Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Thành Nhà Hồ Địa Linh



Thành Nhà Hồ Địa Linh nối Thành Nhà Hồ (Mai Thục- Việt Văn Mới) tri ân núi sông thiêng, máu xương hiền tài và bao người dân vô tội thấm đẫm đất này, thành một vùng địa linh, tỏa hào quang muôn đời con cháu.

Thành nhà Hồ tọa lạc tại huyện Vĩnh Lộc.

Vĩnh Lộc- huyện trung du tỉnh Thanh Hóa từng là kinh đô nước Đại Ngu dưới vương triều Hồ (1400- 1407). Vĩnh Lộc- vùng đất cổ, thời tiền sử sớm có người Việt cổ sinh sống. Mỗi tên đất, tên làng, ngọn núi, dòng sông thấm đẫm hồn thiêng tiền nhân và huyền thoại bí ẩn. Nơi đây sống núi hữu tình, danh lam thắng cảnh trùng phùng. Các danh nhân, mặc khách, vua chúa… ngao du sơn thủy, xướng họa, đề thơ lưu trên vách đá, hang động.

Vĩnh Lộc với Di sản Văn hóa Thế giới Thành Nhà Hồ, điểm đến của khách du lịch năm châu, trong 131 thôn làng, có 147 di tích lịch sử văn hóa.

Sách Thanh Hóa Tỉnh- Vĩnh Lộc Huyện Chí (Biên dịch Nguyễn Văn Hải- NXB Thanh Hóa- 2012) của Cử nhân Lưu Công Đạo, người châu Hoan, giữ chức tri huyện, huyện Vĩnh Lộc thời vua Gia Long (1816) biên soạn. Ông viết “Đọc được sách Huyện chí, biết rõ được sự sáng tối của cái đức tiền nhân, thấy cả được thắng cảnh núi non”.

Sông núi bi hùng

Con đường dọc dãy Trường Sơn từ Ninh Bình đến Thanh Hóa, núi đá trập trùng vẽ muôn hình vạn trạng dáng xanh lam nhấp nhô gợn sóng trải tận chân trời. Rừng hiện lên, cao thấp mơ màng như đưa ta vào cõi Thần tiên. Đến Vĩnh Lộc, ta như bị hút vào lòng sông núi. Sông vòng ôm núi, núi ôm sông, ẩn hiện diệu huyền.

Núi An Tôn thuộc xã An Tôn, chẳng biết ứng điềm gì mà đức vua Trần thời mạt vận đã sai Hồ Quý Ly vào xây cung điện, dẫn đến cảnh mất ngôi, mất nước?

Ông quan huyện Lưu Công Đạo tả rằng núi có động An Tôn, thạch nhũ nhỏ giọt bốn mùa. Núi lên cao, kéo xuống thấp, trải dài, theo Cẩm Hoàng, Cẩm Nhất, vượt sông nước Quảng Bình đến Quan Hoàng thành thế độc lập, giống như hai con voi đang xuống sông.

Núi Đốn Sơn ở xã Cao Mật, từ các núi An Tôn kéo qua Thọ Đồn, Phú Sơn mà đến. Đốn Sơn khởi vọt lên hai ngọn, hình kiếm và hình cây cung. Nơi đây tướng Trần Khát Chân mưu giết Hồ Quý Ly không thành, bị giết trên núi. Ngài hô lên ba tiếng lớn trước khi bị chặt đầu. Âm vang khí tiết bi hùng vọng ngàn đời, khí thiêng ngùn ngụt trong khói hương di miếu. Trần Khát Chân lấy núi Đốn Sơn làm cung, mở đường đá từ Đốn Sơn đâm thẳng vào Thành nhà Hồ, nên cơ đồ nhà Hồ nhanh chóng tiêu vong.

Núi Mã Hí từ mạch An Tôn theo sông Mã kéo về thành ngọn nham thạch cao vút, vách đá cheo leo, kỳ lạ, hiểm trở gập ghềnh. Đá chồng lên đá, giận dữ theo nhau tạo thành các phiến đá như chuyển động. Phía Tây có một trục đến bến sông, một khối đất đá nổi lên, chắn ngang dòng nước chảy xiết, lượn quanh tạo thành một vực sâu. Sâu đến nỗi không thể đo được.

Đỉnh phía Tây Nam mở ra một hồ lớn rộng vài mẫu. Thiên nhiên thanh tịnh, trong sạch, bốn bề vách núi trơ vơ.

Ngọn Xuân Đài nham thạch chồng chất, tầng tầng, lớp lớp cao như một lâu đài ôm lấy nhau như chiếc thuyền nên gọi Xuân Đài. Đỉnh hiện một khối đá làm nền chùa Du Anh. Bên tả có hai động Nhật Nguyệt. Bên hữu một dãy núi bao quanh, giữa phía sau là am Công chúa.

Núi Mông Cù sông chảy vòng ôm. Phía trước là các ngọn Đa Bút bao quanh. Ngọn Đa Bút có hàng nghìn các huyệt hình bút tủa lên Trời.

Núi Hùng Lĩnh có nhiều sản vật, nhân sâm. Phía Đông núi là lăng họ Trịnh. Phía Nam là ngọn Phượng Dực, bên hữu có chùa nhìn ra sông Mã, khúc sông lượn uốn quanh co, bãi nhỏ bên sông có hai cây cổ thụ thiêng. Hai cây cao khoảng mười trượng, tán rộng ba bốn trượng xòa che như tòa nhà xanh. Nhiều người treo vàng mã thờ. Tương truyền xưa có thần trú trên cây. Ban đêm thần hiện sáng lung linh. Bên tả núi là mộ họ Trịnh, dưới núi có miếu thờ Trịnh Ra. Vượt ra một nhánh là núi Quan Hoa, Kiêu Sơn có nền nhà cũ họ Trịnh, miếu Trịnh Đại Vương. Xung quanh linh thiêng, cây cổ thụ tươi tốt. Chim về làm tổ.

Núi đá thẳm thẳm, điệp trùng quanh Thành nhà Hồ đều có những ngôi chùa linh thiêng. Núi Nham Sơn uốn khúc với tầng tầng đá lạ, nham thạch đẹp cao chông chênh, thảo mộc xanh tươi, um tùm, nảy thiên hình vạn trạng, núi này dan díu núi kia. Núi Ngưỡng Sơn cao vọt phía Đông Nam. Núi Hồng Mông tung cao phía Đông Bắc. Trước mặt là vạn khoảnh ruộng sâu. Mặt sau là vạn trùng sóng biếc, ngút ngát xanh sâu. Lưng núi mở ra động đá. Bên cửa động có chùa cổ, dòng suối sâu lượn qua. Nước từ trong nham thạch tuôn ra vô biên. Dòng suối lớp lớp nông sâu, trong xanh tận đáy.

Núi Kim Tử từ núi Thái Đường tới. Nham thạch uốn mềm thấp dần xuống bãi nhỏ bên sông. Trên đỉnh là động đá, lung linh huyền ảo rộng mà như hẹp, chia năm phòng cung cấm Hoàng hậu. Các gian buồng tách biệt nối nhau như ngôi nhà năm gian. Cửa động rộng rãi, dân gian dùng đá xây tường ốc thành một tòa Già Lam Chân Tế. Phía trong đặt tượng bằng vàng. Hơn mười tòa sen, hương khí ngào ngạt. Cảnh mơ màng thanh tịnh như cõi Niết Bàn. Du khách lạc bước tới đây, quên đường trần.

Từ đỉnh Kim Tử tiếp các đỉnh Ngọ Sơn, Thạch Sơn xuống theo sông là thôn Đồ có núi Ngưỡng Sơn.

Núi Ngưỡng Sơn- Lý Thường Kiệt hiển linh

Núi Ngưỡng Sơn từ Thạch Sơn men theo sông mà tới, uốn lượn chỗ nổi, chỗ chìm, thông nối đất bằng rồi biến mất không tung tích. Kỳ diệu thiêng liêng thay! Núi Ngưỡng Sơn là nơi Lý Thường Kiệt (1019- 1105) đi canh phòng Thanh Hóa, đã xây một ngôi chùa lớn, cực kỳ rộng rãi, có bia ký và lập một tòa Thọ Thần ở trước cửa chùa. Núi xưa có tháp Chiêu Ân, nay vẫn còn nền móng.

Năm 1949, học giả Hoàng Xuân Hãn xuất bản cuốn Lý Thường Kiệt sau nhiều năm đi khảo cứu một cách cẩn trọng nhiều ngôi chùa ở vùng tỉnh Thanh có liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp Lý Thường Kiệt. Ông đã phát hiện ra những tấm bia thời Lý, trong đó có bia chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn do Pháp Bảo Đại Sư soạn năm 1128. Thanh Hóa có bốn tấm bia thời Lý được các nhà chuyên môn đánh giá “cực quý”, thì hai tấm An Hoạch Sơn Báo Ân tự bi minh (chùa Báo Ân, huyện Đông Sơn), Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh (chùa Linh Xứng, huyện Hà Trung) chùa đều bị san phẳng, hai tấm bia được mang về “cất” ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam; một tấm nữa là bia chùa Hương Nghiêm thời Lý Nhân Tông tại núi Càn Ni (huyện Thiệu Hóa) năm 1963 bị cho lò nung vôi!

Gần ngàn năm nay, Lý Thường Kiệt hiển linh trên núi Ngưỡng Sơn sang sảng đọc Nam Quốc Sơn Hà vang năm châu, bốn biển, ôm vọng Biển Đông:

Nam Quốc Sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư


(Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách Trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời)

Sách Sự tích các vị Thần Thăng Long (NXB Văn hóa Thông tin- 2009), cố GS Trần Quốc Vượng kể Lý Thường Kiệt tên là Ngô Tuấn sinh ở phường Thái Hòa gần vườn Bách Thảo Hà Nội. Cha làm quan thời Lý Thái Tông, đi tuần vùng biên giới xứ Thanh, bị bệnh và mất ở đó năm 1031. Người chú rể đưa Ngô Tuấn về nuôi dạy. Tuấn thích nghề võ, ngày tập bắn cung, cưỡi ngựa, lập doanh trại, bày trận đồ, đêm chong đèn đọc binh pháp Tôn Ngô.

Năm mười tám tuổi, hết tang mẹ, Ngô Tuấn nhận chức quan nhỏ trong đội kỵ binh rồi vào triều hầu cận đức vua. Mười hai năm sau, tiếng tăm nổi trội, trung thành hiếu nghĩa, ông được giữ chức cao, quyền lớn, trông coi mọi việc trong triều nhà Lý, được mang họ vua. Năm 1062. Vùng Thanh Nghệ không yên, vua cử ông vào. Kết quả năm châu, sáu huyện, ba nguồn, hai mươi bốn động miền Thanh Nghệ được vỗ yên.

Đại Việt luôn bị giặc hai miền Bắc Nam uy hiếp. Lý Thường Kiệt đánh Chiêm Thành trước. Đầu năm 1069, ông Nam tiến, đại quân Lý chiến đấu quên mình, bắt sống vua Chiêm. Lý Thường Kiệt được phong Thái úy Tổng chỉ huy quân đội, được là con nuôi vua. Năm 1072. Lý Thánh Tông mất, Thái tử Càn Đức bảy tuổi nối ngôi, hiệu là Lý Nhân Tông. Thái hậu Thượng Dương, sau là bà Ỷ Lan mẹ đẻ của vua buông rèm nhiếp chính. Lý Thường Kiệt cầm quyền bính, là linh hồn thực sự của triều Lý trong hàng chục năm ròng.

Cuối những năm 60 và đầu những năm 70 thế kỷ XI, nhà Tống xâm chiếm Đại Việt trắng trợn, biến các cửa biển Khâm Châu, Liêm Châu (Quảng Đông), các cửa biên giới Tống- Việt thành những căn cứ hậu cần, làm bàn đạp tấn công của các đạo quân Tống xâm lược. Lý Thường Kiệt nói: “Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn mũi nhọn của giặc”.

Ngày 27- 10- 1075. Cuộc tiến công của mười vạn quân Đại Việt bắt đầu. Năm vạn quân miền núi do Tông Đản và các thủ lĩnh dân tộc khác chỉ huy, tập trung biên giới, bất ngờ tấn công, phá tan các căn cứ biên giới của Tống, thừa thắng tiến về Ung Châu (nay là Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây- Trung Quốc).

Đại quân Lý Thường Kiệt tập trung ở Vĩnh An (Móng Cái) dùng thuyền đổ bộ bất ngờ chiếm cảng Khâm Châu, Liêm Châu rồi tiến về phối hợp vây thành Ung Châu. Sau bốn hai ngày công phá quyết liệt, quân ta chiếm được thành Ung Châu ngày 1- 3- 1076.

Biết Tống sẽ sang đánh phục thù. Lý Thường Kiệt chuẩn bị kháng chiến.

Cuối năm 1076. Mười vạn bộ binh. Một vạn ngựa. Hai mươi vạn phu nhà Tống kéo ào ạt sang xâm lược nước ta. Chúng chọc thủng các tuyến phòng ngự biên giới. Chúng bị chặn lại trên tuyến sông Cầu. Đêm đó, bên bờ Nam sông Cầu trong đền Thánh Tam Giang vang lên bài thơ Nam Quốc Sơn Hà.

Hùng khí non sông Đại Việt làm giặc rã rời, quân ta phấn chấn. Thủy quân Tống bị chặn đứng từ ngoài khơi. Địch mở đường đóng bè vượt sông. Chờ chúng đến giữa sông, Lý Thường Kiệt tung quân đánh, tiêu diệt gọn. Hơn một tháng, giặc bị kìm trước trận tuyến sông Cầu. ốm đói thê thảm. Lý Thường Kiệt cho người sang, mở lối cho chúng rút “Không nhọc tướng tá, khỏi tốn xương máu mà vẫn bảo toàn được tông miếu”.

Tháng 3- 1077. Giặc rút quân trong cảnh hỗn loạn.

Dẹp xong Tống, Lý Thường Kiệt vào trấn Thanh Hóa. Mấy chục năm cuối đời, người tướng già lỗi lạc mở mang kinh tế, văn hóa ở xứ Thanh- trọng trấn của Đất Việt.

Ngày 2 tháng 6 năm 1105. Người anh hùng dân tộc từ giã cõi đời. Cả xứ Thanh và kinh thành Thăng Long lập đền thờ ông. Chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn do Lý Thường Kiệt xây hiện nay bừng sáng hào quang Lý Thường Kiệt hiển linh giúp con cháu trông giữ Đất nước và biển Đông. Bài minh chùa Linh Xứng còn ghi lời Lý Thường Kiệt:

“Cái mà nối đời lưu truyền là Đạo cả, là tiếng thơm. Mở túi để cho Đạo cả và tiếng thơm được rạng rỡ”.

Sông Mã gầm rung

Quanh Thành nhà Hồ núi chồng lên núi, sông ấp ôm sông, tắm tưới ruộng đồng, bí ẩn, diệu huyền, vậy mà ông tri huyện đã thấu thị bao tri thức huyền bí, là điều kỳ diệu.

Những dòng sông ôm vòng chân núi tạc nên phong thủy diệu huyền. Sông Bái Giang gọi là sông Bưởi, dòng chảy khúc khuỷu, quanh co, rất sâu, màu nước xanh trong. Các núi Bái Giang, Giang Biểu, Bỉnh Bút, Văn Vận, Cổ Điệp, Nhật Chiêu… vòng ôm sông tình tự. Chúa Trịnh Sâm đo chiều sâu sông Mã, giáp bờ huyện Yên Định thấy nước sông Mã nhẹ hơn sông Bưởi. Nước sông rất độc, người uống vào bị bệnh. Nhưng dòng nước ấy bao đời vẫn nuôi lúa, tưới cây, vang giọng hò sông Mã.

Thế kỷ XXI. Sông Mã gầm rung bao chiến tích bi hùng. Sông Mã chở thiên tình sử nối dài âm vang, âm hưởng không gian các dòng sông Mã, sông Hồng, sông Hậu ra đảo Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông, với thời gian mấy nghìn năm Trống Đồng Việt cổ.

Sông Mã còn gọi là sông Lễ. Bắt nguồn từ Lào hợp với các khe suối Thanh Khuê, Tăng Lang cuồn cuộn chảy tới. Hai bên bờ rừng xanh lao thẳng xuống, lòng sông rộng mà hiểm hóc, thuyền không đi nổi. Có lẽ vì thế mà “Sông Mã gầm lên khúc độc hành” (Quang Dũng).

Tôi đã đi đến đầu nguồn sông Mã tận Sơn La. Dòng sông Mã trên cao giáp nước Lào chảy dốc về xứ Thanh ôm ấp vòng eo đất Việt, trả nghĩa tình trong thế ngựa phi, trước khi hòa vào lòng biển. Sông Mã dũng mãnh hào hùng linh diệu sản sinh Văn minh lúa nước Việt tộc Sông Mã, Sông Hồng da diết trong tôi.

Sông Mã thu vào mình các dòng nước suối khe sâu đại ngàn và chia sẻ cho các dòng sông mà nó gặp. Từ sông Lô của Tầm Châu (Mai Châu), chảy về Cẩm Thủy (Thanh Hóa) nhận nước từ các khe suối Lợi Khê, Trướng Khê, chảy qua động Diệu Sơn, nhập vào huyện Vĩnh Lộc, kéo về núi An Tôn, rồi vòng vèo đi bốn phương, tám hướng thông với những cánh rừng, những đồng bằng trù phú. Bao nhiêu bến đò, cây đa, chuyện tình đã nảy nở trên những bên sông Mã đợi chờ. Bao Nhiêu đoàn quân đã qua sông Mã oai hùng tiếng gươm khua. Bao nhiêu máu xương rơi hòa vào lòng nước ngậm những oan hồn. Bao nhiêu Tinh hoa và tình yêu xứ sở.

Sông Mã chảy về hướng Bắc có bến đò Quyết, vực sâu rất nguy hiểm, nhưng lại là bến tụ những con thuyền độc mộc chở lâm, nông sản, của ngon vật lạ các vùng rừng núi phía Tây về đây lập chợ. Trên bến có chợ Cao Mật, một tháng họp mười hai phiên. Chợ hội đủ các tố chất văn hóa từ các thực phẩm, sản phẩm tinh túy đến trống kèn, vàng mã, đồ dùng quần áo của người Man, Mán, người Bắc, Nam. Cảnh bán mua trên bến, dưới thuyền nhộn nhịp nổi tiếng xứ Thanh.

Sông Mã thao thiết chảy về núi Thiên Vực lệch về hướng Tây, qua núi Đồng Cổ có đền Đồng Cổ thờ Thần Trống Đồng. Dòng chảy lại uốn lượn về Đông, đến ghềnh núi Đa Lộc hợp với sông Bưởi rồi chuyển thành Vực Tôm, có mộ tổ họ Trịnh. Mặt phía trước thủy triều từ biển lên thẳng. Đến đây sông Mã gặp biển mênh mang trong lòng nước. Ở hai bên vực mở ra hai đống cát nổi đẹp tựa cằm rồng, nửa hàm ở giữa sông. Gặp khi trời mưa giông, giống rùa, ba ba muôn hình lộ lưng trong nước. Có khi chúng bạo dạn leo lên cát nằm chơi hoặc đẻ trứng. Dân đánh cá thường kéo lưới mò bắt được nhiều con lớn lưng ba bốn thước. Có người cho rằng Cụ Rùa Hồ Gươm thuộc giống rùa lớn tại Thanh Hóa được ai đó đưa ra.

Dưới vực là khe núi Sóc Sơn chảy vào. Nước cực độc. Người nào uống chỉ một ngày là phát bệnh. Khe núi Sóc Sơn chảy về phía Đông qua chùa núi Đồng Lộc đến Biện Thượng có mộ Dục Đức phu nhân họ Trịnh.

Phu nhân là mẹ của đại vương Trịnh Kiểm quê thôn Hổ xã Vệ Quốc huyện Yên Định. Chồng mất sớm. Mẹ con tự nuôi nhau. Cậu Trịnh Kiểm chăn trâu, lên núi kiếm củi, tụ tập trẻ chăn trâu bắt trộm ngan gà, đem trâu bò làm voi ngựa, bẻ cỏ lau tập trận, bày đặt đội ngũ chiến binh. Năm mười bảy tuổi nổi danh là đạo cướp. Dân muốn giết cậu trừ họa. Trịnh Kiểm biết vội theo hầu công thần nhà Mạc là An Bang hầu, rồi lấy trộm ngựa chạy về làm hộ vệ cho Nguyễn Kim, phò tá vua Lê Trang Tông. Nhân chuyến Trịnh về quê thăm mẹ, An Bang hầu truy tìm ông, không được, lùng bắt mẹ, dìm xuống bến sông.

Sông Mã chở phù sa từ các ngọn núi về và chở trong lòng nó bao thân phận, kiếp người. Qua núi, qua khe, sông Mã chia hai nhánh chảy ra Hoằng Hóa về cửa biển Nguyệt Viên và cửa biển Hội Triều, nhập vào biển Đông. Sông Mã muôn đời “Gầm lên khúc độc hành”.

Thổ sản phong tục

Thành nhà Hồ địa linh dân ở quanh chân núi, ven sông nhuận khí đất trời. Dân trồng lúa, trồng dâu, săn bắn, đánh cá, thu lâm thổ sản trời cho. Kinh đô thành nhà Hồ, dân giỏi buôn bán, nuôi tằm, dệt vải, múa hát, võ thuật, tính tình chân thật, nồng hậu, phóng khoáng. Các nhà khoa bảng, văn học, anh hùng không thiếu. Tục thờ Thần núi, sông, đất, nước truyền muôn đời.

Sản vật nơi đây lạ và phong phú, quý hiếm: nhân sâm, nhung hươu nai, voi rừng, lợn rừng, nhím, hổ, chim công, gà núi, cá chiên, trai hến, ốc, gỗ lim, nghiến, chè, vải, long nhãn, hoa hồng, mía, khoai lang, hoàng tinh…

Danh thơm Tri huyện Lưu Công Đạo

Lưu Công Đạo người châu Hoan, giữ chức Tri huyện Vĩnh Lộc thời Gia Long. Ông ghi:

“Ta lo nghĩ. Mới ra nắm quyền chưa rõ ngọn nguồn, muốn tìm một cuốn Địa chí để xem nhưng không thấy.

Ôi! Thanh Hóa là một châu của các bậc vua chúa. Vĩnh Lộc núi sông, danh thắng, hiền tài, hào kiệt, cùng với sản vật quý. Từ các bậc già làng đến trẻ chăn trâu đều biết, ta hồ đồ không biết”.

Lưu Công Đạo vừa lo việc chính quyền vừa chu du khám phá núi sông, phong thổ, học dân, thu thập văn bản cổ, và ghi chép sách Thanh Hóa Tỉnh- Vĩnh Lộc Huyện Chí để tròn trọng trách chăm dân, giữ đất, nước, núi, sông.

Học Lưu Công Đạo, nay lãnh đạo xã, huyện, tỉnh, quốc gia, phải hiểu rõ cội nguồn Tổ Tiên, hiểu đất, nước, sông, núi, con cá, cây rau, cây lúa, ngô, khoai, khí hậu, mảnh đất mỏng dày, phong thủy đứt gẫy, mưa nắng bốn mùa, lòng dân ấm lạnh … trong từng bước chân mình. Không thể đứng lơ lửng trên không, chỉ mây, đùa gió, xây dựng hay là mắc mưu giặc trong/ ngoài tàn phá núi sông, tình người, bởi vô minh, ác tham vô đáy.

Hồn thiêng sông núi, linh khí ngập tràn luôn thức tỉnh và tiếp sức mạnh cho cháu con.

Tiếng Lý Thường Kiệt đang ầm ầm vang dậy năm châu:

“Mở túi cho Đạo và tiếng thơm rạng rỡ”.

Hồ Gươm Mùa Hoa Sen 2013.

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 09.03.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn