Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




VĂN HỌC NAM HÀ

文 學 南 河





KỲ THỨ 15.

Kết Luận Về Văn Học Nam Hà



Văn học Nam Hà kéo dài khoảng hai trăm năm với mười nhà văn Nôm và Hán nổi tiếng. Nhìn chung cuộc đời nhà văn dính dáng nhiều đến Chính trị, văn thơ của họ cũng bộc lộ tư tưởng phục vụ phe phái mình, người lãnh đạo của mình, đề cao vai trò vùng đất đang chiếm giữ ...
Chúng ta đã vào thăm ngang ngách tâm hồn của từng người để thấy mỗi cây Viết mặc dầu đi theo trào lưu chung vẫn có phần nào bản sắc riêng, chẳng hạn niềm ưu tư mong gặp chân chúa để thi thố tài năng giúp đời, nỗi chán chường vì không ai biết tâm sự mình, sự thống thiết vì nỗi tử ly, sự phẫn nộ, tuyệt vọng vì chiến tranh tang tóc, quan lại thanh nhũng, tình bạn bè quê hương yêu mến.
Như vậy thời này nhà văn ngoài con người xã hội còn là con người tự do, riêng biệt, một cá thể khác với người chung quanh. Nói lên tâm tình đối với thời cuộc chính trị, nhà văn chỉ mới làm tròn sứ mạng với tình thế, chỉ mới đóng vai trò chứng nhân của thời đại; diễn tả tâm tư, nỗi niềm của chính mình nhà văn mới thoát khỏi số đông và tạo được sắc thái riêng biệt. Đào Duy Từ, Nguyễn Cư Trinh, Ngọc Hân Công Chúa, Ngô Thế Lân, Hoàng Quang, Trịnh Hoài Đức là những thí dụ cụ thể. Một số tác giả vì tài liệu bị mất mát chúng ta chưa xét đựơc tư tưởng: Hoàng Tử Đán, Nguyễn Quang Tiền, Nguyễn Đăng Thịnh, một số ít hơn vì tác phẩm còn lại không nhiều nên tư tưởng không có gì nổi bật, chúng ta chỉ biết được phần tài nghệ trong cách sử dụng ngôn ngữ, đẽo gọt câu văn: Trường hợp Nguyễn Văn Thành, Đặng Đức Siêu.
Tuy nhiên, nhìn chung, Văn học Nam Hà cũng rất thịnh đạt. Đào Duy Từ đưa lối vãn đến chỗ cực thịnh, Nguyễn Cư Trinh sử dụng lối văn đối thoại đầu tiên với thể vè, Nguyễn Văn Thành, Đặng Đức Siêu phát huy đến cực độ tính chất bi thiết của văn tế.
Trong hơn hai thế kỷ, tuy là vùng đất mới, lại ở vào cảnh chiến tranh dai dẳng, nhà văn Nam Hà cũng đã làm sáng tỏ được tư tưởng của những người khai phá trong việc nói lên tình yêu của mình đối với đất đai, cũng đã bộc lộ được tâm tình của người dân thời loạn ly trong những đề tài liên quan đến chiến tranh, đau khổ, thuế má, hành dịch ...
Văn học Miền Nam sau nầy rực rỡ hơn, phong phú hơn, nhưng nhìn chung cũng chỉ là vun trồng thêm những gì đã được tiền nhân gieo mầm phát khởi.
Chúng tôi cũng xin thêm rằng giai đoạn 1560 - 1802, vùng đất từ sông Gianh trở vào Nam chữ quốc ngữ cũng đã được sử dụng và văn chương bình dân cũng không phải chắc chắn không có. Sở dĩ cho đến phần kết thúc nầy chúng tôi chưa bàn đến hai bộ mặt nầy của nền Văn học Nam Hà vì những lý do sau:
- Đối với chữ quốc ngữ:
Chúng ta biết chữ quốc ngữ đã được khai sinh từ thế kỷ XVI ở Đàng Trong và lần lần phát triển đến nhiều công trình đồ sộ công phu của các cố đạo Tây Phương. Nhưng ta phải công nhận rằng cho đến năm 1802 chỉ có sự kiện chữ quốc ngữ được manh nha, hình thành và chập chững trở thành một phương tiện để chuyên chở văn học, nhưng chưa thật sự trở thành một giai đoạn của nền văn học quốc ngữ. Những quyển tự điển, du ký, sách nói về đạo Thiên Chúa đóng góp nhiều về phương diện ngữ học, ngôn ngữ, lịch sử, tôn giáo hơn nghệ thuật, tư tưởng.
Một vài nhà văn học sử, có thể nhắc đến các bài vãn hay tuồng đạo ngắn cảm hứng từ đạo sử Việt Nam hoặc thế giới nhưng các tác phẩm nầy một mặt chưa thể coi như tác phẩm văn chương một mặt niên đại xuất hiện còn ở trong vùng mờ mịt.
Tóm lại, văn học quốc ngữ thời phân tranh chưa có nên ở ngoài đối tượng khảo sát của quyển sách nầy.
- Đối với văn chương bình dân.
Văn chương bình dân được coi như bao gồm truyện kể, ca dao, tục ngữ, những tác phẩm này không biết ai sáng tác và xuất hiện vào lúc nào. Vấn đề là làm sao biết được những câu ca nào, những truyện kể nào ra đời vào giai đoạn văn học chúng ta đang khảo sát. Một vài nhà chú giải sau nầy như Nguyễn Văn Mại (Việt nam phong sử) Tạ Quang Phát (Kinh thi nước Việt), và ngay cả các nhà khảo cứu như Tân Việt Điểu (Triều đại Tây Sơn qua ca dao), Phạm Việt Tuyền (Văn học Miền Nam), Sơn Tùng Hoàng Thúc Trâm (Quốc Văn thời Tây Sơn), Phạm Văn Đang (Văn Học Tây Sơn) đều có nhắc đến những câu ca dao, phong dao nói về Tây Sơn, Chúa Nguyễn như:
Đầu cha lấy làm chân con,
Mười bốn năm tròn hết số thì thôi”
chỉ việc nhà Tây Sơn chỉ kéo dài 14 năm.
Cha nhỏ đầu, con nhỏ chân,
Đến năm Nhâm Tuất thì thân chẳng còn”
nói nhà Tây Sơn dứt nghiệp vào năm Nhâm Tuất (1802).
Rủ nhau đi gánh nước thuyền,
Quang đứt, chĩnh vỡ gánh liền xuống sông”
tiên đoán nhà Tây Sơn sắp mất ...
Ngoài ra, còn có những câu mô tả những sự kiện thuộc về nhà Tây Sơn từ tình trạng bê bối, luộm thuộm của việc mua quan bán chức đến nỗi khổ của binh sĩ ... Chẳng hạn các câu sau:
Đô đốc tam thiên Đô Đốc,
Chỉ huy bát vạn chỉ huy.
Trung uý, vệ uý, chẳng kể làm chi.
Cai đội, Phó đội lấy tàu mà chở.”
ghi lại cảnh quan lại bất tài nhờ góp tiền của nên được nắm giữ những chức vụ quan trọng.
Các câu:
Tiếng ai than khóc nỉ non,
Là con chú lính trèo hòn Cù Mông.
Xa xa em đứng em trông;
Thấy đoàn lính mộ hỏi chồng em đâu ?”
Hay:
Đôi ta như ngô đồng với phụng,
Nỡ lòng nào để phụng lìa cây.
Muốn cho có đó có đây,
Ai làm nên nỗi nước nầy chàng ôi? “

mô tả cuộc đời cực khổ của chú lính thú trong quân đội Tây Sơn.
Hoặc câu sau đây:

Mồ cha đứa đốn cây bần,
Không cho ghe đậu ghe lần ghe đi”
diễn tả lời oán trách của dân xóm vạn chài về việc Đề Đốc Ngô Văn Sở cho đốn sạch những gốc bần ở bờ sông Ninh Chữ, Ninh Thuận để làm chỗ đậu cho chiến thuyền.
Và:
Trách lòng Biện Nhạc tứ linh
Làm cho con gái thất kinh hãi hùng.
... ... ... ... ... ... ... ... ... ...
Trách lòng Biện Nhạc nhiễu điều,
Làm cho con gái nhiều điều phiền lo”.
diễn tả lời ta thán của nhân dân oán trách Nguyễn Nhạc bắt gái đẹp đem về làm cung tần mỹ nữ.
Những câu nói về các Chúa Nguyễn cũng rất dồi dào từ công trình của quan lại, nỗi lao đao khốn khổ của các vị chúa cuối thời, đến các sự kiện liên quan đến thời Nguyễn Vương bôn ba lập quốc.
Chẳng hạn 4 câu tình cảm sau:
Thương em anh cũng muốn vô.
Sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam giang.
Phá Tam Giang ngày nay đã cạn
Truông nhà Hồ Nội tán cấm nghiêm”
nói về việc Nội Tán Nguyễn Khoa Đăng dẹp yên giặc cướp ở phá Tam Giang (thuộc Thừa Thiên).
Hay lời van vái chân thành cho đến ngày nay vẫn còn truyền tụng rộng rãi:
Lạy trời cho chóng gió Nồm,
Cho thuyền Chúa Nguyễn thẳng buồm chạy ra”.
diễn tả lòng nhân dân ở miền chiếm cứ của Tây - Sơn mong mỏi Nguyễn Vương,
Hoặc hai câu hát buồn thảm thường đựơc cất lên trong những thôn xóm miền Hậu Giang:
Ngồi buồn nhớ Chúa ta xưa,
Long Xuyên hận cũ bao giờ cho nguôi”.
chỉ việc Tân Chính Vương và Thái Thượng Vương bị quân Tây Sơn giết ở Long Xuyên.
Hay:
Gió đưa cây cải về trời,
Rau răm ở lại chịu đời đắng cay”.
thương tiếc cuộc đời hoàng phi Lê Thị Răm của Nguyễn Ánh, bà vì con là hoàng tử Cải không chịu theo Bá Đa Lộc đi cầu viện nên bị chúa ra lịnh quăng xuống biển còn bà bị bỏ lại ở đảo Côn Lôn và bị một tên biện ở đây làm nhục1. Theo Nguyễn Văn Mại “Việt Nam Phong Sử” câu nầy chỉ Lê Mẫn Đế, Hoàng Thái Hậu và Hoàng Hậu Nguyễn Thị Kim.
Và rất nhiều nữa, chẳng hạn:
Tượng linh dầu rách cũng thờ,
Lòng thương quân tử bao giờ cho nguôi”.
diễn tả lòng thương nhớ của Thọ Hương Công Chúa (con Nguyễn Nhạc) đối với Đông Cung Nguyễn Phúc Dương.
Ca dao thuộc loại này rất nhiều, không thể kể ra đây, nên chỉ trích một vài câu điển hình. Sở dĩ chúng tôi để vào phần kết luận vì quan niệm rằng có sự khác biệt của những câu hát nói về một thời đại, cảm hứng từ những sự kiện lịch sử của một thời đại và xuất hiện ở một thời đại. Các câu trích trên một số có vẻ được người ủng hộ nhà Nguyễn đặt ra sau nầy (các câu nói về sự chấm dứt của nhà Tây Sơn), một số được nhà chú giải cắt nghĩa gượng ép, đôi khi không đồng ý nhau. Vả lại, mọi sự giải thích của người sau về những câu ca dao liên quan đến lịch sử cần phải được xét lại cẩn thận. Chúng ta không thể căn cứ trên một vài tình ý, một vài sự kiện được mô tả trong ca dao với những sự kiện lịch sử có vẻ tương tợ để đi đến kết luận câu ca dao đó nói sự kiện lịch sử kia và được xuất hiện vào thời đại của sự kiện lịch sử kia. Mọi kết luận suy diễn từ địa danh, nhân danh trong ca dao để xác định thời đại xuất hiện cũng đều có giá trị một cách bấp bênh như vậy.
Chúng ta phải công nhận nhà văn vô danh khi sáng tác cũng có những cảm hứng, cũng lựa chọn đề tài; cảm hứng, hay đề tài được lựa chọn có thể xuất phát từ những sự kiện lịch sử đã qua như trường hợp các nhà vịnh sử trong văn chương bác học.
Do đó, đối với văn chương truyền miệng, một thành phần của văn học Việt Nam, vốn khó khăn trong việc xác định thời điểm sáng tác, chúng ta cần phải có thái độ dè dặt tuyệt đối, loại văn chương nầy hiện diện làm giàu cho văn chương Việt nhưng đồng thời đưa văn học Việt Nam đến chỗ mơ hồ, sai lầm, hỗn độn đối với những trường hợp dễ dãi trong việc khảo sát.


***
Loại bỏ văn học quốc ngữ trong văn học Nam Hà, không chú ý đến văn học truyền miệng trong việc nghiên cứu một thời đại văn học, người viết chỉ căn cứ trên những lý do khách quan và đường lối nghiên cứu khoa học. Do đó đối với tác phẩm vốn được coi như xuất hiện vào thời kỳ nhất định, ở đây từ 1560 - 1802 chúng tôi thấy bổn phận phải nói đến.
Đó là trường hợp bài “Hải môn Ca” và truyện “Cổ tháp linh tích”. Hai tác phẩm nầy từ trước đến nay chưa được đưa vào văn học sử. Mới đây, “Hải môn Ca” được đọc giả Bửu Cầm phiên âm từ bản Nôm như để giới thiệu một bài ca đặc biệt về các cửa bể Việt Nam, trong một số Văn hóa nguyệt san và “Cổ tháp linh tích” được giáo sư Nguyễn Khắc Ngữ công bố trong Tập san Khảo Cổ như một tài liệu để người đọc hiểu thêm về tháp bà Thiên Ý A Na ở Khánh Hòa.
Hai bài nầy đặc biệt ở chỗ đều được ghi lại bằng chữ Nôm, chúng tôi cho rằng thuộc vào Văn Học Nam Hà vì những lý do sau:

- “Hải Môn Ca:

a. Hải Môn Ca là bài ca nói về cuộc hành trình về phương Nam. Trong đó người sáng tác chỉ ghi các cửa biển từ sông Gianh trở vào Nam, thuộc về vùng đất Chúa Nguyễn. Chúng ta chắc chắn rằng tác giả là người Đàng Trong và ông đã đi một cách tự do trong vùng đất Nam Hà vì các cửa biển phía bên kia bờ sông Gianh không được nhắc tới. Hải Môn Ca vì vậy là một tác phẩm của một người sống vào thời Nam Bắc phân tranh.
b. Mặt khác trong Hải Môn Ca có rất nhiều địa danh xuất hiện thời các chúa Nguyễn và nhiều tên cửa biển đã được thay đổi dưới thời Gia Long hoặc sau hơn đôi chút. Bài nầy rất đặc biệt giúp ta biết được tình trạng giao thông bằng đường biển của vùng đất Nam Hà, đi liền từ sông Gianh đến Biên Hòa và lên tận Cao Miên; bài ca cũng cho biết cả cửa biển nào nguy hiểm, bình thường, tốt xấu, ít hay nhiều sóng..., quãng cách từ địa điểm nầy đến địa điểm kia ...
Ngoài ra bản văn còn bộc lộ lòng yêu mến quê hương của tác giả ở chỗ đã gắn bó với địa phương, thông thuộc đường đi nước bước của từng vùng.
Xin giới thiệu lại toàn bài:

1. La Hà xuống ngọn sông Gianh
Phỏng bán nhật trình vượt đến Thuận Cô.
Cửa An Niệu nọ sóng xô
Ngọn từ xã Thái ồ ồ chảy tuôn.
5. Một thôi đến Nhật Lệ môn
Minh Linh  cửa ấy sắt chôn làm hàn.
Một ngày trải khắp giang san.
Đến miền cửa Việt  sắt hàn hiểm sao!
Một ngày lại đến cửa Eo
10. Cửa Hàn ngăn sắt sóng reo đầy đầy.
Đến Tư Khách  cũng một ngày.
Một canh vượt thủy này này Cảnh Dương
Một ngày lại đến cửa Sang (?).
Vượt ba canh chầy lại tới Câu Đê .
15. Đà Nẵng  cửa đặt tuần ty
Đại Chiêm cửa ấy phỏng đi một ngày
Thủy hành trót một canh chầy.
Hiệp Hòa  bên nọ nầy đây An Hòa
Thủy một canh lại qua Châu Ổ
20. Sa Trạm  kia đi bộ hai canh.
Một canh, Tiểu Hải  bộ hành.
Đại Nham  ba trống thủy trình bao xa ?
Một ngày đến huyện Mô Hoa
Mỹ Á  cửa nọ thật là hiểm thay!
25. Thủy hành phỏng độ nửa ngày,
Tột Bồng Sơn  huyện, thực đây Sa Huỳnh  .
Hai canh cửa Kim Bồng hải khẩu.
Phỏng vượt qua Thời Phú  một canh
Vào Nước Ngọt  một nhật trình.
30. Tới miền Nước Mặn  bộ hành một ngày.
Cù Mông  đây Bà Đài  chốn nọ.
Mây Nước  vài An Phú  Đà Nông
Qua miền Nha Lỗ  phỏng trong cửa ngày.
35. Đến Nha Trang  một ngày chầy.
Lại trong nửa ngày đến Tiểu Nha Trang
Cam Ranh cửa ấy lênh lang.
Thủy ba canh rót, đi đường năm canh.
Qua Man Ranh  một nhật trình.
40. Đến cửa Man Rí  thủy hành một ngày
Phố Hài  đay, kìa kìa cửa Cạn .
Đến Ma Ly  phỏng bán nhật trình.
Thủy hành phỏng độ ba canh.
Xích Lam  cửa ấy nước xanh như chàm.
45. Tự Xích Lam vào miền cửa Lộn
Phỏng bộ hành đến bốn trống canh.
Đến Cao Miên nhị nhật trình.
48. Ấy thời đã lại Chiêm Thành phong cương”

- “Cổ tháp linh tích:

Phiên giả khi công bố bản quốc ngữ của Cổ Tháp Linh Tích nói nguyên văn bản Nôm có ghi Gia Long Nguyên niên (1802) các chữ nầy có lẽ thuộc về niên đại sao chép hơn thời điểm sáng tác. Như vậy Cổ Tháp Linh Tích chắc hẳn đã được viết ra trước đó không lâu. Đây là một lý do chắc chắn để xác nhận Cổ Tháp Linh Tích thuộc vào nền văn học Nam Hà:
Ngoài ra nội dung truyện cho ta thấy những luận cứ sau:
a. Dùng địa danh đã bị thay đổi vào năm 1770
Câu 3 trong “Cổ tháp linh tích”:
Phủ Diên Khánh thuộc nay Hà Bạc.
Phủ Diên Khánh bị đổi làm Khánh Hòa năm 1770. Vậy chắc chắn tác giả sáng tác trước niên đại nầy.
b. Dùng chữ Chúa để chỉ Vua:
Câu 79, tác giả viết:
Chiều lòng, Chúa sai người sắm sửa”.
Theo nội dung, chữa Chúa ở đây chỉ một vị vua ở Trung Quốc, phải là người sống trong thời gian vai trò Chúa cực thịnh mới dùng chữ nầy.
c. Người viết đã sáng tác lúc còn giặc giã, ngay tại địa phương Khánh Hòa.
Các câu sau (153 - 158) cho thấy tác giả sáng tác lúc nào và tại đâu:
Cõi Nam theo việc nhung đao.
Xa khơi bỡ ngỡ âm hao chưa tường.
Tới địa phương gạn người già lão,
Tiếc sự xưa di thảo chẳng truyền,
Vậy bèn ghi chép một thiên,
Kính dâng ngõ để dấu tiên muôn đời.”
d. Cuối bài, theo thông lệ tác giả có vài câu chúc vị lãnh tụ, nội dung nầy cho thấy lúc đó nhà Tây Sơn chưa bị hoàn toàn tiêu diệt, nói cách khác lúc đó nước nhà chưa được thái bình, Gia Long chưa lên ngôi.
Trên chín trời giơ gương minh kính
Họ hoàng gia càng thịnh ngàn thu.
Dẹp yên bốn bể chín chu,
Âu vàng mãi mãi vững phù cõi Nam.
Hai tác phẩm khuyết danh trên ghi lại được phần nào tình trạng sinh hoạt của dân chúng xứ Đàng Trong cuối thế kỷ XVIII, về mặt tín ngưỡng còn tin tưởng ở thần quyền, ở những truyền thuyết hoang đường, e ngại những sức mạnh siêu nhiên (Cổ tháp linh tích) đường giao thông, nhất là trên biển dễ dàng (Hải Môn Ca) con người quyến luyến đất nước, phong cảnh cũng đẹp, trù phú (Cổ tháp linh tích).
Xin trích một đoạn mở đầu trong Cổ tháp linh tích, nói về cảnh đẹp ở Diên Khánh:
Lô xô đòi lớp diễn đào,
Khi ra nhìn nguyệt, khi vào quyến phong.
Đỉnh chất ngất trập trùng hoa cỏ.
Trải tư mùa xanh đỏ sáng trưng.
Suối đàn sóng vỗ vang lừng,
Ngoài khơi ca múa, trong rừng chim ca,
Song cơ ấy chỉn đà sẵn có,
Khá khen thay tạo hóa khéo xây.”
Tuy nhiên hai tác phẩm trên chỉ mới nói lên được một khía cạnh của văn học Nam Hà: sự sinh hoạt và tình yêu quê hương; văn học Nam Hà hình thành trong lúc đất nước bị qua phân, chiến tranh, với cảnh tang tóc đổ vỡ, biết bao nhà văn đã ghi lại những trạng huống bi thảm đó, mà Hoàng Quang là một.
Để thay lời kết luận chung, xin chép lại nơi đây bài thơ một võ tướng khuyết danh vịnh đền thờ Quan Công (thời Nguyễn Ánh), chép lại trong Đại Nam Nhất Thống Chí, tỉnh Bình Thuận. Bài thơ được cấu tạo bằng cái nhìn bi thiết trên mặt hoang tàn, phế xụp của cảnh vật, cái nhìn có thể nói rất thông thường của tác giả Nam Hà.

Nguyên Văn:

叢 祠 一 簇 凜 神 威
正 氣 周 流 及 遠 垂
積 雪 層 層 凝 義 刃
漫 苔 點 點 畫 征 衣
已 經 億 載 殘 編 後
復 見 三 分 裂 幅 期
晚 輩 自 慚 無 智 勇
只 將 忠 僨 冀 神 知

Phiên âm:

Tùng từ nhất thốc lẫm thần uy,
Chính chí chu lưu cập viễn thùy.
Tích tuyết tằng tằng ngưng nghĩa nhận
Man đài điểm điểm họa chinh y.
Dĩ kinh tức tải tàn biên hậu.
Phục kiến tam phân liệt bức kỳ.
Vãn bối tự tâm vô trí dõng,
Chỉ tương trung phẫn ký thần tri”.

Dịch thơ:

Đền hoang phế, thần uy lẫm lẫm.
Chính khí thông muôn dặm non sông.
Gươm trung nghĩa chập chồng tuyết đọng,
Mảnh chinh y điểm đóng mốc meo.
Sử sách cũ gương treo thiên tải.
Cõi bờ nay trở lại tam phân.
Kém trí dũng xét thân tự hổ.
Lòng phẫn trung mong tỏ chứng minh”.
(Tu Trai Nguyễn Tạo dịch).

Tóm lại, văn học Nam Hà, Nôm cũng như Hán, tác phẩm vô danh hay khuyết danh, đều bao gồm một đề tài lớn: thời thế, đất nước, sinh hoạt nhân dân. Đó là tài liệu quý giá không chỉ trong địa hạt văn học mà cả sử học, chính trị, địa lý nhân văn ... giúp ta hiểu tình trạng của miền Nam nước Việt thời phân tranh.
Một sự khảo sát tận tường của các bậc cao minh về nền văn học nầy thiết nghĩ rất hợp tình hợp lý.

Phụ Lục I

HỊCH TÂY SƠN
(Tác giả khuyết danh)


1. Sinh dân phải nuôi dân làm trước, vậy hoàng thiên dựng đấng quân sư;
Gặp loạn đành dẹp loạn mới xong, ấy vương giả có phen binh cách.
2. Hội thuận ứng (1) thế đừng được chửa,Việc chinh tru (2) lòng há muốn ru ?
Ta đây:
3. Bẩm khí trời Nam;
Vốn dòng họ Nguyễn.
4. Nhờ lộc nước phải lo cho nước, đòi phen Trương Tử (3) giả ơn Hàn;
Ăn cơm vua nên nhớ nghĩa vua, chi để Tào Man (4) dòm vạc Hán ?
5. Giận Quốc Phó (5) ra lòng bội thượng;
Vào Tây Sơn xướng nghĩa cần vương (6)
6. Trước là ngăn cột đá giữa dòng, kẻo đảng nghịch đặt mưu ngấp nghé;
Sau là tưới mưa dầm khi hạn, kẻo cùng dân sa chốn lầm than.
7. Ví lòng trời còn nền nếp Phú Xuân (7);
Ắt dấu cũ lại cơ đồ Hữu Hạ (8)
8. Nào biết ngôi trời có bảy (9), giặc họ Trương toan phiến biến mười tuần,
Bỗng xui thế nước tranh ba (10), tôi nhà Hạ (11) phải thu hồi hai nước.
9. Thế bạng duật (12) đương còn đối mặt .
Thói đường lang (13) sao khéo lắng tai!
10. Ngoài mựơn lời cứu viện làm danh, dân kinh loạn ngỡ binh điếu phạt (14);
Trong sáu chữ thừa nguy để dạ, chốn thừa bình nên nỗi lưu ly (15)
11. Cung đài thành quách phá lâng lâng;
Súng ống thuyền bè thu thảy thảy!
12. Cơn gấp khúc chẳng thương lòng ngoại tộc, đã cùng đường đuổi thú thời thôi;
Dấu cưỡi rồng (16) còn nhớ đức tiên quân (17) lại khoét lỗ bừa sâu (18) sao nỡ?
13. So chữ bạo, lửa nồng quá Hạng;
Dò lòng người, nước chảy về Lưu.
14. Chúng điêu tàn mang cờ nghĩa về đầu, khiến quân số một ngày một thịnh;
Dân cơ cận cảm lòng nhân ngóng cổ, nên binh uy càng lúc càng thêm.
15. Quảng Nam đà quét sạch bụi trần;
Thuận Hóa, lại đem về bờ cõi.
16. Nam một giải tăm kình phẳng lặng, cơ thái bình đứng đợi đã gần;
Bắc mấy thành tin nhạn chưa yên, bề cứu viện ngồi trông sao tiện ?
17. Cảm công đức vua Lê dám phụ;
Lộng quyền hành họ Trịnh khó nghe.
18. Ngôi hoàng đế đặt không, há nước thấp lao lung thấy đặng.
Tội hoàng sừ (19) chẳng có ...lòng riêng thêu dệt vào hình.
19. Hiệu Đoan Vương (20) càng tỏ dạ vô quân;
Mưu thoán đoạt lại gây lòng bội phụ.
20. Trưởng cung(21) vốn xưa nay là đích quyền cha trót bội bạc sao đành?
Điện Đô (22) tuy bé nhỏ nhưng anh. Mệnh cha rắp tranh khi sao phải ?
21. Tai chẳng đoán đến lời cố mệnh;
Mặt nào trông vào chốn tử cung (23)?
22. Khiến một đàn con trẻ đàn bà, chữ hiếu thảo nỡ gieo xuống đất;
Để những kẻ tôi ngay người thẳng, tiếng kêu oan đã động đến trời!
23. Ví tôn phù ủng bức chẳng mưu mình;
Thì sắc lệnh ngân tiền nào đợi nó ?
24. Gươm ngược cán (24) còn đem xuống dưới nghĩa lý nào trời đất còn dong?
Lưới đứt giềng quân đuổi được quan, chính sự ấy xưa nay cũng lạ!
25. Vì phế lập muốn mình cho ích;
Để khuynh nguy làm nước phải lo.
26. Vả bấy nay thần nịnh chúa hôn, mở bình trị lòng trời hẳn muốn
Lại gặp hội binh kiêu dân oán, sửa mối giềng tài cả phải ra.
27. Chước vạn toàn đà tạc đá Hoành Sơn; Binh tức khắc lại dương buồm Bắc Hải
28. Sang sông Mạnh (27) phất cờ Chu Vũ, ra tay sửa chính dẹp tà;
Vào đất Quan (28) hét ngựa Hán Hoàng (29), quyết chí lấy nhân đổi bạo.
29. Sắp sửa vốn nguyên vòng lòng thực;
Vỗ về phải ngỏ lời ngay.
30. Chữ “hướng minh” phải mượn ai suy, thương sĩ nữ huyền hoàng (30) là thế;
Máy “trợ thuận” hẳn nhiều kẻ biết Tần lại dân ngưu tửu (31) nữa ta.
31. Ai biết suy lẽ phải quyết một lòng “Hạ chúng (32) hề tô (33)
Ta chả phụ dân lành ắt bốn chữ “thu hào vô phạm”.
32. Thói bội phản chớ quen như trước;
Phút thái bình đều hiểu về sau.
33. Nước triều đông ví chẳng thuận dòng, lại cứ cưỡng rắp dơ tay chắn;
Lửa cháy (34), đá nỡ hòa lầm ngọc, dù hiền ngu khôn lọt lưới trời.
34. Ơn với uy ngỏ cáo lời bằng;
Thuận hay nghịch mặc lòng ai quyết11”.
(Trích theo Thơ Văn Hợp Tuyển - quyển III trang 552 - 555)


Phụ lục II

CỔ THÁP LINH TÍCH

Tác giả khuyết danh

1. Trời Nam cấu khí anh linh
Có nơi phong cảnh hữu tình lạ thay.
Phủ Diên Khánh thuộc nay Hà Bạc.
Cửa Cù Huân non nước thẩm cao
5. Lô xô đòi lớp diễn đào.
Khi ra nhìn nguyệt, khi vào quyến phong
Đỉnh chất ngất trập trùng hoa đỏ,
Trải tư mùa xanh đỏ sáng trưng
Suối đàn sóng vỗ vang lừng
10. Ngoài khơi cá múa, trong rừng chim ca
Song cơ ấy chỉn đà sẵn có.
Khá khen thay tạo hóa khéo xây.
Thú mầu càng ngắm càng say,
Khách tiên đâu hẳn có ngày dạo chơi.
15. Thuở (?) trước nghe lời truyền nói,
Có vợ chồng cả Mọi niên cao
Hiếm hoi nhà lại gặp nghèo.
Đem nhau qua ở bên đèo trồng hoa
Dưa thường mất biết là ai lấy.
20. Đêm ngồi rình bỗng thấy một nàng.
Ẩn thân dưới bóng nguyệt quang.
Tay tiên đón bắt trái vàng cầm chơi.
Thẳng tới nơi hỏi nàng cặn kẽ.
Mừng đem về nuôi để làm con.
25. Tóc mây má phấn môi son
Xuân xanh phảng phất hầu tròn gương thu
Vâng thiên phó nhuần no bốn đức
Chiều thanh tao khác mặt trần tông.
Đêm ngày dưỡng tánh thong dong
30. Bạn cùng già cả, vui cùng nước non
Bỗng nguồn cơn về đâu trở ngỡ
Buổi thanh nhàn sẽ nhớ thú vui.
Hái hoa (chậy) (?) nhị đòi nơi.
Đặt làm cảnh tạm Bồng Lai ngụ tình.
35. Già lẩn khuất trọng khinh chưa tỏ
Nỡ nặng lời mắng mỏ khôn đang,
Thấy chiều dường có bẽ bàng
Gót tiên lúng liếng 12 sen vàng bước đi,
Vừa gặp khi mưa nguồn nước dẫy.
40. Cây hương đâu trôi chảy giữa dòng
Thoắt liền biến hiện vào trong
Sóng đưa lửng đửng hương xông ngạt ngào.
Tán mây phủ thấp cao mặt nước.
Nhắm chừng vời Bắc quốc vượt qua
45. Tiếng đồn khắp hết gần xa.
Sự sao quái dị ai là chẳng kinh
Quan chốn ấy đem binh ra rước
Sức người nào địch được phép tiên
Nào hay trời đã định duyên
50. Tiếng thơm đưa thấu tới trên cửu trùng
Hoàng thái tử chạnh lòng bối rối
Xe tìm thơm thẳng ruổi đường mây
Đón tay thử buộc lấy dây
Cây hương thoắt đã theo tay dần dần.
55. Đem về để trước sân cung các.
Mùi thơm tho ngát nức đòi nơi
Có đêm vầng nguyệt rạng soi
Trong cây nhác thấy một người lộ ra
Hình yểu điệu xa xa thấp thoáng.
60. Ngỡ mặt trăng sa xuống sân lầu.
Rụt rè mới hỏi gót đầu
Việc chi ai bỗng đi đâu chốn nầy.
Đã minh bạch bài ngay mọi lẽ.
Hãy ngờ rằng quái dị chưa tin.
65. Có thầy chiêm nghiệm gửi lên.
Thực tiên giáng thế dám xin đừng ngờ.
Trên chín bệ bấy giờ mừng rỡ.
Mối nhân duyên gặp gỡ bởi đâu
Thơ đào ngợi vịnh ca tâu
70. Quốc trừ, Tiên chúa cùng nhau kết nguyền
Sánh đôi, duyên sắt cầm liền gối
Khúc Chung Tư ánh ỏi đền phong
Phồn hoa lần chiếm mấy đông.
Gửi chân thành thị, bền lòng khê sơn
75. Nhớ cảnh cũ đòi cơn buồn bã
Thừa nhân khi thong thả nỉ non.
Rằng xin kiếm chiếc thuyền con
Để xem sơn thủy đỡ buồn hòa chơi
Chiều lòng, Chúa sai người sắm sửa
80. Vày một đoàn hớn hở xuất dương
Mênh mông bãi Sở ngàn Tương.
Sóng reo cuốn lái, gió nương cánh buồm
Trải phong cảnh đòi chòm chấp chới.
Cửa Cù Huân thoắt tới khi nào:
85. Cá chim đón rước xôn xao,
Hoa ra mừng Chúa, hương vào viếng non.
Nhìn cảnh vật hãy còn rành rạnh.
Ông bà già đã lánh nơi đâu!
Mới hay nhân cảnh phù âu,
90. Bèo mây tan hợp, bể dâu sóng dồi,
Quen thú cũ ngày vui tiêu sái.
Thấy dân trời ngây dại mà thương.
Ra tay tay sửa đặt kỷ cương.
Dân vây đời trị ca xoang thái thuần.
95. Chưa mấy thu duyên trần đã mãn.
Lại sắm sanh tìm chốn thiên thai
Đầu non tháp đá cao xây
Dưới sông lai láng, trên mây tần vần.
Trong tháp lại truyền thần tạc tượng.
100. Ve đá xanh bóng sáng màu gương.
Phó cho dân đó giữ giường.
Xe loan phơi phới tếch đường vân yên.
Cũng một phen phi thăng biến hóa.
Giũ bụi hồng phó trả nhân gian.
105. Xiêm nghê rực rỡ cung Hàn.
Thần tiên được bạn, gian san nhớ người.
Để dấu thơm muôn đời dõi dõi.
Chốn man hoang đều đội ân sâu.
Chỉn từ bể Bắc ra tầu.
110. Lòng trên áy náy tiếc lâu tại hờn
Khéo hỏi han sai người tìm tõi.
Chỉ ngàn Nam dò tới cảnh tiên.
Hay đâu phép nhiệm tự nhiên
Chẳng cho trầm tục bén miền thanh hư.
115. Thoắt bấy giờ ra uy cho biết.
Kèo người phàm mắt thịt khôn hay.
Sườn non lở đá gãy cây.
Bể trôi xao xác, nước đầy chang mang
Từ thuở ấy chỉn càng linh hiển.
120. Phép thần thông biến hiện nhơn nhơn
Có khi âm ế một cơn.
Cưỡi con bạch tượng chờn vờn ruổi đi
Nổ ba tiếng xa nghe đồng vọng.
Dậy nghìn non như súng đùng đùng
125. Có khi chất vất trên không
Cưỡi con bạch hạc vẫy vùng liệng bay.
Có khi thấy dưới mây phấp phới .
Hình lụa đào chói chói ngang trời.
Có khi cưỡi sấu 13 thảnh thơi
130. Khi nơi non Yến, khi nơi đỉnh Cù
Khắp chín châu đâu đâu kính sợ
Khấn nguyền chi cứu trợ sinh linh
Từ sau về chúa Chiêm Thành
Dõi truyền hương hỏa đinh ninh phụng thờ
135. Tưởng rồi có cõi bờ một nước.
Đều cũng nhờ ơn trước mở mang.
Tới từ họ Tống binh cường
Dẹp rồi mới lấy bản chương đem về
Hiệu Hoàng Lê cáo phong rỡ rỡ
140. Chuẩn sái phu một xã Cù Lao
Trên ghềnh nghi ngút huân cao.
Rêu in bia đá biết bao cho mòn
Hốt tới nay dấu còn vẹn vẹn
Khí anh linh hiển hiện như xưa
145. Dàu khi đảo gió khấn mưa.
Mưa tuôn đòi mạch gió đưa con thuyền
Kẻ qua lèn tìm hương liên yến.
Hễ cầu kỳ như nguyện tòng tâm.
Loài ác thú chốn sơn lâm.
150. Cũng như một phép chăm chăm tới chầu
Trải bấy lâu cuộc cờ thay đổi.
Đỉnh tiên du vòi vọi càng cao
Cõi Nam theo việc nhung đao
Xa khơi bỡ ngỡ âm hao chưa tường
155. Tới địa phương gạn người già lão.
Tiếc sự xưa di thảo chẳng truyền
Vậy bèn ghi chép một thiên.
Kính dâng ngõ để đấu tiên muôn đời
Trên chín trời giơ gương minh kính
160. Họ Hoàng gia càng thịnh ngàn thu
Dẹp yên bốn bể chín chu
162. Âu vàng mãi mãi vững phù cõi Nam.
Tài liệu của Viện Khảo Cổ Sàigòn (sao y bản chép năm Nhâm Tuất (1802) tháng 5, ngày mồng 1)

Phụ lục III

Đạo dụ của Nguyễn Ánh14
ngày 26 tháng 2 Canh Thân (1800)

Tác giả khuyết danh

1. Cơn bát loạn chẳng lo sao đặng, năm sáu phen đãng định, dễ muốn chi qua giáp biền đê;
Hội trung trưng phải quyết mới xong, muôn nghìn dặm thu công, bao nỡ để sinh linh đồ thán.
2. Thời dĩ chí khá rằng vội tưởng;
Cơ khả thừa vậy phải sớm toan.
Ta nay:
3. Gặp hội trung vi;
Dựng nền tái tạo.
4. Tám chín phủ giang sơn đồ sộ, đặng chỗ nầy lo chỗ khác, thù tổ tông đâu dám nguôi lòng;
Mười ba thu tướng sĩ nhọc nhằn, đánh trận nọ qua trận kia, đạo thần tử trước đà gắng sức.
5. Vậy năm ngoái thu thành Bình Định, rất đỗi cần lao;
Tưởng năm nay nghỉ chốn Đồng Nai, yên bề hưu tức.
6. Song liệu chừng thế nó: tướng phẫn binh tàn, hạ lăng, thượng phế, dù chẳng đánh cũng hư;
Nhân tính lại việc ta: đồn quân, tích tướng, trữ súng, tăng thuyền, phải sắm thêm mới mạnh.
Nên nỗi:
7. Theo đường phú liễm;
Nặng việc công sưu
8. Dân thời cung cống lương tiền, nhịn mặc, nhịn ăn, tật khổ ta đâu không rõ;
Quân thời tân cần chinh dịch, gắng công gắng sức, huân lao ta vốn không quên.
9. Trước tuy nhật xúc kinh doanh;
Rày đã sẵn rồi chiến cụ.
10. Cũng muốn dưỡng uy súc nhuệ, trời Gia Định nghỉ ngơi cho khoẻ, ngõ chư quân đều được lạc sinh;
Nào ngờ cùng khấu xương cuồng, lũy Bàn Xà đến rấn vào vây, bởi nghịch tặc tư lai tống tử.
11. Huống nó, em phản anh, tôi phản chúa, lại thêm ngoại viện táng sư, trường thành thất hiểm, tai phần sào đã quyết từ nay;
Mà ta, lương thì đủ, quân thì ròng, sẵn có tướng tài quy phụ, chư quốc liên binh, thế phá trúc chờ bao thuở nữa.
Cứ ấy:
12. Vội vàng trục Bắc;
Hăm hở bình Tây.
13. Trước là do tôn xã mà phục thù, kẻo lăng tẩm một thời man mác;
Sau là vì (?) thần dân mà tiếc phẫn, kẻo thương sanh khắp chốn than van.
14. Cơ hội nầy ai nỡ đặng thôi;
Công danh ấy người âu phải gắng .
Rày mới:
15. Vui lòng sư lữ;
Mở tiệc cảo lao.
16. Muốn cho đặng tấm lòng chung, tôn ti nhất thể;
Vậy phải phô bày lời thật, minh thệ tam quân.
17. Quân thời nợ nước lo đền, khoán thiết thơ son đành tạc đó.
Quân thì thù trai giốc trả, cung dâu tên cỏ phỉ nguyền xưa.
18. Những người tiên kiến hướng minh, trót đã lập công, chớ để Trần Bình riêng thuở Hán;
Những kẻ hậu lai quy thuận, đều cho báo hiệu, mựa nhường Kính Đức ngợi đời Đường.
19. Phép vô tư chẳng khuất một ai, dầu bộ khúc thiên ty, có công ắt thưởng;
Quyền tất phạt không riêng nửa mảy, tuy huân thần quý thích, phạm tội nào dung.
20. Trên dưới tua dốc chí Cần Vương;
Tướng hiệu cũng một lòng địch khái.
21. Thành Qui Nhơn chỉ Bắc, đạp pháp trùng vi;
Đô Thuận Hóa rung cờ, dẹp yên đảng ngụy.
22. Công tru bạo gắng rồi một thuở;
Phúc thái bình đều hưởng nghìn năm.
23. Ai tưởng câu chủ quí thần vinh mà phụng thị tại triều, quan ắt đặng tên đề trúc bạch;
Ai muốn chữ công thành thân tạo mà quy hưu tại dã, quân thời xá thế lính chinh diên .
24. Trên đã bày lời;
Dưới tua tỏ ý.
Khâm tai sắc dụ.
(An Khê sao lục. Nam Phong t.XIV số 80, tháng 2/1924).


@ Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa chuyển từ Hoa Kỳ ngày 15.02.2014 .