồm có 5 đoạn , mỗi đoạn 4 câu, mỗi câu 7 chữ. Nhưng đọc kỷ mới thấy trong hình thức mới vẫn còn mang nặng sắc thái khí vị của thơ Đường, đầy nhạc điệu, và từng cặp song thất vẫn đối nhau đậm đà như:

Dồn sương vó ngựa xa non thẳm/ Gạt gió chim bằng vượt dặm khơi. Bốn phương gió bảo dồn chân ngựa/ Tám nẻo mưa ngàn táp đóa mai. … Ải bắc quân thù kinh vó ngựa/ Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi. v…v…

Đối là bí quyết của thơ Đường , mà cũng là bí quyết chung cho cả thi ca Đông Tây, riêng thơ Việt nó trở thành một trong những yếu tố cần thiết. Nhưng dù sao vẫn là hình thức, có dịp chúng ta sẽ bàn kỷ về vấn đề này, giờ đây hảy đi sâu vào việc tìm hiểu bài thơ. Toàn thể bài thơ toát lên cuộc đời và tâm sự của Trưng Vương. Thù hận vì quân ngoại xâm đã giết chồng mình, đó là động cơ chính yếu khiến cho Hai Bà phải vùng lên, kêu gọi mọi người – thù riêng thành thù chung – phất cờ khởi nghĩa đảm đương đại sự, thì việc riêng tư phải gác lại, nhưng làm sao quên được , nên chỉ đôi lần thôi: Thù hận đôi lần chau khóe hạnh, Một trời loáng thoáng bóng sao rơi “ Bóng sao rơi” là hình ảnh của người Anh hùng quá cố, của Chồng cũng chỉ loáng thoáng qua thôi. Vì phận sự của người Nữ Tướng là luôn luôn ngồi trên lưng ngựa rong ruổi vào rừng sâu núi thẳm rút ngắn thời gian; hay như cánh chim bằng gội gió dầm mưa vượt suối băng sông sá gì hiểm nguy :

Dồn sương vó ngựa xa non thẳm/ Gạt gió chim bằng vượt dặm khơi

Câu thơ đã không còn là thơ yếu đuối của nữ lưu mà đã thành khúc nhạc hào hùng , tiếng kèn trống, mỏ chiêng hòa lẫn với tiếng ngựa hí voi gầm , tiếng binh khí va chạm vao nhau tiếng người hò hét…

Ngang dọc non sông đường kiếm mã/ Huy hoàng cung điện nếp cân đai Bốn phương gió bảo dồn chân ngựa/ Tám nẻo mưa ngàn táp đóa mai

Nghe đâu lúc sinh tiền Ngân Giang hay nói đùa, kiếp trước Bà là một võ tướng đã giết lầm một văn nhân, nên kiếp nầy Bà phải trả nợ…Việc giết lầm văn nhân không có gì chắc, nhưng tiền kiếp là võ tướng thì có thể tin được lắm, vì phải là võ tướng xuất thân mới viết được những câu như vừa nêu. Nhưng phải là võ tướng nữ mới thể hiện được tâm sự của Trưng Vương., như những câu :

Tám nẻo mưa ngàn táp đóa mai…. Lệ nến năm canh rỏ ngậm ngùi
…Cờ tang điểm tướng nghiêm hàng trận/ Gót ngọc gieo hoa ngát mấy trời.

Chuyện tiền kiếp hay tái sinh có thể là chuyện đùa, nhưng thân thế của Ngân Giang là sự thật, tài sắc như Bà mà ngay từ thuở trẻ cũng đã lắm chìm nổi long đong. Phải từng trải cô đơn hay ít ra cũng mang một tâm sự đầy cay đắng mới tạo được một áng thơ tuyệt tác như Trung Nữ Vương. Đặc biệt là bốn câu cuối bài :

Ải bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi
Chàng ơi Diện ngọc bơ vơ quá
Trăng chếch Ngôi trời bóng lẻ loi.

Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ của tình cảm, phương thức diễn tả của nó là hình ảnh, là ý tượng, nó sẽ đưa đến sự tĩnh quan mặc tưởng.Và trong sự tĩnh quan mặc tưởng ấy sẽ đưa chúng ta đến thế giới siêu việt thế tục.. Đó là Đạo, là thứ mỹ học cổ đại mà cũng là bản thể của triết học. Đạo làm cho vật có đầy đủ tính thiên nhiên, không thể cân đo, suy đoán, nhưng có tính chất hợp với qui luật và cách nhìn của mọi người, có thể trực giác được tính tạo hóa thiên nhiên của nó. Chúng ta hơi dài dòng , xin trở lại với thơ, chi có bảy chữ : Ải bắc quân thù kinh vó ngựa. mà nói hết được sự chiến thắng của Trưng vương, chỉ nghe vó ngựa quân thù đã kinh sợ chạy tán loạn rồi. thắng lợi với quân dân, với đất nước là niềm vinh quang. Nhưng với Nữ vương lại là niềm chua xót:

Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi
Giáp vàng chói lọi đi với khăn trở tóc tang

Tạo thành một sự tương phản kinh khủng, khiến đầu voi còn cảm thấy lạnh, hay nỗi lạnh lẽo cô đơn này từ lòng người góa phụ tỏa ra. Mức xốn xang bức rức đến trương độ không cầm lòng nín lặng được nữa phải thốt thanh lời , thanh tiếng khóc não nùng :

Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá
Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ loi…

Đến đây chúng ta không biết nói gì hơn .là trong sự sáng tạo hình ảnh Trưng Nữ Vương , Ngân Giang đã nhập vào cảnh vào người mà tạo ra một cảnh giới cao nhất của mỹ cảm, đó là hiện tương mà người xưa gọi là “Diệu Ngộ”, cảnh giới có ý nghĩa siêu hình, thân phàm của chúng ta chỉ còn biết mặc tưởng mà thôi, càng mặc tưởng càng thương tiếc Ngân Giang.

Ðông Hồ (1906-1969), nhập thần Trưng Nữ Vương

Nhắc đến bài thơ “Trưng Nữ Vương” của nữ sĩ Ngân Giang thì phải nhắc đến cái chết của thi sĩ Ðông Hồ khi ông đang đọc bài thơ đó. Ðông Hồ là một tên tuổi lớn của thi ca Việt Nam, lại là người đã mở trường dạy chữ quốc ngữ tại Hà Tiên khi mới trên 20 tuổi. Theo tác giả “Dự báo bùng nổ thơ ca,” thì chi tiết về bài thơ và cái chết của thi sĩ Ðông Hồ, đã xảy ra như sau:

“Trưng Nữ Vương của Ngân Giang là bài thơ hay nhất về vị nữ anh hùng dân tộc Trưng Trắc. Ðược sáng tác ở tuổi 23 (1939), “Trưng Nữ Vương” đã đi vào huyền sử nền thơ Việt với sự ra đi thần thoại của người thầy - nhà thơ Ðông Hồ - trên bục giảng đường Văn Khoa Ðại Học Sài Gòn, ngày 28 tháng 3, 1969, nhân lễ kỷ niệm Hai Bà Trưng.”


TÓM TẮT

“Thơ về Hai Bà kể rất nhiều. Nhưng có điểm chung các tác giả đều là đàn ông. Họ chỉ nhìn khía cạnh Hai Bà yêu nước, diệt xâm lăng. Cho đến ngày Thầy (Đông Hồ) được xem bài của một nữ sĩ tên là Ngân Giang trong tập “Tiếng Vọng Sông Ngân” mới chợt thấy: Trời ơi, có một điểm mà từ trước tới nay chưa một ai nghĩ tới, mà tới nay mới có một người nhìn thấy! Ðó là khi đánh đuổi quân Tầu, thắng khắp nơi, Bà Trưng vẫn là một người góa bụa. Dù chiến thắng nhiều, dù quân thù kinh hãi, bà vẫn là một người đàn bà đang có tang chồng”.

(Lời nói cuối cùng của thi sĩ Đông Hồ với sinh viên Văn khoa Sài Gòn)

Chính Đông Hồ, khi đọc bài thơ Trưng Nữ Vương, hẳn đã nhập thần với đề tài. Quả thật, chỉ có Ngân Giang đã nhìn “thấu hai cõi” khi làm thơ về Trưng Trắc, và chỉ có Đông Hồ mới thấy “cái thấy” của Ngân Giang. “Ta cũng nòi tình…”

(Tham khảo: Tài liệu trên Internet và bài viết của bác sĩ Nguyễn văn Bá, Paris))

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 22.03.2014.