Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






BALLET TRƯỜNG PHÁI NGA                  




 

Ba lê  (ballet) được coi là một loại hình nghệ thuật tao nhã, có khởi nguồn từ Italy thời kỳ Phục hưng thế kỷ 15-16, ba lê trở nên phổ biến tại Pháp và Nga, và gần đây nhất là tại Mỹ. Theo  từ nguyên học,  từ ballett sử dụng trong tiếng Anh được vay mượn từ tiếng Pháp vào khoảng thế kỷ 17. Từ tiếng Pháp lại có nguồn gốc từ tiếng Italia  balletto,  nhưng từ nguyên của  từ ballett bắt nguồn từ tiếng Latin ballare, nghĩa là “nhảy múa”.  Nữ nghệ sĩ múa ballett gọi là ballerina

Các diễn viên ba lê biểu diễn rất nhiều động tác chuyển động không tự nhiên đối với cơ thể con người. Một diễn viên ba lê thường phải trải qua quá trình tập luyện nhiều năm từ nhỏ nhằm thể hiện một cách hoàn hảo những bước di chuyển chân cơ bản, chỉ khi đó họ mới có thể biểu diễn được những động tác và tư thế khác nhau của múa ba lê. Trong biểu diễn ba lê, nữ diễn viên ba lê thường được gọi là ballerina trong khi nam diễn viên được gọi là vũ công ba lê (ballett dancer).

Theo các nghiên cứu lịch sử, ba lê khởi nguồn từ thời kỳ Phục Hưng tại Italia vào thế kỷ 15, nhằm phục vụ cho các lễ cưới hoàng gia và của tầng lớp quý tộc. Catherine de Médicis, xuất thân trong một gia đình quý tộc ở Florence, kết hôn với vua Pháp Henry II, trở thành hoàng hậu của nước Pháp vào năm 1547. Bà đã giới thiệu tới triều đình Pháp loại hình giải trí được biết đến tại Italia. Chúng được dàn dựng bởi Balthazar de Beaujoyeulx, một nhạc sỹ tài năng. Beaujoyeulx đã rời Italia đến Pháp để trở thành nhạc trưởng cho Catherine. Le Ballet Comique de la Reine, (Ba lê hài của Hoàng hậu) của Beaujoyeulx, là vở ba lê đầu tiên của nhân loại. Năm 1760, nhà biên đạo múa người Pháp Jean Georges Noverre đưa ra lời phê bình các diễn viên múa chuyên nghiệp trong cuốn sách của ông Lettres sur la danse, et sur les ballets (Những lá thư về Múa và Ba lê), Noverre phàn nàn rằng các vũ công quá chú trọng đến việc phô diễn kỹ thuật múa mà không mấy để ý đến mục tiêu chân chính của ba lê. Mục tiêu này, theo ông, là để thể hiện các nhân vật và cảm xúc của họ. Lịch sử phát triển ba lê tại Nga đóng góp một vai trò quan trọng trong lịch sử ba lê thế giới. Từ sau năm 1850, ba lê tại Pháp rơi vào thời kỳ thoái trào, trong khi lại thăng hoa tại Đan Mạch và Nga, nhờ vào sự đóng góp của những bậc thầy ba lê như August Bournonville, Jules Perrot, Arthur Saint-Léon, Enrico Cecchetti và Marius Petipa. Sự phát triển của Trường Ba lê Hoàng gia Nga vào thời gian rực rỡ nhất của nó, nửa sau thế kỷ 19, đã chuyển trung tâm của thế giới ba lê từ Pháp sang Nga. Một trong những người tạo ra kỷ nguyên vàng cho Trường Ba lê Hoàng gia Nga và đóng vai trò lớn trong việc biến St. Petersburg trở thành kinh đô của ba lê thế giới là Marius Petipa. Sergei Diaghilev, được coi là một trong những nhà sản xuất ba lê vĩ đại nhất mọi thời đại, đã thành lập đoàn ba lê của riêng ông, Ballets Russes, vào năm 1909 với Michel Fokine là biên đạo múa đầu tiên. Fokine luôn cho rằng các kỹ thuật múa có mục đích thể hiện tính cách và cảm xúc. Ông cảm thấy toàn bộ cơ thể của vũ công  là phương tiện thể hiện câu chuyện vào mọi khoảnh khắc trong vở diễn.  Với phần nhạc soạn bởi Rimsky-Korsakov và Stravinsky cùng sân khấu do Picasso, Rouault, Matisse, và Derain thiết kế và một dàn diễn viên ba lê tài năng, Ballets Russes thực sự tạo lên một đế chế có ảnh hưởng sâu sắc và cải tổ nền ba lê Châu Âu trong suốt hai thập kỷ. Đoàn Ballets Russes đưa  ba lê  trở thành một môn nghệ thuật được hâm mộ trên toàn thế giới   

  Nói đến ballett người ta nhắc ngay tới ballet trường phái Nga với những ballet của ba nhà soạn nhạc Nga Pjotr Iljisch Tschaikowski,  Sergei  Prokofjew. Igor Strawinski Những vở balett nổi tiếng của Pjotr Iljisch Tschaikowski là   “Hồ thiên nga”;   “Người cắn hồ đào”(Kẹp hạt dẻ); “Người đẹp ngủ trong rừng“  (Công chúa hồng hoa). Những vở balett nổi tiếng của Sergei  Prokofjew là “Romeo và Julia (1935), “Cô  bé  lọ  lem” (Aschenbroedel), 1949). Những vở balett nổi tiếng của Igor Strawinski là  “Petrusca”, “Chim lửa” “Lễ bái xuân”.   Nói đến ballet Trường nphai1 Nga  người ta nhớ tới Học viện  Ballett Vaganova.

Nói đến ballet bên ánh đèn sân khấu  người ta nhắc ngay tới những nghệ sĩ Nga Primaballerina Natalia Bessmertnova  (1941- 2008), huyền thoại ballet  Maya Plisetskaya  (1925 - …) Anna  Pavlova  (1881-1931)

Sự phát triển của Trường Ba lê Hoàng gia Nga vào thời gian rực rỡ nhất của nó, nửa sau thế kỷ 19, đã chuyển trung tâm của thế giới ba lê từ Pháp sang Nga. Một trong những người tạo ra kỷ nguyên vàng cho Trường Ba lê Hoàng gia Nga và đóng vai trò lớn trong việc biến St. Petersburg trở thành kinh đô của ba lê thế giới là Marius Petipa. Đoàn ba lê của St. Petersburg là nơi đào tạo ra những diễn viên ba lê vĩ đại nhất của mọi thời, trong đó nổi bật lên là hai cái tên Anna Pavlova và Vaslav Nijinsky. Nếu như Pavlova nổi tiếng thế giới nhờ phong cách diễn vô cùng thanh thoát, tú lệ thì Nijinsky lại làm cả thế giới đảo điên bởi sức diễn cảm tuyệt vời và những bước nhảy thần thánh trên sân khấu, mà trong các ghi chép còn lưu lại đã mô tả anh “nhảy lên cao, và như thể dừng lại, trôi lơ lửng trong không khí một lát rồi mới đáp trở lại mặt đất”.

Năm 1905, ở thủ đô phương Bắc nước Nga St. Petersburg, Sergei Diaghilev nói “Chúng ta là nhân chứng của một trong những thời khắc vĩ đại nhất trong lịch sử, vào thời khắc gọi tên một văn hóa mới, còn chưa được biết, văn hóa do chúng ta tạo nên. Diaghilev đã tiến hành những thay đổi cách mạng cả trong nghệ thuật lẫn mỹ học.  Những đóng góp trong việc cách tân và phổ biến ba lê ra thế giới của các nghệ sỹ vĩ đại như Anna Pavlova và đặc biệt là đoàn Ballets Russes giúp ba lê sớm trở thành một môn nghệ thuật được hâm mộ trên toàn thế giới..  

Ở vở ballet Petruska (1911),, Stravinsky đã tận dụng tối đa những giai điệu nồng nàn của nhạc Nga. Đối với Strawinski âm nhạc chỉ là trò chơi âm thanh, nhưng những tác phẩm của ông  chứng minh điều ngược lại.   Giống như Richard Wagner của Đức, ông lấy đề tài cho những vở balett “Petrusca”, “Chim lửa” “Lễ bái xuân” của mình từ truyện cổ dân gian, thần thoại Nga. Những tác phẩm âm nhạc của Strawinski sắc sảo và tinh tế, cân đối và hợp ly, cô đọng và gọn gàng trong cấu trúc. Nó thể hiện tài nghệ điêu luyện trong cách phối dàn nhạc.  Nó thể hiện hiện thực  đời sống tinh thần Nga.  Về việc này Strawinski giải thích:

-    Suốt đời tôi nói tiếng Nga, suy nghĩ theo lối Nga, lối viết của tôi là Nga.  Có thể trong nhạc của tôi không nhận thấy ngay điều đó, nhưng nó đã được đưa vào, trong bản chất kín đáo của âm nhạc.

Sau 16 năm  sống ở nước ngoài, Prokofjew trở về Nga để sống trong lòng dân tộc. Với 2 vở balette “Romeo và Julia (1935), “Cô  lọ  lem” (Aschenbroedel, 1949). Prokojew có ảnh hưởng sâu rộng tới sự phát triển của nền tân nhạc Nga.   Ballett của Prokofjew đề cập tới nhân tình thế thái: Dì ghẻ con chồng,  Chiến tranh và hòa bình  thì những vở baltett nổi tiếng của Pjotr Iljisch Tschaikowski lại là truyền thuyết “Hồ thiên nga”; là truyện huyển thoại  “Người cắn hồ đào”(Kẹp hạt dẻ); là truyện cổ dân gian “Người đẹp ngủ trong rừng“  (Công chúa hồng hoa).

Nga là nước có diện tích lớn nhất thế giới, bao phủ hơn một phần chín diện tích lục địa Trái Đất. Liên bang Nga trải dài từ Đông Âu đến biển Thái Bình Dương ở Đông Bắc châu Á, là một quốc gia đa dân tộc có thể chế đa đảng.  Địa hình nước này hết sức đa dạng, nước này giàu tài nguyên, phong phú về động thực vật. Hoàn cảnh ấy tạo nên tâm hồn Nga. Tâm hồn Nga, tính cách Nga thể hiện rất rõ trong văn học, âm nhạc Nga.  Các nhạc sĩ  Nga mỗi người một vẻ.  Điểm chung ở họ là  gắn bó với quê hương đất nước. Họ đưa tình yêu quê hương đất nước vào trong tác  phẩm của mình với tinh thần cởi mở, bao dung, nhân ái. Có ba  cái nhất thuộc về nước Nga: diện tích lớn nhất thế giới, đội ngũ ballerina hùng hậu nhất thế giới, trong số mười ballett nổi tiếng thì những ballatt hay nhất là của Nga.

 
Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa chuyển từ SàiGòn ngày 14.02.2014 .