TÁC GIẢ
TÁC PHẨM




NGUYỄN MAN NHIÊN



. Tên thật: Nguyễn Viết Trung

. Sinh năm 1956 tại Nha Trang, Khánh Hoà.

. Nhà thơ; nhà nghiên cứu văn hóa dân gian; Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hòa; Hội viên Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam.

. Hiện công tác tại tạp chí Nha Trang.

- TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

- Thơ Khánh Hoà 1975 - 2000 (NXB Văn Học, 1999), đồng tác giả
- Tuyển tập Thơ Khánh Hòa 2000 - 2005 (Hội VHNT Khánh Hòa xuất bản, 2006), đồng tác giả
- Văn hóa phi vật thể Khánh Hoà (NXB Văn hóa dân tộc, 1999), đồng tác giả
- Khánh Hoà - Diện mạo văn hóa một vùng đất (7 tập, 1988 - 2006), đồng tác giả
- Nghề truyền thống ở Khánh Hoà (Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam xuất bản, 2001)
- Địa chí Khánh Hoà (NXB Chính trị quốc gia, 2003), đồng tác giả
- Tìm hiểu giá trị lịch sử và văn hóa truyền thống Khánh Hoà 350 năm (NXB Chính trị quốc gia, 2003), đồng tác giả
- Diện mạo văn hóa Khánh Hoà (NXB Chính trị quốc gia, 2003), đồng tác giả
- Đất và người duyên hải miền Trung (NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2004), đồng tác giả
- Từ dinh Thái Khang đến tỉnh Khánh Hòa (Hội VHNT Khánh Hòa xuất bản, 2004), đồng tác giả
- Văn nghệ dân gian Khánh Hòa - tác giả, tác phẩm (Hội VHNT Khánh Hòa xuất bản, 2006), đồng tác giả



























TỪ DINH THÁI KHANG ĐẾN TỈNH KHÁNH HÒA




Trong lịch sử dân tộc, vùng đất Khánh Hòa ngày nay chính thức trở thành đất đai Đại Việt vào năm 1653. Nằm ở miền duyên hải Nam Trung bộ, là phần đất liền của Tổ quốc nhô ra xa nhất về phía đông, vùng đất mà người xưa từng đánh giá là “có hình thế trọng yếu của một phương”, nơi từ lâu đã nổi danh với cái tên “xứ trầm hương”, tính đến nay đã hơn 350 năm hình thành và phát triển.



  I. KHÁNH HÒA TRƯỚC NĂM 1653

1.1 NHỮNG DẤU TÍCH CỦA CON NGƯỜI THỜI TIỀN - SƠ SỬ TRÊN ĐẤT KHÁNH HÒA


Từ giữa thế kỷ XVII, vùng đất Khánh Hòa ngày nay đã trở thành một phần lãnh thổ của nước ta. Nhưng lịch sử vùng đất này không phải chỉ bắt đầu từ đó mà đã trải qua một quá trình thành tạo và phát triển từ những năm xa xưa trước Công Nguyên. Thời gian qua, giới nghiên cứu đã phát hiện và khai quật được trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa nhiều di chỉ khảo cổ học thời tiền - sơ sử, trong đó đáng chú ý là những di tích mộ táng và nơi cư trú mang đặc trưng văn hóa Sa Huỳnh, tiêu biểu nhất là di chỉ Hòa Diêm có niên đại khoảng 2000 - 2500 và khu mộ chum Diên Sơn (thuộc huyện Diên Khánh) có niên đại cách ngày nay khoảng 2000 năm, đã xác nhận sự hiện diện của chủ nhân văn hóa Sa Huỳnh ở Khánh Hòa, nối liền địa bàn sinh tụ của người Sa Huỳnh xưa từ Quảng Trị tới các tỉnh phía Nam.
Cùng với những di tích thuộc văn hóa Sa Huỳnh cổ điển, còn nhiều di tích có niên đại sớm hơn văn hóa Sa Huỳnh cũng được phát hiện như Xóm Cồn, Bình Hưng, Bình Ba (thuộc huyện Cam Ranh), Bích Đầm, Bãi Trủ, Đầm Già (đảo Hòn Tre, thành phố Nha Trang). Các địa điểm này hợp thành một quần thể di tích chứa đựng những nét chung về đặc điểm, tính chất, nội dung văn hóa và niên đại, cho phép xác lập một nền văn hóa khảo cổ mới mang tên địa điểm đầu tiên được phát hiện: văn hóa Xóm Cồn (1). Với niên đại C14 của Xóm Cồn (lớp dưới) là 4140+80 năm và Bích Đầm (lớp dưới) là 2935+65 năm cách ngày nay, văn hóa Xóm Cồn từng tồn tại trước văn hóa Sa Huỳnh, chắc chắn có nhiều đóng góp vào sự hình thành Sa Huỳnh sau này. Có thể nói, chủ nhân văn hóa Xóm Cồn thuộc lớp cư dân đầu tiên của mảnh đất Khánh Hòa, định cư ở vùng ven biển, khai thác thế mạnh của rừng và biển.

1.2 MỘT GIẢ THUYẾT VỀ KHÁNH HÒA

Tên Khánh Hòa được sử dụng lần đầu tiên dưới triều vua Minh Mạng nhà Nguyễn, nhưng trước đó, bia ký, sử sách đã ghi chép về vùng đất này. Trở lại những năm trước Công Nguyên, sau khi nước Âu Lạc bị nhà Hán chinh phục, vùng Bắc bộ và Trung bộ nước ta ngày nay được nhà Hán chia làm 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân là lãnh thổ của nước Âu Lạc xưa, còn quận Nhật Nam là vùng đất mà người Chăm sau này lập thành nước Lâm Ấp - có địa vực trải dài từ Hoành Sơn đến Quảng Nam. Thời bấy giờ nhà Hán mới chỉ thiết đặt bộ máy cai trị đến quận Nhật Nam nên đối với các vùng đất xa hơn về phía nam, do thiếu hiểu biết cặn kẽ nên thư tịch cổ của Trung Quốc đều gọi một cách chung chung là “các nước man di ở ngoài cõi Nhật Nam” (!?). Sau này, khi viết về tỉnh Khánh Hòa, sách “Đại Nam Nhất Thống Chí ” của Quốc sử quán triều Nguyễn còn dẫn lời một sử gia Trung Quốc là Tống Bạch nói: “Mã Viện nhà Hán đánh Giao Chỉ, đi về phía nam hơn 400 dặm đến nước Lâm Ấp, lại đi phía nam hơn 200 dặm đến nước Tây Đồ Di. Viện dựng 3 cột đồng ở biên giới Tượng Lâm, chia ranh giới với Tây Đồ Di. Lại nói Tây Đồ Di bị Chiêm Thành chiếm, sau là đất Chiêm Thành” (2). Dẫn lời Tống Bạch, có lẽ các sử gia triều Nguyễn cũng thừa nhận thuyết cho rằng đất Khánh Hòa xưa kia thuộc nước Tây Đồ Di. Giả thuyết này trong một thời gian dài được hầu hết các sách báo, tài liệu, địa phương chí… lặp lại như một sử liệu chính thống, chẳng hạn sách “Đại Việt địa dư toàn biên” của Nguyễn Văn Siêu soạn dưới thời Tự Đức cũng ghi như sau: “Tỉnh Khánh Hòa xưa là một nước ở ngoài cõi Nhật Nam, cũng có tên gọi là nước Tây Đồ Di, sau bị nước Chiêm Thành chiếm mất ” (3).
Thật ra, khi tham khảo thư tịch cổ Trung Quốc, cần biết rằng hầu hết các tài liệu này được viết ra trong thời chưa có bản đồ vẽ theo tọa độ nên cách mô tả phương hướng hay lộ trình thường rất mơ hồ, quanh co. Vì vậy nếu dựa vào các tài liệu này để xác định vị trí của một số nước nhỏ hoặc những nước chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi vào thời đó thì sẽ rất khó khăn và thiếu chính xác. Về vị trí của cái gọi là “cột đồng Mã Viện”, các sách “An Nam chí lược” của Lê Tắc (thế kỷ XIII)(4) và “Đại Việt sử kí toàn thư” của Ngô Sĩ Liên (thế kỷ XV)(5) khi kể lại việc tướng nhà Tùy là Lưu Phương đem quân đi đánh Lâm Ấp năm 605 đều viết: “Phương tiến quân đuổi theo, vượt qua phía nam cột đồng Mã Viện, đi tám ngày nữa đến quốc đô Lâm Ấp ” . Mà kinh đô Lâm Ấp lúc bấy giờ là Simhapura (thành phố Sư Tử) đóng tại Trà Kiệu (thuộc huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam hiện nay). Vượt qua “cột đồng Mã Viện”, Lưu Phương còn phải đi mất 8 ngày nữa mới tới kinh đô Lâm Ấp, từ đây còn phải đi xa hơn nữa về phía nam mới đến xứ Kauthara của vương quốc Chăm-pa (tương ứng với vùng đất Khánh Hòa ngày nay). Như thế vị trí của cột đồng Mã Viện và cả vị trí của nước Tây Đồ Di (nếu có) chỉ có thể ở đâu đó trên vùng Bình Trị Thiên ngày nay. Trong tác phẩm “Vương quốc Chăm-pa” (6) xuất bản năm 1928, nhà nghiên cứu G. Maspéro cũng cho rằng miền cực nam mà cột đồng có thể được dựng lên là miền Thừa Thiên - Huế ngày nay. Vậy thì làm sao có thể cho rằng đất Khánh Hòa xưa kia thuộc nước Tây Đồ Di được. Về việc này, trong sách “Việt sử cương giám khảo lược” , Nguyễn Thông(1827-1884) đã có những nhận xét rất xác đáng: “Cột đồng Mã Viện, sử sách các triều đại Trung Quốc truyền lại chỉ là một việc nói cho vui. Kẻ trước người sau kế tiếp bịa đặt thêm thắt vào nhưng đều không nói chính xác là ở chỗ nào… Gần đây, các nhà soạn sách Nhất thống chí của nước Nam còn muốn lấy núi Thạch Bi tỉnh Phú Yên làm nơi có dựng cột đồng để cho hợp với thuyết nói rằng phía tây có nhiều núi đá, phía đông có nhiều vùng bể, ấy là vì họ chưa khảo cứu kỹ” (7).

1.3 KHÁNH HÒA TRONG THỜI ĐẠI CHĂM-PA

Cuối thế kỉ II sau Công Nguyên, lịch sử ghi nhận sự ra đời của nhà nước Chăm-pa (thư tịch cổ Trung Quốc và Việt Nam gọi bằng các tên Lâm Ấp, Hoàn Vương và Chiêm Thành) mà lãnh thổ trải dài theo ven biển Trung bộ Việt Nam ngày nay. Vương quốc chia thành 4 vùng gồm: vùng Amaravati (Bình Trị Thiên, Quảng Nam - Đà Nẵng) và Vijaya (Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên) thuộc miền Bắc; vùng Kauthara (Khánh Hòa) và Panduranga (Phan Rang - Phan Rí -Phan Thiết) thuộc miền Nam. Tên Kauthara xuất hiện lần đầu trên văn bia Chàm ở thế kỷ VIII. Thời kỳ này uy thế chính trị nghiêng về thị tộc Cau, một trong hai thị tộc lớn cấu thành nhà nước Chămpa. Với vương triều Panduranga, trung tâm quốc gia chuyển từ miền Bắc vào miền Nam. Thánh đô Pô Na-ga, nơi thờ nữ thần Yang Pô I-nư Na-ga (Quốc mẫu) đã được xây dựng “ở cạnh Kauthara và cạnh biển” (9) mà nay ta còn thấy di tích Tháp Bà trên đồi Cù Lao bên cửa sông Cái, Nha Trang.
Xứ Kauthara chính là Cổ Đát quốc mà người Trung Hoa xưa thường gọi. Thư tịch cổ Trung Quốc như Hán thư và Hậu Hán thư cũng như các tư liệu hàng hải của phương Tây cho thấy vào khoảng thế kỷ II sau Công Nguyên đã hình thành đường hàng hải quốc tế từ vùng biển Địa Trung Hải đến biển Đông qua nước ta. Căn cứ vào những ghi chép của Giả Đam, một nhà du hành nổi tiếng sống vào đời Trinh Nguyên nhà Đường, từ thế kỷ VII đến thế kỷ X, trên con đường biển từ Quảng Châu (Trung Hoa) đến Bát-đa (nay thuộc I-rắc), thuyền bè quốc tế bao giờ cũng ghé qua các đảo hoặc bờ biển thuộc vùng duyên hải Trung bộ Việt Nam để lấy nước ngọt, trong đó có Cổ Đát Quốc (tức Kauthara - tương ứng với vùng Nha Trang - Khánh Hòa ngày nay) (10).
Đến giữa thế kỷ XV, sau những cuộc xung đột dai dẳng với Đại Việt, lãnh thổ Chăm-pa thu hẹp dần về phía nam. Năm 1471, dưới triều vua Lê Thánh Tông, nước Chăm-pa chia thành 3 nước nhỏ là Chiêm Thành, Nam Bàn và Hoa Anh. Kinh đô Chiêm Thành đóng tại phía tây sông Phan Rang(xứ Panduranga). Nước Nam Bàn vốn là đất Thủy Xá, Hỏa Xá của các bộ tộc trên Tây Nguyên, còn Hoa Anh có lẽ là vùng Phú Yên - Khánh Hòa hiện nay.

II . TỪ DINH THÁI KHANG ĐẾN TỈNH KHÁNH HÒA

2.1 KHÁNH HÒA DƯỚI THỜI CÁC CHÚA NGUYỄN VÀ TÂY SƠN


Sách “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn (1726 - 1784) cũng như các bộ sử “Đại Nam thực lục”, “Đại Nam nhất thống chí” do Quốc Sử Quán triều Nguyễn biên soạn đều chép đại thể như sau: Tháng 4 năm Quý Tỵ thứ 5 (1653) đời Thái Tông Hiếu Triết Hòang Đế (húy Nguyễn Phúc Tần), vua Chiêm Thành là Bà Tấm xâm lấn đất Phú Yên. Phúc Tần sai Cai cơ Hùng Lộc Hầu làm Tổng binh và Xá xai Minh Võ Hầu làm Tham mưu đem 3000 quân đánh trả. Nhân đêm, quân Nguyễn qua đèo Hổ Dương núi Thạch Bi thẳng đến trại Bà Tấm phóng lửa đốt phá. Bà Tấm thua chạy, sai con là Xác Bà Ân nộp lễ xin hàng. Phúc Tần cho, bắt chia địa giới, lấy sông Phan Rang làm giới hạn, từ phía tây sông ấy trở vào nam vẫn là nước Chiêm Thành, từ phía đông sông ấy đến đầu địa giới Phú Yên đặt làm 2 phủ mới là Thái Khang và Diên Ninh (tức địa phận tỉnh Khánh Hòa ngày nay)(11). Về tổ chức hành chính, phủ Thái Khang (vùng đất phía bắc Khánh Hòa hiện nay) cai quản 2 huyện Quảng Phước, Tân Định; phủ Diên Ninh (vùng đất phía nam Khánh Hòa hiện nay) cai quản 3 huyện Phước Điền, Vĩnh Xương và Hoa Châu; đặt dinh quan trấn thủ ở huyện Quảng Phước gọi là dinh Thái Khang.
Trong một bản đồ cổ có tên “Giáp Ngọ niên bình Nam đồ” mà niên đại thực hiện được xác định vào khoảng cuối thế kỷ XVII (12) đã thấy vẽ khá chi tiết địa bàn 2 phủ Thái Khang và Diên Ninh. Đây có lẽ là một trong những tư liệu sớm nhất của người Việt ghi chép về các địa danh này.
Như vậy, có thể xem năm 1653 (năm Nguyễn Phúc Tần lập dinh Thái Khang) là cái mốc đánh dấu việc thiết lập chủ quyền của người Việt trên đất Khánh Hòa.
Chiến thắng năm 1653 là chiến công đầu tiên và quan trọng trong thời chúa Nguyễn Phúc Tần, trong đó có công lao của danh tướng Hùng Lộc Hầu. Sách “Đại Nam liệt truyện tiền biên” của Sử quán triều Nguyễn đánh giá về Ông như sau: “Xét về các bậc khai thác mở mang đất nước ban đầu thì Hùng Lộc thật có công rất lớn” . Tiếc rằng sử sách không ghi chép gì hơn về thân thế của vị tướng đã thu phục được mảnh đất Khánh Hòa này.
Đến năm Canh Ngọ thứ 3 (1690) đời Anh Tông (húy Nguyễn Phúc Trăn), phủ Thái Khang được đổi tên thành phủ Bình Khang.
Năm Nhâm Tuất thứ 4 (1742) đời Thế Tông (húy Nguyễn Phúc Khoát), đổi tên phủ Diên Ninh thành phủ Diên Khánh, lập dinh Bình Khang cai quản 2 phủ Bình Khang, Diên Khánh.
Cùng với việc thiết lập các đơn vị hành chính, một bộ phận dân cư từ các dinh, trấn Thuận Hóa, Quảng Nam… đã vào đây sinh sống, khai hoang, lập làng. Vào thời điểm này vùng đất Thái Khang còn tương đối hoang vu, ruộng đất không nhiều, dân cư thưa thớt. Ban đầu, những lưu dân đến định cư ở những vùng đồng bằng do các con sông lớn tạo thành như sông Dinh (Ninh Hòa), sông Cái (Nha Trang - Diên Khánh). Một bộ phận cư dân sống bằng nghề biển đến tụ cư ở Tu Bông, Vạn Giã, Đầm Môn (Vạn Ninh); Hòn Khói, Ninh Vân, Ninh Phú (Ninh Hòa), Xóm Cồn, Cửa Bé, Chụt, Hòn Tre (Nha Trang)… Cùng với quá trình hình thành xóm làng, những thiết chế văn hóa truyền thống của người Việt như đình, chùa cũng được xây dựng. Chính sách nhiều ưu đãi và tương đối cởi mở của các chúa Nguyễn đối với những miền đất mới đã góp phần đẩy nhanh quá trình chiêu dân, lập ấp. Chỉ sau gần hai thập niên (tính đến năm 1669 là năm chúa Nguyễn bắt đầu làm việc duyệt tuyển tức kiểm kê lập sổ đinh để thu thuế), số người đến sinh sống và làm ăn ở hai phủ ngày một đông, ruộng đất được khai khẩn, mở mang ngày một nhiều, từng bước tạo ra cuộc sống ổn định và khá dễ chịu cho cộng đồng cư dân Việt (và cả đồng bào các dân tộc thiểu số) nơi đây.
Theo sử gia Phan Huy Chú, số lượng các đơn vị hành chính thuộc 2 phủ Bình Khang, Diên Khánh trong khoảng nửa đầu thế kỷ XVIII như sau:

- Phủ Bình Khang có 2 huyện: huyện Quảng Phước có 65 xã, thôn, phường; huyện Tân Định có 1 tổng, 1 trang.
- Phủ Diên Khánh có 3 huyện: huyện Phước Điền có 27 xã, thôn; huyện Vĩnh Xương có 17 xã, thôn; huyện Hoa Châu có 3 tổng, 1 trang (13).
Còn theo Lê Quý Đôn, số dân hai phủ Bình Khang, Diên Khánh năm 1769 là 8.159 người (14).
Từ 1773 đến 1793 dinh Bình Khang thuộc chính quyền nhà Tây Sơn. Đến tháng 5 năm Quý Sửu (1793) quân Nguyễn chiếm lại được đất này. Trước kia, dinh trấn thủ đặt tại huyện Quảng Phước. Năm 1793, sau khi đắp thành Diên Khánh, chính quyền nhà Nguyễn đặt lị sở dinh Bình Khang tại đây.

2.2 KHÁNH HÒA DƯỚI TRIỀU NGUYỄN

Năm Quý Hợi thứ 2(1803) đời Gia Long, đổi tên dinh Bình Khang thành dinh Bình Hòa, đổi phủ Bình Khang thành phủ Bình Hòa.
Năm Mậu Thìn thứ 7(1808) đời Gia Long, đổi dinh thành trấn, dinh Bình Hòa thành trấn Bình Hòa.
Năm Tân Mão thứ 12(1831) đời Minh Mạng, đổi tên phủ Bình Hòa thành phủ Ninh Hòa.
Tháng 10, năm Nhâm Thìn thứ 13(1832) đời Minh Mạng, đổi trấn Bình Hòa thành tỉnh Khánh Hòa; sáp nhập huyện Hoa Châu vào huyện Phước Điền.
Như vậy, tỉnh Khánh Hòa được thành lập vào năm 1832, dưới triều vua Minh Mạng. Lúc bấy giờ, tỉnh Khánh Hòa có 2 phủ, 4 huyện là: phủ Diên Khánh cai quản 2 huyện Phước Điền, Vĩnh Xương; phủ Ninh Hòa cai quản 2 huyện Tân Định, Quảng Phước. Tỉnh lỵ đặt tại thành Diên Khánh.

III . NHỮNG BIẾN ĐỔI TRÊN BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH KHÁNH HÒA TỪ 1885 ĐẾN NAY

3.1 KHÁNH HÒA DƯỚI THỜI CHÍNH QUYỀN THUỘC ĐỊA TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG 8-1945


Ngày 1-9-1858 liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tấn công bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam.
Mùa thu năm 1885, quân Pháp đổ bộ lên Nha Trang. Sau những cuộc chiến đấu không cân sức, phong trào yêu nước chống xâm lược của nhân dân Khánh Hòa bị giặc Pháp đánh bại, các lãnh tụ nghĩa quân bị giặc bắt và xử tử hình. Từ năm 1886, tuy Khánh Hòa vẫn thuộc quyền cai quản của triều đình Huế, song thực chất là sống dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Thời gian này, lị sở của quan lại Nam Triều vẫn đặt tại thành Diên Khánh; cơ quan hành chính của chính quyền thuộc địa (gồm Tòa Sứ và các Ty chuyên môn) đóng tại Nha Trang.
Năm Đồng Khánh thứ ba (1888) tách huyện An Phước của phủ Ninh Thuận và 7 xã của huyện Tuy Phong (Phú Quý, Từ Sơn, Từ Thiện, Sơn Hải, Nho Lâm, Thạnh Đức, Lạc Nghiệp), 2 tổng của huyện Hòa Đa (Tú Trà, Ninh Gia) thuộc tỉnh Bình Thuận sáp nhập vào tỉnh Khánh Hòa.
Năm Thành Thái thứ 13 (1901) lại tách các phần đất trên ra khỏi tỉnh Khánh Hòa để thành lập đạo Ninh Thuận. Dưới thời Duy Tân (1907 - 1916), cắt một phần đất huyện Vĩnh Xương lập thành tổng Cam Ranh, bỏ 2 huyện Phước Điền và Quảng Phước. Tỉnh Khánh Hòa chỉ còn 2 phủ là Diên Khánh, Ninh Hòa; 2 huyện là Vĩnh Xương, Tân Định.
Theo sách “Niên giám tổng quát Đông Dương ” năm 1910, số lượng các đơn vị hành chính của tỉnh Khánh Hòa lúc này như sau:

- Phủ Ninh Hòa có 6 tổng, 83 xã, thôn, số đinh là 2253 người.
- Huyện Tân Định có 3 tổng, 73 xã, thôn, số đinh là 2795 người.
- Phủ Diên Khánh có 5 tổng, 38 xã, thôn, số đinh là 3415 người.
- Huyện Vĩnh Xương có 4 tổng, 46 xã, thôn, số đinh là 1942 người(15).
Năm Duy Tân thứ 7 (1913) sáp nhập phủ Ninh Thuận (gồm huyện An Phước và 5 tổng là Phú Quý, Kinh Dinh, Mỹ Tường, Vạn Phước, Đắc Nhơn) vào tỉnh Khánh Hòa. Đến năm Khải Định thứ 7 (1922) phần đất vừa sáp nhập trên được tách khỏi tỉnh Khánh Hòa để lập lại tỉnh Ninh Thuận.
Ngày 11-6-1924, vua Khải Định ra đạo dụ thành lập thị trấn (centre urbain) Nha Trang(16). Đạo dụ này được Toàn quyền Đông Dương ra Nghị Định chuẩn y ngày 30-8-1924 .
Cho đến năm 1930, tỉnh Khánh Hòa có 2 phủ: Ninh Hòa, Diên Khánh và 2 huyện: Tân Định, Vĩnh Xương, gồm 16 tổng, 255 làng.
Tháng 11-1931 huyện Tân Định được đổi thành phủ Ninh Hòa (nay là huyện Ninh Hòa), còn phủ Ninh Hòa cũ đổi thành huyện Vạn Ninh.
Đến Nghị Định ngày 7-5-1937 của Toàn quyền Đông Dương, Nha Trang trở thành thị xã (commune) (17).
Ngày 8-6-1939 Toàn quyền Đông Dương ra Nghị Định thành lập Đại lý hành chính Ba Ngòi (Cam Ranh).

3.2 KHÁNH HÒA THỜI KỲ SAU CÁCH MẠNG THÁNG 8 - 1945 ĐẾN THÁNG 4 - 1975

Cách mạng tháng 8-1945 thành công rực rỡ. Tỉnh Khánh Hòa giành chính quyền cùng ngày với thủ đô Hà Nội (19-8-1945). Chính quyền cách mạng tồn tại được 63 ngày thì thực dân Pháp trở lại đánh chiếm Nha Trang. Sau 101 ngày đêm bao vây, đánh địch trong thành phố, chính quyền ta chuyển vào bí mật để lãnh đạo nhân dân kháng chiến. Ở vùng tạm chiếm, năm 1946 thực dân Pháp thành lập Nha Bang tá tại hạt Suối Dầu, trực thuộc Tòa Công sứ Pháp ở Nha Trang.
Ngày 23-7-1949 Pháp bàn giao chính quyền cho cái gọi là “Chính phủ quốc gia”. Tháng 10-1949, Tòa Công sứ Pháp bị bãi bỏ, thay vào đó là cơ quan đại diện “Chính phủ quốc gia” có tên là Tòa Hành Chánh tỉnh Khánh Hòa, đứng đầu là Tỉnh trưởng tỉnh Khánh Hòa kiêm Đốc lý thị xã Nha Trang. Từ tháng 1-1950, trụ sở cơ quan hành chính tỉnh đặt tại Tòa Sứ cũ ở Nha Trang. Cũng từ thời gian này bỏ danh xưng phủ, huyện, đổi thành quận, đứng đầu là quận trưởng
Ngày 10-7-1951 do Nghị định số 1000-NĐ/PC của Thủ hiến Trung Việt, Nha Bang tá Tu Bông được tái lập, bao gồm 13 làng thuộc tổng Phước Tường Ngoại. Cũng trong thời gian này thành lập Nha kiêm lý Bang tá Cam Lâm, trực thuộc Toà Hành chánh tỉnh. Đến tháng 12-1954, các Nha Bang tá Suối Dầu và Nha kiêm lý Bang tá Cam Lâm đều gọi là Nha Đại diện hành chánh.
Ngày 27-1-1958 Nghị định số 18-BNV bãi bỏ quy chế thị xã, chia tỉnh lỵ Nha Trang thành 2 xã là Nha Trang Đông và Nha Trang Tây thuộc quận Vĩnh Xương.
Ngày 17-5-1958 do Nghị định số 216-BNV, Nha đại diện hành chánh Suối Dầu được giải thể, sáp nhập vào địa hạt Cam Lâm thành quận Cam Lâm.
Ngày 17-4-1959, 2 tổng Krông Jing và Krông Hinh gồm 5 xã và 30 thôn thuộc tỉnh Đắc Lắc được sáp nhập vào quận Ninh Hòa, gọi chung là Cơ sở hành chánh Khánh Dương.
Ngày 6- 4-1960 Sắc lệnh số 84-BNV lấy các xã Cam Thọ, Cam Ly, 2 thôn Ma Dú và Sông Cạn (xã Cam Lục), thôn Trại Láng (xã Cam Lương) và một phần đất thôn Hòa Diêm (xã Cam Lộc) thuộc quận Cam Lâm tỉnh Khánh Hòa sáp nhập vào quận Du Long thuộc tỉnh Ninh Thuận.
Tháng 12-1960, Cơ sở hành chánh Khánh Dương đổi thành quận Khánh Dương.
Đến thời điểm này(1960), tỉnh Khánh Hòa có 6 quận: Diên Khánh, Vĩnh Xương, Ninh Hòa, Vạn Ninh, Cam Lâm, Khánh Dương và tỉnh lỵ Nha Trang (gồm 2 xã Nha Trang Đông và Nha Trang Tây), dân số khoảng 270.000 người.
Tháng 10-1965, do Sắc lệnh số 209-NV, lấy 8 xã của quận Cam Lâm là các xã Cam Ranh, Cam Bình, Cam Linh, Cam Phúc, Cam Lộc, Suối Hải, Suối Hòa, Suối Vĩnh, thêm trọn núi Hòn Rồng thuộc ấp Văn Thuỷ Hạ xã Cam Phú thành lập thị xã Cam Ranh.
Tháng 12-1968, tách các phần đất của tỉnh Khánh Hòa đã sáp nhập vào quận Du Long tỉnh Ninh Thuận trước đây về cho thị xã Cam Ranh đặt thuộc khu phố Cam Lộc.
Ngày 22-10-1970, Sắc lệnh số 132-SL/NV của chính quyền Sài Gòn tái lập thị xã Nha Trang, tỉnh lỵ tỉnh Khánh Hòa.
Ngày 7-11-1970, do Nghị định số 1048-NĐ/NV thành lập tại thị xã Cam Ranh 2 quận: quận Bắc và quận Nam.
Như vậy, đến thời điểm này (1970), toàn tỉnh có 6 quận là Vạn Ninh (9 xã), Ninh Hòa (20 xã), Khánh Dương (5 xã), Vĩnh Xương (8 xã), Diên Khánh (29 xã), Cam Lâm (8 xã); 2 thị xã: Cam Ranh có 2 quận gồm 12 khu phố; Nha Trang có 2 quận: quận 1 gồm các xã Nha Trang Đông, Vĩnh Hải, Vĩnh Phước, các ấp Ngọc Thảo, Ngọc Hội, Lư Cấm thuộc xã Vĩnh Ngọc, ấp Vĩnh Điềm Hạ thuộc xã Vĩnh Hiệp; quận 2 gồm các xã Nha Trang Tây, Vĩnh Trường, Vĩnh Nguyên, ấp Phước Hải của xã Vĩnh Thái.
Nghị định số 357-ĐUHC/NC/NĐ của chính quyền Sài Gòn ngày 5-6-1971 chia thị xã Nha Trang thành 11 khu phố. Quận 1 gồm các khu phố: Vĩnh Hải, Vĩnh Phước, Ngọc Hiệp, Vạn Thạnh, Duy Tân; Quận 2 gồm các khu phố: Vĩnh Nguyên, Vĩnh Trường, Phương Sài, Tân Phước, Tân Lập, Phước Hải. Đến Nghị định số 553-BNV/HCĐP/NĐ ngày 22-8-1972 đổi các khu phố của thị xã thành phường.

3.3 KHÁNH HÒA TRÊN BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM (TỪ THÁNG 4 - 1975 ĐẾN NAY)

Ngày 2-4-1975, quân dân ta giải phóng thành phố Nha Trang, ngày 3-4-1975 giải phóng cảng Cam Ranh và ngày 29-4-1975 giải phóng quần đảo Trường Sa.
Ngày 29-10-1975, theo Quyết định của Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa được hợp nhất thành một tỉnh mới lấy tên là tỉnh Phú Khánh. Cũng trong năm này, nhập 7 xã của huyện Vĩnh Xương vào huyện Diên Khánh thành huyện Khánh Xương.
Năm 1976 hợp nhất 2 huyện Ninh Hòa và Vạn Ninh thành huyện Khánh Ninh.
Như vậy, đến thời điểm này (1976), trên địa bàn tỉnh Phú Khánh cũ có 6 huyện là Cam Ranh, Khánh Sơn, Khánh Xương, Khánh Vĩnh, Vĩnh Xương, Khánh Ninh.
Quyết định số 49-CP ngày 10-3-1977 hợp nhất 2 huyện Khánh Sơn và Cam Ranh thành huyện Cam Ranh; bỏ huyện Khánh Xương, hợp nhất địa phận Diên Khánh cũ và Khánh Vĩnh thành huyện Diên Khánh.
Ngày 30-3-1977, theo Quyết định của Hội đồng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thị xã Nha Trang được nâng lên cấp thành phố trực thuộc tỉnh.
Quyết định số 268-CP ngày 23-10-1978 thành lập thị trấn Ba Ngòi thuộc huyện Cam Ranh, thị trấn Ninh Hòa và thị trấn Vạn Giã thuộc huyện Khánh Ninh.
Quyết định số 85-CP ngày 5-3-1979 chia huyện Khánh Ninh thành hai huyện: Ninh Hòa và Vạn Ninh.
Quyết định số 100-HĐBT ngày 30- 9-1981 thành lập thị trấn Diên Khánh thuộc huyện Diên Khánh.
Ngày 28-12-1982, Nghị quyết kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa 7 nước CHXHCN Việt Nam đã quyết định sáp nhập huyện Trường Sa (thuộc tỉnh Đồng Nai) vào tỉnh Phú Khánh.
Quyết định số 189-HĐBT ngày 27-6-1985 thành lập 2 huyện miền núi là Khánh Vĩnh (thuộc huyện Diên Khánh trước đây) và Khánh Sơn (thuộc huyện Cam Ranh trước đây).
Ngày 1-7-1989, Nghị quyết kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa 8 nước CHXHCN Việt Nam đã quyết định chia tỉnh Phú Khánh thành 2 tỉnh mới là tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hòa. Sau ngày tái lập tỉnh, huyện Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa. Ngày 30-12-1993 Nghị quyết kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa 9 nước CHXHCN Việt Nam đã điều chỉnh ranh giới hành chính giữa 2 tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa như sau: tuyến ranh giới được cắt từ đỉnh cao nhất 600m ở Đèo Cả xuống mỏm Đá Đen, tới chân mép nước cực nam đảo Hòn Nưa. Chuyển thôn Vũng Rô thuộc xã Đại Lãnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa trước đây sáp nhập vào xã Hòa Xuân, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Ngày 22-4-1999 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 106/1999 công nhận thành phố Nha Trang là đô thị loại 2.
Ngày 7-7-2000 Thủ tướng Chính phủ ra Nghị Định số 21/2000/NĐ-CP thành lập thị xã Cam Ranh và các phường thuộc thị xã.
Địa giới hành chính tỉnh Khánh Hòa hiện nay như sau: phía bắc giáp tỉnh Phú Yên, nam giáp tỉnh Ninh Thuận, tây giáp tỉnh Đắc Lắc và Lâm Đồng, đông giáp biển Đông (mũi Hòn Đôi trên bán đảo Hòn Gốm thuộc huyện Vạn Ninh cũng chính là điểm cực đông trên đất liền của nước ta). Ngoài phần lãnh thổ trên đất liền, tỉnh Khánh Hòa còn có vùng biển, vùng thềm lục địa, các đảo ven bờ và huyện đảo Trường Sa. Diện tích tự nhiên trên đất liền và của hơn 200 đảo và quần đảo là 5.197 km2, dân số (tính đến ngày 31-12-2000) là 1.054.658 người(18).

Hiện nay tỉnh Khánh Hòa có 1 thành phố, 1 thị xã, 6 huyện, 5 thị trấn, 104 xã, 28 phường. Thành phố Nha Trang là tỉnh lỵ tỉnh Khánh Hòa.

_________________________________________________________

CHÚ THÍCH:

(1) Nhiều tác giả, Văn hóa Xóm Cồn với tiền sử và sơ sử Khánh Hòa, Viện Bảo tàng lịch sử VN & Sở VH-TT Khánh Hòa xuất bản, Nha Trang 1993.

(2) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí (quyển 11: tỉnh Khánh Hòa), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1973, trang 83.

(3) Nguyễn Văn Siêu, Phương Đình dư địa chí, NXB Tự Do, Sài Gòn 1960, trang 160.

(4) Lê Tắc, An Nam chí lược, Viện Đại học Huế xuất bản 1961, trang 95.

(5) Đại Việt sử ký toàn thư (tập 1), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1983, trang 178.

(6) G. Maspero, Vương quốc Chàm, bản dịch của Viện BTLSVN, trang 69.

(7) Ca Văn Thỉnh & Bảo Định Giang, Nguyễn Thông, con người và tác phẩm, NXB. TP. HCM, 1984, trang 311.

(9) G. Masperro, sách đã dẫn, trang 114.

(10) Trần Quốc Vượng, Mấy nét khái quát lịch sử cổ xưa về cái nhìn về biển của Việt Nam, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á , số 1-1993, trang 4-5.

(11) Địa giới hành chính của dinh Thái Khang vào thời điểm này có lẽ không trùng khớp với địa phận tỉnh Khánh Hòa hiện nay. Bởi lẽ biên giới giữa chính quyền Đàng Trong (thuộc quốc gia Đại Việt) với Chiêm Thành được xác lập vào năm 1653 là từ phía đông sông Phan Rang trở ra. Như vậy lúc đầu một phần đất phía bắc tỉnh Ninh Thuận hiện nay cũng nằm trong địa phận Thái Khang và mãi sau này khi phủ Ninh Thuận được hình thành thì phần đất từ Ba Ngòi trở vào mới tách ra khỏi Thái Khang. Những đặc điểm trên về sau còn được tái lập nhiều lần dưới triều Nguyễn cho đến tận đầu thế kỷ XX.

(12) Hồng Đức bản đồ, Viện Khảo cổ Sài Gòn xuất bản 1962, trang 98-101.

(13) Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí (tập 1), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1992, trang 169.

(14) Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1977, trang 139-140. Thử phỏng đoán nếu cứ nhân trung bình mỗi suất đinh có khoảng 5 người theo (gồm 2 vợ chồng và 3 con) thì số dân Khánh Hòa vào giữa thế kỷ XVIII có khoảng hơn 24.000 người - đây thật sự là số dân không nhỏ vào thời điểm bấy giờ.

(15) Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn: Khánh Hòa, NXB TP. Hồ Chí Minh 1997, trang 54-55.

(16) Nguyên văn: “Ordonnance royale (Annam) érigeant l’agglomération de Nhatrang en centre urbain” , trích trong tư liệu J.O.I.C trang 1689, bản sao lưu trữ tại Phòng Địa chí Thư viện tỉnh Khánh Hòa.

(17) Nguyên văn: “La ville de Nhatrang est érigée en une commune qui prend le nom de Nhatrang”, trích trong Công báo số 9 năm 1937 của chính quyền thuộc địa, bản sao lưu trữ tại Phòng Địa chí Thư viện tỉnh Khánh Hòa. (18) Cục Thống kê tỉnh Khánh Hòa, Niên giám thống kê Khánh Hòa năm 2000, Nha Trang 12-2001.



NGUYỄN MAN NHIÊN

© Cấm trích đăng lại nếu không được sự đồng ý của tác giả và Việt Văn Mới .


TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN TRUYỆN NGẮN ÂM NHẠC