Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Mẫu Âu Cơ



Chùa Huyền Kỳ

Thờ Mẫu Âu Cơ




Chùa Huyền Kỳ cổ kính linh thiêng ngự tại làng Huyền Kỳ, xã Phú Lãm, huyện Thanh Oai thuộc tổng Sốm là Kinh đô cổ của Tổ Tiên Bách Việt. Chùa Huyền Kỳ mang tên ngôi làng Huyền Kỳ.

Nay xã Phú Lãm đổi thành phường Phú Lãm- quận Hà Đông- Hà Nội. Ngôi chùa Huyền Kỳ Tổ Tiên xây, giữ lại hồn làng Huyền Kỳ thuộc Thanh Oai- Kinh đô cổ.

Mồng 8 Tết Giáp Ngọ 2014. Chúng tôi và GS. TS Nguyễn Trường Tiến cùng bác Nguyễn Mạnh Can về dự Hội làng Huyền Kỳ. Bác Can sinh tại làng Huyền Kỳ, tâm hồn thơ bé thấm đẫm tiếng hát chèo, tiếng trống, mõ, tụng kinh, tiếng chuông chùa, đình, lăng mộ, miếu, đền thờ cúng, tế lễ Tổ Tiên Bách Việt và các vị có công với dân nhiều đời.

Làng Huyền Kỳ đã lên phường. Dấu thiêng làng cổ Huyền Kỳ vẫn vẹn nguyên. Phả cổ tạc chữ vàng. Ngôi đình Huyền Kỳ thờ Thành Hoàng làng là Lãnh Lãng- vị tướng thời vua Hùng thứ 18. Chùa Huyền Kỳ thờ Mẫu Âu Cơ (Bà Chúa Lính). Đình Huyền Kỳ, Chùa Huyền Kỳ được công nhận di tích Quốc gia năm 1992.

Phía sau làng, xưa là cánh đồng mênh mông, có khu mộ của một trong chín mộ vua Hùng tại tổng Sốm. Phả cổ ghi ”Miếu Quán 06”. Miếu mộ có giếng cổ. Theo chuyên gia kiến trúc, xây dựng Nguyễn Trường Tiến ”Giếng là Đại Long Mạch của vùng đất này”. Giếng đường kính khoảng mười mét, vừa được tu sửa, nước dâng đầy. Khí lành tỏa bốn phương, tám hướng. Cây quéo cổ thụ rêu phong, xanh tươi mấy người ôm không xuể.

Chúng tôi nhiều lần về chùa Huyền Kỳ (Hiển Linh Tự) nghe câu ca dân làng Huyền Kỳ đều thuộc.

Câu ca Báo Người Cao Tuổi đòi trả lại đất chùa Huyền Kỳ, được in to đậm dưới linh ảnh Phật, tại phòng khách của ni sư Thích Đàm Thúy, trụ trì chùa Huyền Kỳ:

Đất chùa nào phải bánh trôi
Nuốt vào là hóc mấy đời đấy con

Chùa Huyền Kỳ ngự phía Tây Nam làng Huyền Kỳ. Từ Hồ Gươm vào Hà Đông, qua quốc lộ số 6 đến Ba La, rẽ trái theo quốc lộ 22, khoảng 3m là tới chùa.

Ngôi chùa linh hiển giữa đường lớn của làng. Mặt tiền rất rộng, bị bao chắn bởi những khối nhà bê- tông là xưởng của Hợp tác xã Sơn Mài Huyền Kỳ chiếm đóng mấy chục năm. Hợp tác xã chiếm đất chùa làm ăn sa sút, chủ nhiệm bỗng bị chết, phải giải tán. Họ vẫn không biết sợ. Không trả lại đất chùa. Mặc cho dân làng liên tục phát đơn kiện đòi trả đất.

Bản đồ khoanh vùng di tích Quốc gia, đất cổ chùa Huyền Kỳ hiện rõ vành đai một, là nơi thờ tự bất khả xâm phạm. Vành đai hai, là vườn chùa, mặt tiền, Tam quan, đường vào chùa, bảo vệ vành đai một. Hiện trạng, chùa bị cái gọi là ”Hợp tác xã Sơn Mài ma” chiếm và cho đơn vị khác thuê. Họ cấp sổ đỏ 3367 mét vuông đất chùa bị chiếm.

Dân làng Huyền Kỳ kiện đòi đất chùa triền miên từ thời thuộc tỉnh Hà Sơn Bình, nay lên Thành phố Hà Nội. Sự thể vẫn trơ trơ.

Công văn chồng đống. Các cấp đi lại, họp hành tốn tiền thuế của dân. Ngày 24- 12- năm 2013. Cục Di sản Văn hóa ra quyết định thu hồi đất di tích chùa Huyền Kỳ tại phường Phú Lãm quận Hà Đông theo đúng bản đồ khoanh vùng bảo vệ. ”Hợp tác xã ma” vẫn không trả đất. Người thuê lại đất chiếm của chùa làm ăn lèo tèo, thưa vắng, chỉ cốt chiếm đất mà thôi. Ai đó bày mưu đầu tư tiền tu bổ, tôn tạo Tam Bảo chùa Huyền Kỳ. Không trả đất chùa đã bị chiếm.

Cây cao bóng cả, già làng đâu dễ bị tiền nó lừa. Tiếp tục kiện. Ngày 8- 1- 2014. Phó Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao du lịch Hà Nội ký công văn trả lời, đề nghị thu hồi đất bị chiếm của chùa Huyền Kỳ rồi làm dự án tu bổ, bảo tồn chùa Huyền Kỳ.

Chùa Huyền Kỳ Thờ Mẫu Âu Cơ

Chùa Huyền Kỳ được xây dựng lâu đời. Là ngôi chùa cổ, làng Việt cổ- Kinh đô cổ Phong Châu của Tổ Tiên Bách Việt vùng tổng Sốm.

GS. Nguyễn Trường Tiến viết: ”Chùa Huyền Kỳ là một công trình kiến trúc và điêu khắc cổ. Các hạng mục công trình còn đầy đủ và được bảo tồn, bảo vệ rất tốt. Chùa rất linh thiêng và Mẫu Âu Cơ hiển linh ở ngôi Chùa  này. Vì vậy có tên là Hiển Linh Tự. Tên chùa Huyền Kỳ nghĩa là Huyền Quang, Kỳ Diệu. Là Trời đen có Ánh Sáng. Ánh hào quang kỳ diệu của các anh linh.

Chùa được xây dựng trên đất Phong Châu cổ, Kinh Đô của Vua Kinh Dương Vương (Xích Quỷ, Quỷ Đỏ là một ngôi sao ở phương nam trong 28 ngôi sao lớn) nhà nước Văn Lang của Lạc Long Quân, Âu Cơ và 108 Vua Hùng. Nơi đây có Mộ , có Đình, có Đền, có Chùa, có Miếu liên quan đến Tổ Tiên Người Việt”.

Chùa Huyền Kỳ- Kho báu Tâm linh Việt

Đây là một ngôi chùa lớn với lối kiến trúc cổ và hệ thống tượng pháp đẹp, thâm hậu Tâm linh Tổ Tiên Việt, được dân làng Huyền Kỳ, đời nối đời thờ phụng, nâng niu, tu hành theo Mẫu Phật. Ngôi chùa cổ gần Kinh kỳ- Kẻ Chợ - Hà Nội, nổi tiếng mười phương. Du khách nhiều đời nguyện cầu, tham quan, cúng dường tôn tạo, bảo tồn chùa.

Với hệ thống tượng Phật, tượng Tổ Tiên, Động Thủy, Động Tiên, hai bức phù điêu Thập Điện, Tam Bảo, Điện thờ Mẫu, Điện thờ Bà Chúa Lính- Mẫu Âu Cơ... Chùa Huyền Kỳ thấm đẫm Tâm thức người Việt về Đạo Mẫu, Đạo Phật, Đạo thờ Thần Thánh, Tổ Tiên Việt, độc đáo về nghệ thuật điêu khắc, tạo hình, sơn mài. Là sáng tạo Tinh hoa Văn hóa Việt, hun đúc mấy ngàn năm của Tổ Tiên Bách Việt. Là kho báu Tâm linh Tổ Tiên truyền hôm nay và mai sau.

Dù chùa Huyền Kỳ đang bị chiếm, chắn bê- tông phía ngoài, nhưng khi chúng tôi kính cẩn trước Tam Bảo, Điện Mẫu, Điện thờ Bà Chúa Lính (Mẫu Âu Cơ) cảm nhận một không gian thiêng, ấm lành, thanh thản, bình yên.

Điện thờ Mẫu Âu Cơ xây riêng, ngự bên ngoài gian Tam Bảo. Bác Can bảo nhiều thời trai làng Huyền Kỳ ra trận, đều vào chùa Huyền Kỳ cầu nguyện Bà Chúa Lính phù trợ. Phả cổ ghi Bà Chúa Lính là tên dân gian gọi Mẫu Âu Cơ.

Theo nhóm lập hồ sơ chùa Huyền Kỳ là Đặng Bằng, Nguyễn Hữu Thức, Nguyễn Đình Lam lưu tại Bảo tàng Hà Sơn Bình cũ, hệ thống tượng Mẫu Phật, chùa Huyền Kỳ đậm chất dân gian Việt, thờ Đạo Mẫu, Đạo Phật.

Hai bên tả, hữu phía sau Tam Bảo có hai Động. Động Thuỷ và Động Tiên. Mỗi Động có 157 pho tượng nhỏ. Thờ các vị Tổ Bách Việt, Mẫu Hương Vân Cái Bồ Tát, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Âu Cơ.

Động Thủy và Động Tiên mô tả cuộc sống hang động của người Việt cổ, thời Cực Lạc, thời Phục Hy, thời Mẫu Hương Vân Cái Bồ Tát Đỗ Quý Thị tu thành Đạo Mẫu Việt.

Đặc biệt Chùa có hai bức phù điêu quý, mô tả Thập Điện, đắp nổi, sơn son thiếp vàng, hiếm có. Mô tả cuộc sống sau khi chết và các cảnh giới nhân quả. Có ý nghĩa triết học và đạo đức cao. Luật Nhân quả, luân hồi, tiến hoá, thoái hoá được mô tả trên hai bức phù điêu có kích thước là 2.16 m nhân với 1.08 m.

Chùa Huyền Kỳ có 335 pho tượng quý, được chế tác từ gỗ và nghề sơn mài truyền thống của làng.

Ba pho Tượng Phật Tam Thế cao 95 cm ở hàng trên cùng trong tư thế Thiền định. Ba pho tượng này tạc bằng gỗ, được sơn một cách công phu. Kỹ thuật sơn truyền thống, lấy sơn sống, trộn với đất, quét lên tượng gỗ mài phẳng gọi là hom, rồi sơn lót, sơn thếp, sơn phủ, sơn cần. Sau đó thếp vàng, thếp bạc. Trải mấy trăm năm, tượng chùa Huyền kỳ, bền màu, nước sơn nâu óng màu Thiền.

Lớp thứ hai là Tượng Phật A Di Đà cao 91 cm.

Lớp thứ ba là Tượng Di Lặc , cao 72 cm , hai bên có Kim Đồng và Ngọc Nử hầu.

Lớp thứ tư là Tượng Ngọc Hoàng Thượng đế Kinh Dương Vương. Hai bên là Tượng Thổ Địa và Thánh Tăng.

Lớp thứ năm là Tượng Nam Tào Bắc Đẩu.

Lớp thứ sáu là tượng Cửu Long. Chín con Rồng tượng trưng cho chín con suối và chín ngôi mộ các vua Hùng đã sinh ra chín họ Hùng Vương gọi là Thủy Tổ Cửu Tộc.

Hai bên Thượng Điện có hai động có vòm bằng đất. Bên phải là Động và Tượng của Thị Kính, cao 85 cm, bế bé con của Thị Mầu, gọi là Quan Âm Tống Tử. Cạnh Quan Âm Thị Kính có con vẹt là hậu thân của Thiện Sĩ.

Phía trên động vó 157 pho tượng nhỏ. Có Tượng Tam Thế, A Di Đà, Thái thượng Lão quân, Đường Tăng ở các tư thế khác nhau.

Bên trái Thượng Điện là Động của Bà Chúa Ba, tức Phật Bà Quán Thế Âm Bồ Tát. Tượng cao 85 cm, tọa Đài sen. Bà là con Vua Diệu Trang Vương, quyết chí đi tu và thành chính quả. Bà giúp dân trừ yêu quái ở sông nước. Trên động là 157 pho tượng, mô tả cảnh sống sông nước, văn minh sông Hồng, có tôm đánh trống, cá thổi kèn... Mừng vui yêu quái đã bị diệt. Nhịp sống Thái hoà.

Đất làng Huyền kỳ là đất tụ thuỷ, dân làng Huyền Kỳ giỏi điêu khắc và sơn mài, đã thu lượm các tinh hoa của cả vùng, về làm Chùa làng.

Hai bên thượng điện là hai bức tượng Khuyến Thiện và Trừng ác , cao 235 cm. Rất đẹp và là một tác phẩm điêu khắc quý. Hai bên Thượng Điện thờ Đức Thánh Hiền và Đức Ông ( Cha) tượng trưng cho Thánh và Thần.

Bên trái Tam Bảo là Đền Thờ Thánh Mẫu. Chính  giữa là Tam Toà Thánh Mẫu (Mẫu Hương Vân Cái Bồ Tát, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Âu Cơ) với những pho tượng Mẫu rất đẹp, dưới là các Quan và các Ông Hoàng. Bên phải thờ Đức Trần Triều. Bên trái là Tứ Phủ. Mẫu Thượng Thiẽn thờ trong động bằng đất, được chạm rất công phu và tinh xảo.

Tổng thể kiến trúc chùa Huyền Kỳ nhìn về phía Nam. Trước cửa là ao, vườn chùa hoa thơm, táo chín, chim ca.

Bên phải có Đền Bà Chúa Lính (Mẫu Âu Cơ) với một pho tượng Mẫu Âu Cơ nhỏ nhẹ, bí ẩn, linh thiêng.

Đền thờ Mẫu Âu Cơ khiêm nhường, linh hiển trong ngôi chùa Huyền Kỳ, nên gọi Hiển Linh Từ.

Kiến trúc của Chùa là chữ Công, có Tam quan. Tam quan dài 14.2 m, rộng 11 m, chia làm ba gian. Gian bên phải treo một chuông lớn, đúc năm Minh Mạng thứ 9, ngày 22/3/1828.

Qua Tam quan là một sân gạch nhỏ và Toà Tiền Đường, rộng 11 m, dài 9.5 m. Chia làm năm gian. Gian giữa chạm một mặt Hổ phù lớn, sơn son thếp vàng, dưới có ba chữ Hiển Linh Tự.

Nổi bật ở gian giữa là hai câu đối :

" Quốc gia hữu Vĩnh Sơn hà cố
Phật Đạo vô cùng Nhật Nguyệt trường"

Nghĩa là:

" Nước Nhà còn mãi Non Sông vững
Phật Đạo vô cùng, trường tồn như Ngày Đêm "

Ý nghĩa sâu sa của đôi câu đối này Quốc gia phải tựa vào sông núi và Đạo Phật để trường tồn và vững vàng. Đạo Phật hợp với Đạo Mẫu Hương Vân Cái Bồ Tát, là nền tảng triết học của Tổ Tiên Bách Việt.

Phía trong toà Tiền Đường, giáp với Trung Cung là hai bức cồn lớn điêu khắc tích "Ngư Long Hý Thuỷ" . Trung tâm bức trướng là một Ông Rồng lớn, miệng phun nước. Dưới thân Rồng là một con Cá Chép đang lao mình lên, vượt Vũ Môn để hoá Rồng. Toàn bộ bức cồn được sơn son thếp vàng với mầu sắc rất tự nhiên.

Bức cồn bên trái cũng là "Cá Rồng vui với sông Nước"  Huyền Kỳ. Bên cạnh Rồng và Cá Chép là đôi Sóc đang trèo cây, con Nghê đùa rỡn với con Cua. Đây là những con vật gần gũi với người nông dân Việt, được nâng thành linh thiêng.

Kiến trúc của Chùa đều theo bốn hàng cột gỗ và chồng giường cột. Hệ thống xà nách, cột quân, tường gạch, lợp ngói đã cho phép khép kín các không gian là Tiền Đường, Trung Điện và Thượng Điện.

Chùa Huyền Kỳ là tài sản có các giá trị văn hoá và tâm linh cao cả. Độc đáo và có bản sắc riêng về những pho tượng thờ Mẫu, Phật, Thánh, Thần và Tổ Tiên Bách Việt. Với 335 pho tượng quý, linh thiêng, có giá trị nghệ thuật cao.

Đạo Mẫu Mật Truyền

Chúng tôi ngỡ ngàng, chưa từng thấy một ngôi chùa nào có pho tượng Phật Mẫu Chuẩn Đề bề thế, cao vững, trang trọng, uy linh như ở chùa Huyền Kỳ. Điện thờ Phật Mẫu Chuẩn Đề bên phải Đền thờ Mẫu Âu Cơ với pho tượng Phật Mẫu Chuẩn Đề lớn, cao sát nóc điện tầng hai gian nhà khách của chùa.

Ông Nguyễn Vân Liên con cụ Nguyễn Vân Tằng, có điện thờ Mẫu Hương Vân Cái Bồ Tát, đứng trước pho tượng Phật Mẫu Chuẩn Đề chùa Huyền Kỳ giải thích: ”Phật Mẫu Hương Vân Cái Bồ Tát tu Đạo Sa Bà hay Sa Môn giáo theo Hư Không Giáo Chủ Phục Hy trên 5000 năm trước, được dân Việt tôn thờ là Phật Mẫu Chuẩn Đề”.

Từ ”Sa môn” tiếng Phạn gọi là Samana. Sa môn nghĩa là người rời bỏ gia đình, sống đời viễn ly. Ly dục, ly xã hội, là người ăn chay, tụng niệm thần chú, thực hành giới, định, tuệ.

”Dựa vào ngọc phả, Thần tích, ngày nay chúng ta biết Tổ Tiên Bách Việt trên đất Việt 5000 năm trước đã có Đạo Sa Bà hay Sa Môn giáo. Phả cũ nói rõ đất Việt là Trung tâm giáo chủ của 37 Vương quốc theo Đạo Sa Bà. Cụ Phục Hy theo đạo Sa môn giáo, được tôn đạo hiệu là Vô Thượng Hư Không giáo chủ Đế Thiên Phục Hy. Cách đây trên 2.500 năm Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tu và Giác Ngộ. Đạo Phật đã nở hoa kết trái nơi đất Việt rất sớm, nhờ nền tảng Đạo Sa Bà của Bách Việt”. (Sách Đi Tìm Tổ Tiên Việt- trang 79).

Chuẩn Đề là một vị bồ tát trong trường phái Đại thừa. Pháp môn tu hành của Phật Mẫu Chuẩn Đề trì tụng bài chú: ”Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đà Câu chi nẫm, đát diệt tha: án, chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha”.

Ông Nguyễn Vân Liên cùng chúng tôi chiêm ngắm pho tượng Phật Mẫu Chuẩn Đề chùa Huyền Kỳ. Mẫu Phật được tạc bằng gỗ, hiện thân đúng như trong Chuẩn Đề Phật Mẫu Đà La Ni Kinh.

”Có nhiều vẻ quang minh tốt đẹp, đều chiếu diệu cả mình, còn thân tướng thì sắc vàng mà có lằn điển quang trắng. Chỉ ngồi kiết già, trên thì đắp y, còn dưới thì mặc xiêm đều trọn một sắc trắng mà có bông, lại có đeo chuỗi anh lạc và trên ngực có hiện ra một chữ “vạn”.Còn hai cườm tay có đeo hai chiếc bằng ốc trắng, hai bên cánh tay trỏ có xuyến thất châu coi rất xinh lịch, lại hai trái tai có được ngọc bửu đương và trong các ngón tay đều có đeo vòng nhỏ. Trên đầu thì đội mão Hoa quang, trên mão ấy có hóa hiện ra năm vị Như Lai. Khuôn mặt có ba mắt, mỗi con mắt ấy có ánh nhìn sắc sảo. Toàn thân có mười tám cánh tay, mỗi bên chín cánh. Hai bàn tay ở trên hết thì kiết ấn Chuẩn đề, như tướng đương lúc thuyết pháp. Tay trái thứ hai cầm lá phướn như ý, còn tay mặt cầm cái thí vô úy. Tay trái thứ ba cầm một bông sen đỏ, còn tay mặt cầm cây gươm. Tay trái thứ tư cầm một bình nước, còn tay mặt cầm một xâu chuỗi Ni ma bửu châu. Tay trái thứ năm cầm một sợi dây Kim cang, còn tay mặt cầm một trái la ca quả. Tay trái thứ sáu cầm một cái bánh xa luân, còn tay mặt cầm một cái búa. Tay trái thứ bảy cầm cái pháp loa, còn tay mặt cầm cái thiết câu.Tay trái thứ tám cầm một cái bình như ý, còn tay mặt cầm một cái chày kim cang. Tay trái thứ chín cầm một cuốn Kinh Bát nhã Ba La Mật, còn tay mặt cầm một xâu chuỗi dài. Bồ tát Chuẩn Đề ngồi trên tòa sen, dưới có hai vị Long Vương ủng hộ.”

Ông Nguyễn Vân Liên, cùng tôi cảm nhận pho tượng Phật Mẫu Chuẩn Đề mười tám tay. Mười tay Phật Mẫu cầm Pháp khí Mật tông. Tám tay cầm vũ khí. Nghệ nhân Việt tạc tám tay Mẫu Phật Chuẩn Đề cầm tám loại vũ khí trừ giặc nội, ngoại xâm, trừ tà ma, quỷ quái, là tám loại vũ khí của Bát Bộ Kim Cương, tám em trai Hương Vân Cái Bồ Tát- Đỗ Quý Thị, cùng cháu là Nguyễn Lộc Tục (Kinh Dương Vương) đánh thắng giặc.

Đạo Mẫu Việt hiển hiện qua Mẫu Hương Vân Cái Bồ Tát- được dân tôn Phật Mẫu Chuẩn Đề, có giá trị triết lý cao siêu, mãnh lực thâm sâu, huyền bí, thu cả vũ trụ bằng con mắt thứ ba, cải tạo tà ma, yêu thương, từ mẫu, tu tập, rèn thân tâm theo Mật tông Việt cổ. Đó là phương pháp Tổ Tiên ta tiếp nhận được, để khai mở những khả năng đặc biệt của con người. Là cánh cửa mở đa tầng tư duy. Không khép kín trong một khung lý sự gò ép. Ý thức nhường chỗ cho vô thức để tiếp cận với vũ trụ và vạn vật.

Đạo Mẫu Mật Truyền. Tổ Tiên Bách Việt tu đạo Sa môn giáo thành Đạo Mẫu Việt đã thấu nguyên lý vũ trụ toàn đồ. Tế bào của con người, vũ trụ, muôn loài, hòa hợp. Thiên- Địa- Nhân hợp nhất. Con người là tiểu vũ trụ. Con người phải hòa hợp với thiên nhiên. Sống trái ngược thiên nhiên là diệt vong. Trí tuệ là hiện thân của tạo hóa. Tạo hóa là một trường thông tin năng lượng hư không. Con người là một trường thông tin, kết nối với trường thông tin tạo hóa. Nó nằm ở phần vô thức. Con người càng ngây thơ, trong sạch, càng dễ kết nối với trường thông tin vũ trụ.

Đạo Mẫu Mật Truyền Kết nối vũ trụ. Đây là mạch nguồn Đạo Mẫu, để hơn 2000 năm sau, nhanh chóng hòa vào Đạo Phật Thích Ca Mâu Ni, thấu luật Nhân Quả. Con người ngộ Luật Nhân Quả của vũ trụ không dám sống tham, ác.

Người Việt tiếp thu Đạo Phật Thích Ca Mâu Ni, hồn nhiên, bằng trực giác, vô thức, nên hòa hợp nhanh. Người Trung Quốc duy lý, thực dụng, tính toán hơi bị lâu, nên Đạo Phật Thích Ca Mâu Ni vào Trung Quốc khó khăn.

Trường năng lượng tâm linh của người Trung Quốc thấp hơn người Việt vì họ duy lý. Bởi thế, Cao Biền ra sức trấn yểm long mạch nước Nam, vẫn phải ôm đầu chạy về nước mà than: “ Ôi! Vượng khí nước Nam, không đời nào hết được”.

Mới đây, một nhà khoa học Tâm linh Việt tại Hà Nội nói với tôi: “Chẳng ngại gì ai trấn yểm đất nước ta. Trường năng lượng của người Việt rất lớn. Vấn đề là chúng ta phải biết và thực hành, lắng nghe tiếng nói Chân Thiện Mỹ, cùng nhau gìn giữ núi sông”.

Chân Thiện Mỹ là tiêu chí để phân biệt với mê tín, dị đoan, lừa mỵ, dối trá, lợi dụng, u tối. Chân Thiện Mỹ ai cũng dễ nhận ra.

Đạo Mẫu Mật Truyền. Đây là mạch nguồn Trí huệ, để 2500 sau, Tổ Tiên ta sáng tạo Trống Đồng. LINH PHÙ VIỆT TỘC.

“ Trống Đồng LINH PHÙ VIỆT TỘC

Các nhà nghiên cứu Năng Lượng Vũ Trụ, bằng nhiều phương pháp khoa học, đã khẳng định Tổ hợp hoa văn trên Trống Đồng Ngọc Lũ là mô hình toàn đồ Hiệu ứng Trường xoắn vũ trụ. Mô hình này là quỹ tích Trường xoắn Năng Lượng cực mạnh, nảy sinh và duy trì Năng Lượng cho vạn vật”. (Sách Đi Tìm Tổ Tiên Việt- trang 15).

Dự án bảo tồn xây dựng Chùa Huyền Kỳ

GS. TS. Nhà kiến trúc Nguyễn Trưòng Tiến cùng tuổi với tôi. Không dư sức khỏe và tiền của, nhưng chúng tôi biết mình phải sám hối trước Tổ Tiên Việt. Phải làm những việc Chân Thiện Mỹ, giúp cháu con trở về Đạo Mẫu Phật Việt. Thay đổi cách nghĩ suy theo nguyên lý Đạo Mẫu Mật Truyền. Không duy lý, cứng nhắc, phụ thuộc. Nhìn bằng con mắt thứ ba, Huệ nhãn, Trí huệ, thấu Nhân Quả. Tu nhân, tích đức, sống một đời thanh bình, thương yêu, đoàn kết, như Tổ Tiên Bách Việt ta đã từng sống và gìn giữ non sông, đánh thắng mọi kẻ thù, trao lại cho chúng ta.

GS. Nguyễn Trường Tiến nghe tiếng gọi của bô lão và dân làng Huyền Kỳ, đã liên tục về chùa Huyền kỳ, khảo sát, đo đạc, nghiên cứu, cảm nhận Tâm linh, và thâu đêm viết Dự án bảo tồn xây dựng chùa Huyền Kỳ.

Dự án viết: “Quy hoạch tổng thể Chùa Huyền Kỳ để bảo vệ một di tích lịch sử quốc gia theo luật định. Trả lại sự thật về nơi Mẫu Âu Cơ hiển linh và phần Mộ của Bà và các Vua Hùng. Tổ Tiên phải ẩn tích, bảo vệ phần mộ và Đền thờ linh thiêng không bị kẻ xấu phá và trấn yểm. Nay đã đến thời Tổ Tiên Hiển Linh “Rửa sạch nỗi thẹn ngàn thu/ Dựng nền Thái bình muôn thuở” (Nguyễn Trãi). “500 năm nữa, Việt Nam Thái bình, mười phương tìm đến, con cháu lại về với Tổ Tông.” (Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Dự án được lập để trả lại diện tích đất của Chùa Huyền Kỳ thờ Mẫu Âu Cơ đã bị lấn chiếm.

Cải tạo và nâng cấp các công trình tâm linh của Chùa và Đền Thờ Quốc Mẫu Âu Cơ…

Gắn Chùa Huyền Kỳ Thờ Mẫu Âu Cơ với Mộ của Mẫu Âu Cơ ở Chùa Thượng Mạo, Khu mộ của Vua Hùng (Miếu Quán 06) trong tổng thể các công trình Tâm linh của tổng Sốm Kinh đô cổ Phong Châu. Xây mộ Mẫu Âu Cơ ở Chùa Thượng Mạo, Phú Lương và xây Mộ Vua Hùng (Miếu Quán 06) ở Phú Lãm, gần Chùa Huyền Kỳ”…

Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát.

Hồ Gươm sau Rằm tháng Giêng 2014.

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 22.02.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn