Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Dương Kinh (HảiPhòng)




NƯỚC ĐẠI VIỆT THỜI MẠC            




(Chương 5, tập II, Lịch sử Việt Nam, NXB Giáo dục, 2012)


 

1. TRIỀU LÊ SUY VONG VÀ SỰ THÀNH LẬP TRIỀU MẠC  

1.1 Triều Lê suy vong

Triều chính Lê sơ từ sau đỉnh phồn vinh đời vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) đã nhanh chóng suy yếu. Tinh hình ấy diễn ra càng ngày càng nghiêm trọng trong năm đời vua cuối cùng của thời Lê sơ là Túc Tông (1504 - 1505), Uy Mục (1505 - 1510), Tương Dực (1510 - 1516), Chiêu Tông (1516 - 1522) và Cung Hoàng (1522 - 1527).

Lê Hiến Tông "ham nữ sắc", nhưng vẫn còn quan tâm đến nông nghiệp, hằng năm có sắc lệnh cho các quan Thừa ty, Hiến ty và phủ, huyện phải tuần hành quan sát việc cấy hái, đê điều, khơi kênh mương. Sử gia nhà Lê coi Lê Hiến Tông "xứng đáng là bậc vua giỏi giữ cơ đồ"1 trong 7 năm ở ngôi (1497 - 1504).

Lê Túc Tông chỉ mới ở ngôi có 6 tháng đã bị mất, không rõ nguyên nhân. Còn các vua sau đó, qua nhận xét của các nhân vật đương thời và sử gia thời Lê thì hiện lên với những gương mặt như sau:

Lê Uy Mục là vua quỷ (quỷ vương) - khắc hoạ của Hứa Thiên Tích, sứ thần nhà Minh sang Đại Việt nãm 1507, từng tiếp kiến với nhà vua2. Còn các sử thần triều Lê thì nhận xét: "nghiện rượu, hiếu sát, hoang dâm, thích ra oai, tàn hại người tông thất, giết ngầm tổ mẫu. Họ ngoại hoành hành,trăm họ oán hận... mầm loạn đã xuất hiện từ đây". "Từ khi lên ngôi, vua đêm nào cũng cùng cung nhân vui đùa uống rượu vô độ. Khi rượu say liền giết cả cung nhân"3.

Mẹ đẻ của Lê Uy Mục là Nguyễn Thị Cận, người làng Phù Chẩn. Lúc bé nhà nghèo, Thị Cận phải tự bán mình cho người ở phủ Phụng Thiên, sau nhà ấy có tội, bị tịch thu sung làm quan tỳ vào hầu Hoàng hậu Quản Ninh. Thái tử Lê Tranh (sau lên ngôi vua là Lê Hiến Tông) thấy đẹp, lấy vào làm phi, sinh ra Tuấn. Khi Thị Cận mất, Tuấn còn nhỏ, Nguyễn Kính Phi không có con trai nên nhận làm con nuôi, có ý lập làm vua, đã đem vàng đút lót cho các đại thần Đàm Văn Lễ, Nguyễn Quang Bật. Khi vua Lê Hiến Tông ốm, di chiếu cho Lễ, Bật phò tá Lê Thuần lên ngôi (tức Lê Túc Tông). Vì thế, Nguyễn Kính Phi và Lê Tuấn nhân lúc Thuần mới lên ngôi 6 tháng đã "bị bãng ở điện Hoằng Cực", liền khiến Nội thần Nguyễn Nhữ Vi đóng các cửa thành lại, lập Lê Tuấn lên ngôi tức Uy Mục đế. Sau đó ít lâu, không chỉ Thái hoàng Thái hậu - người đã phản đối Lê Tuấn lên ngôi trước đây, bị "thình lình băng ở chính tẩm điện Trường Lạc" mà Đàm Văn Lễ, Nguyễn Quang Bật đểu bị biếm vào Quảng Nam rồi giết chết.

Vì "công lao" của họ ngoại nên Lê Uy Mục hết cho xây Bảo Thụy đường ở quê mẹ đẻ, lại cho dựng Tuyên Dự đường ở quê mẹ nuôi, rồi làm điện Quang Mỹ để thờ tổ tiên mẹ nuôi ở phường Lệ Viên, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên. Dòng họ bên ngoại của nhà vua "quyền thế nghiêng lệch trong triều, ngoài trấn". Họ hàng của mẹ nuôi ở Hoa Lăng (Thuỷ Nguyên, Hải Phòng), mẹ đẻ ở Phù Chẩn (Từ Sơn, Bắc Ninh) của Lê Tuấn được dịp "tự tiện làm oai làm phúc", "kẻ thì vì ý riêng mà giết hại sinh dân, kẻ thì dùng ngón kín mà yêu sách tiền của, mọi thứ súc vật hoa màu của dân, chúng đều cướp đoạt cả. Nhà nào có đồ lạ, vật quý, chúng đánh dấu vào và đòi lấy, muôn dân ta oán"4...

Trong khi tin cậy vào dòng họ ngoại thì tôn thất và công thần nhà Lê lại bị đuổi về quê Thanh Hoá. Thân thích của Trường Lạc Hoàng thái hậu như Nguyễn Văn Lang - con Nguyễn Đắc Trung, em trai của Hoàng thái hậu cũng bị đuổi về quê. "Các quan người nào ngày trước không lập mình thì thường giết đi, ngầm sai nội nhân Nguyễn Đình Khoa đi dò xét cả 26 vương là các chú, anh em của vua, trong đó Kinh Vương là chú đã chạy trốn không biết đi đâu, chỉ có Giản Tu công là con chú bác bị giam vào ngục trốn thoát được. Do vậy, mọi ngưởi đều cảm thấy nguy đến thân mình"5.

Năm 1509, nhóm con cháu công thần và tông thất bị giết hoặc bị đuổi về Thanh Hoá như Nguyễn Văn Lang liên kết với Nghi Quận công Lê Năng Căn cùng Vũ Bá, Vũ Tiếp chiếm cứ Thần Phù - án ngữ con đường thuỷ bộ Bắc - Nam. Nhóm này đón Giản Tu công Lê Oanh lập làm minh chủ, kéo thêm các đại thần như Nguyễn Diễn, Ngô Khê, Nguyễn Bá Cao, Thừa tuyên sứ Lê Tung, Tham chính Nguyễn Thì Ung, sai Lương Đắc Bằng viết hịch, khởi binh ở Thanh Hoá. Khi nhóm Lê Oanh giành được kinh thành thì cả cha, anh và hai em của Lê Oanh đều đã bị giết hại. Khi ấy dẫu Lê Tuấn đã uống thuốc độc chết rồi, Lê Oanh vẫn sai người dùng súng lớn, để xác Lê Tuấn vào miệng súng, cho nổ tan hài cốt.

Đến lượt Lê Oanh lên ngôi vua (tức Lê Tương Dực), cũng chỉ được "buổi đầu lên ngôi, ban hành giáo hoá, thận trọng hình phạt", còn sau đó "chơi bời vô độ, xây dựng liên miên, dân nghèo thất nghiệp, trộm cướp nổi lên, dẫn đến nguy vong là bởi ở đây”6. Lên ngôi tháng chạp năm Ký Tỵ, thì đến tháng tư nãm sau (1510), Lê Tương Dực đã bị bọn hoạn quan Nguyễn Khắc Hài đang đêm ép đến cung Trùng Hoa, rồi Vạn Thọ, Cẩn Đức, Kính Thiên. Bọn này đem kiệu đi đón Hoa Khê vương lên ngôi. Nhóm Thọ Quận công Trịnh Hựu dẹp tan được cuộc đảo chính này.

Năm 1511, thừa lúc Lê Tương Dực đi bái yết Lam Kinh, Tiến sĩ Thân Duy Nhạc cùng Ngô Vãn Tổng nổi dậy ở Yên Phong, Đông Ngàn. Tháng 11 nãm đó, Trần Tuân nổi dậy ở Sơn Tây. Lê Tương Dực hết sai Trịnh Duy Sản đi đánh dẹp, rồi lại khiến Nguyễn Văn Lang đi tiếp ứng. Loạn Trần Tuân chưa dẹp yên thì Nguyễn Nghiêm đã nổi lên ở Sơn Tây, Hưng Hoá... Năm Bính Tý (1516), khi chưa hết hốt hoảng vì quân Trần Cảo tấn công vào sát bến Bồ Để, phải bỏ chạy khỏi Hoàng cung, thì Lê Tương Dực bị chính viên tướng Trịnh Duy Sản - kẻ từng theo lệnh nhà vua đem quân đánh dẹp các cuộc nổi dậy ở vùng Sơn Tây - sai võ sĩ cầm giáo đâm ngã ngựa rồi giết chết, đem thiêu xác.

Sau cái chết của Lê Tương Dực, đến lượt Lê Ỷ mới 8 tuổi, con trưởng của Cẩm Giang vương Lê Sùng, do phái Trịnh Duy Sản, Lê Nghĩa Chiêu lập lên ngôi năm 1516, tức vua Lê Chiêu Tông. Nhà vua "trong buổi loạn lạc, quyền bính không ở trong tay"7, mà thuộc về các võ tướng là Nguyễn Hoằng Dụ, Trịnh Tuy. Rồi hai viên tướng này lại đánh lẫn nhau, quyền hành thực tế nằm trong tay Trần Chân.

Chỉ 7 tháng sau, bè đảng của Trần Chân, Trần Trí, Nguyễn Nga, Nguyễn Bá Đại... lại bị nhóm Thọ Quốc công Trịnh Hựu, Thụy Quận công Ngô Bính, có sự hợp sức của Trịnh Tuy thác mệnh Lê Ỷ, đang đêm mời vào cung và giết chết. Các đệ tử của Trần Chân là Nguyễn Kính, Nguyễn Áng, Nguyễn Hiêu, Cao Xuân Thì đem quân vây kinh thành. Lê Chiêu Tông 10 tuổi, được đưa chạy hết dinh Bồ Đề (Gia Lâm, Hà Nội) vể Súc Ý đường (Thuận Thành, Bắc Ninh)... Đám vua tôi chạy loạn đó cho gọi binh lực của Nguyễn Hoằng Dụ để nhờ vả. Nhưng Hoàng Dụ "lưỡng lự không đi", phải gọi Mạc Đăng Dung từ Hải Dương về. Song, Mạc Đăng Dung lại muốn dời vua về Bảo Châu (Từ Liêm, Hà Nội). Ngự sử đài Đỗ Nhạc, Phó đô ngự sử Nguyễn Dự e ngại quyền lực và âm mưu của Dung nên đã can ngăn. Dung giết chết hai người này.

Trong khi đó, nhóm Trịnh Tuy, Nguyễn Sư cùng với các tướng Sơn Tây tìm chọn và lần lượt đưa Lê Bảng rồi Lê Do lên làm vua, đem quân khiêu chiên với quân của Lê Chiêu Tông. Phái phò Chiêu Tông phải gọi Nguyễn Hoằng Dụ từ Thanh Hoá ra để phối hợp với Mạc Đăng Dung đánh lại Lê Do. Khi tiến công Lê Do không được, Dụ tự quay binh, chí còn binh lực của Mạc Đăng Dung bên cạnh vua Lê. Sau khi đánh bại Lê Do, Nguyễn Sư, Mạc Đãng Dung được phong Minh quân công rồi Thái phó, thâu tóm thực quyển của triều đình.

E ngại binh lực, quyền hành trong tay Mạc Đăng Dung, nhóm Phạm Hiến, Phạm Thứ ngầm sai người đem mật chiếu của Lê Chiêu Tông vào Tây Kinh (Thanh Hoá) triệu Trịnh Tuy ra ứng viện. Phạm Hiến, Phạm Thứ dẫn nhà vua chạy khỏi kinh thành lên Sơn Tây, bỏ lại cả Hoàng thái hậu và Lê Xuân, em trai Lê Chiêu Tông.

Lập tức, Mạc Đăng Dung cùng Thái sư Lượng quốc công Lê Phụ dựng Lê Xuân lên ngôi vua, chuyển triều đình sang Hồng Thị (Hải Dương) lập hành cung... Trong suốt tháng 8, hai thế lực dựng hai vua đó tiến đánh lẫn nhau không phân thắng bại. Cả vùng Gia Lâm, Vãn Giang, Đường Hào, Cẩm Giàng, Lương Tài, Gia Bình (vùng Gia Lâm - Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên) thành bãi chiến trường.

Tháng 10, phe Lê Chiêu Tông phân hoá. Trịnh Tuy đem hơn 1 vạn quân trở về dinh của mình, tiến đánh bắt Lê Chiêu Tông đem về Thanh Hoá. Phái Mạc Đãng Dung tiến vào Thanh Hoá, phế Lê Chiêu Tông làm Đà Dương vương rồi bắt đem về Thăng Long. Tháng 12 năm Bính Tuất (1526), Mạc Đăng Dung sai Phạm Kim Bảng bí mật giết chết Lê Chiêu Tông.

Trong số 6 vua kể trên, vua ở ngôi lâu nhất và thọ nhất là Lê Hiến Tông (ở ngôi 7 nãm, 43 tuổi). Các vua còn lại đểu chỉ từ tuổi 16 đến đến 24 tuổi, ở ngôi từ 6 tháng đến vài năm. Trong 20 năm sau cùng, cả 4 vua đều bị giết chết. Những cái chết bất thường của các vua do thanh toán lẫn nhau trong nội bộ triều đình đến đầu thế kỷ XVI đã trở nên phổ biến. Đó là hậu quả tất yếu của những tranh giành, mâu thuẫn gay gắt về quyển lực giữa các phe phái trong cung đình triều Lê vốn từng âm ỷ thường xuyên, tích tụ nay có dịp bùng phát dữ dội.

Triều chính năm bè bảy mối, tiêu diệt lẫn nhau bằng mọi biện pháp tàn bạo là điều kiện biến quan trường thành chốn để bọn quan lại các cấp nhân đó cậy thế ỷ quyền, gây bè cánh, đục khoét, vơ vét. Tinh hình ấy đã được phản ảnh phần nào trong chính chiếu chỉ của vua Lê Hiến Tông từ các nãm 1498, 1499 "Dung túng che giấu cho nhau. Lâu ngày quen nết. Thậm chí hùa nhau làm trò nhơ nhuốc. Mặt dày nịnh bợ, quỳ gối chui luồn nuôi chứa lòng gian, gây mối tệ hại, không sao kể xiết"8, "không đoái chi đến phép tắc của triều đình, người lo việc nước thì ít, kẻ thiếu trách nhiệm, bỏ chức phận thì nhiều"9. Bọn viên lại thì : "quá nhiều, rất nhũng tạp. Có kẻ ăn may, chỉ một nghề là được bổ dụng. Có kẻ cậy nhờ nhiều ngón, mong được chỗ hơn, hối lộ công khai, thăng quan vượt cấp. Lại còn có kẻ không viết nổi bản thảo tờ tâu, phải bỏ tiền thuê người viết hộ, cũna có kẻ không chép nổi sách, chỉ mánh khoé để kiếm ăn. Bệnh trong tim óc, năm tháng đã lâu"10.

Giáo dục và thi cử Nho học vốn được triều đình Lê sơ gần 2/3 thế kỷ XV kỳ vọng là nguồn đào tạo quan lại, thì trong sắc chỉ quy định về các thể lệ thi Hương ngày 25 tháng chạp năm Tân Dậu (1501) phản ảnh một tình trạng: "khi học trò vào thi còn nhũng tạp, có người viết bất thành văn, hoặc vì họ hàng con em mà nhắn nhe gửi gắm"11, "Các quan đề điệu, giám thí phải sai các viên giám quan khám xét, hiệp đồng kiểm tra trường thi tìm xét dấu vết xem chỗ nào cất giấu Thi, Thư và các tài liệu khác... Người nào sao chép văn bài mang theo, người nào thi hộ"12.

Đương nhiên, đình thần triều Lê không phải không biết các tình trạng trên. Đã có người đề xuất kế sách để bảo vệ sự an toàn của triều đình, của ngai vàng vua Lê. Tháng 10 năm Canh Ngọ (1510), tức là gần một nãm từ khi Lê Tương Dực lên ngôi, Lương Đắc Bằng dâng Kế sách tri bình nhằm lập lại an ninh, trật tự kỷ cương của triều đình, xã hội. Sau khi nhận thấy: "Từ khi lên ngôi tới nay, hoà khí chưa thuận, can qua chưa dứt, kỷ cương triều đình chưa đặt, việc quân việc nước chưa sửa sang, tai dị xảy ra luôn, tệ tham nhũng ngấm ngầm phát triển, bọn nghịch tặc lén lút manh nha"... Lương Đắc Bằng đề nghị 14 điểu:

1.Phải cảnh giác ngăn ngừa để chấm dứt tai biến.

2.Dốc lòng hiếu thảo để khuyến khích lòng trung hậu

3. Phải cảnh giác ngăn ngừa để chấm dứt tai biến.

4.  Dốc lòng hiếu thảo để khuyến khích lòng trung hậu.

5.  Xa thanh sắc để làm chân chính gốc của tâm.

6.  Đuổi tà nịnh để làm trong sạch ngọn nguồn muôn việc.

7.  Dè dặt trao quan tước để thận trọng việc khuyến khích răn đe.

8.  Tuyên bổ công bằng để đường làm quan trong sạch.

9.  Tiết kiệm tiêu dùng để khuyến khích phong tục kiệm phác.

10. Nêu khen người tiết nghĩa đê’ coi trọng đạo cương thường.

11. Cấm hối lộ để trừ bỏ thói tham ô.

12. Sửa sang võ bị để vững thế thành đồng ao móng.

13. Lựa chọn quan can gián để gây khí thế dám nói.

14. Nới nhẹ việc lực dịch để thoả mong đợi của dân.

15. Hiệu lênh phải tín thực để thống nhất ý chí của bốn phương.  

16. Luật pháp, chế độ phải thận trọng để mở nền thịnh trị thái bình.13  

Lê Tương Dực nghe theo.

Nhưng không phải đến Lương Đắc Bằng mới đưa việc ngăn ngừa tai biến thành quốc sách, mà các đời vua trước đều ý thức được việc bảo vệ an ninh của nhà vua và triều đình là ưu tiên số một. Triều đình cuối Lê sơ cũng đã từng áp dụng nhiều biện pháp đối phó như vậy.

Trước hết là lo tăng cường củng cố hệ thống bảo vệ an ninh trong Hoàng thành

Tháng chạp năm Giáp Tý (1504), vừa mới mai táng vua Lê Hiến Tông được 1 tháng thì vua Lê Túc Tông mất, Lê Uy Mục được đưa lên ngôi. Trong cảnh tang ma dồn dập ấy, trong 2 ngày giáp Tết (25, 26 tháng chạp) triều đình Lê đã ra 2 định lệ:

-  Làm điếm trực canh ngoài cửa Ngũ Thành "các vệ Hiệu lực, Thần vũ, Điện tiền phải làm 2 dãy nhà ngói, mỗi dãy 7 gian. Hàng ngày, đơn vị giữ cứa dùng 1 người ra điếm trực để xét hỏi người qua lại, các nhàn viên túc thanh của vệ cẩm y cũng phải ở đó. Ban đêm, nội thần phải ở trong cửa đài. Còn mỗi dãy thì dùng 2 viên quan, 20 lính, 50 chiếc mộc, 5 cây thủ tiễn của các vệ Thần vũ, Điện tiền, Hiệu lực để túc trực.

-  Làm gióng gỗ ở ngoài điếm quân của 5 phủ. Nếu điếm ở ngoài thì chỗ các điếm cách nhau đểu phải làm gióng gỗ, cột gióng phải to, mỗi điếm dùng 5 câu liêm có đầu nhọn, trên đầu có móc để ở hai đầu điếm để canh giữ. Quan viên và binh lính đều phải trực ở điếm không được sai phái đi làm việc khác.

Lê Uy Mục cũng đã triển khai liên tiếp một loạt các công việc nhằm tăng cường việc bảo vệ khu vực Cấm thành:

Năm Mậu Thìn (1508), Mạc Đăng Dung, đang là viên túc vệ có sức khỏe, từng đỗ võ cử, được dùng làm Thiên Vũ vệ đô chỉ huy sứ - thứ bậc được coi ớ trên cả vệ cẩm y và Kim ngô.

Năm Kỷ Tỵ (1509), lấy cha con Nguyễn Thừa Nghiệp kiêm chức Tông nhân lệnh và quản quân túc vệ. Đặt Nội thần có chức Phi vũ ty lực sĩ nội sứ, túc trực ở cung Đoan Khang, điện Kim Quang

Lê Oanh (Lê Tương Dực) ngay sau khi lên ngôi, năm Canh Ngọ, đã phải bàn đặt quan Để lĩnh, trông nom việc quân ở bốn mặt thành, tuần phòng ở kinh sư, canh phòng các nơi. Vừa mới bàn xong thì đang canh ba ngày 25 tháng 4, hoạn quan Nguyễn Khác Hài làm loạn, ép Lê Tương Dực đến cung Trùng Hoa, lại đến điện Vạn Thọ, cẩn Đức, Kính Thiên. Trịnh Hựu đuổi đánh đốn phường Đôn” Hà và ai ốt quá nửa bọn này. Âm mun đảo chính của nhóm hoạn quan đó không thành.

Sau vụ này, việc xây dựng và mở rộng hệ thống canh phòng, bảo vệ còn được triển khai mạnh mẽ hơn, tạo thành bước ngoặt về quy mô xây dựng Hoàng thành trong những năm 1510 - 1514: "Thành rộng lớn mấy ngàn trượng, bao quanh điện Tường Quang, quán Chân Vũ, chùa Thiên Hoa ớ phường Kim cổ, từ phía đông lên phía tây bác, chắn ngang sông Tô Lịch, trên đắp Hoàng thành, dưới làm cửa cống, dùng ngói vỡ và đất đá nện xuống, lấy đá phiến và gạch vuông xây lên, lấy sắt xuyên ngang... Vua hàng ngày bất thần ngự chơi các nơi, chỗ nào vừa ý thì thưởng cho bài vàng, bài bạc. Có chỗ đã làm xong lại phải làm lại, sửa đổi xây đắp lại, hết năm này qua nãm khác, liên miên không ngớt. Quân lính đắp thành mắc chứng dịch lệ đến một phần mươi"14.

Nhà Lê cũng lo vực lại kỷ cương, trật tự triều chính, xã hội theo tinh thần Nho giáo.

Theo tinh thần của kế sách trị bình, tháng tư năm Tân Mùi (1511), triều Lê cho ban hành Trị bình hảo phạm gồm 50 điều cho cả nước với Lời dụ của Lê Dinh cho các quan văn võ và dàn chúng gồm 7 nội dung chủ yếu:

1.  Bề tôi thờ vua đều phải giữ lòng trung lương, kính cẩn lo giữ chức vụ, vì nước quên nhà, lo việc công, quên việc tư, cùng nhau cung kính hoà hiệp, nói thẳng, can gián đến cùng, không được a dua phụ hoạ, mong được yên thân. Ăn hại bổng lộc, cầu may giữ chức, tâu xin việc riêng, ban quan tước, buôn ngục hình, đến nỗi làm phương hại tới đạo trị nước.

2.Những tôn thất công thần từ trong cung cấm đến ngoài thế gia, cùng vui buồn với nước, phải thể theo lòng yêu nuôi sinh dân của triều đình. Ruộng đất, chầm ao, bãi dâu được ban cấp theo như lệ đã định rõ, đợi khi khám xoniỉ ban cấp cho và dựng cột mốc rồi mới được cày cấy. Nếu chưa qua khám thực, chưa dựng cột mốc, thì không được cướp đoạt mà thu thóc lúa... Không được dung nạp kẻ gian ra vào, ức hiếp, lấy lạm ruộng đất của dân, để cho dân mọn bị thất nghiệp...

3.  Quan các nha môn trong ngoài phải nghiêm khắc sửa mình. Kính cẩn siêng năng làm chức phận của mình khône được bừa bãi theo dục vọng riêng, say đắm tửu sắc...

4.  Lại bộ phải cung kính giữ công bằng, cân nhắc bổ dụng người, phải thận trọng dè dặt khi trao quan chức, giữ trong sạch quan trường...

5.  Giám sinh, nho sinh, sinh đồ... phải tuân theo học quy, luyện tập văn bài. Nsười nào dám chạy chọt cầu may rong chơi ngoài đường bò trễ việc học...

6.  Trong kỳ thi Hương các quan để điệu, giám thí, kháo thí, tuần xước và các xã trưởng phải thể theo được ý của triều đình, phải giữ công tâm mong chọn được người thực tài cho nhà nước sử dụng...  

7.  Đời Đoan Khánh, có nhiều kẻ gian phi ra vào các nhà bọn ác đảng ở các làng Phù Chẩn, Hoa Lăng, có kẻ giả xưng là họ hàng của bọn ấy...15

Tuy nhiên, các biện pháp đó không thể chữa được những vết trọng thương của triều chính nhà Lê. Hơn thế, lại phản tác dụng, ngược lại với mong muốn của triều đình Lê, các điều lệ này lại thành chiêu bài để các phe nhóm dương lên như một lá chắn, một danh hiệu đê thanh toán lẫn nhau.

Triều đình nhà Lê càng ngày càng lún sâu vào tình trạng suy sụp. Ngay trong khi chuẩn bị Trị bình báo phạm, thì cả bốn phía kinh thành náo động:

Thân Duy Nhạc, Ngô Văn Tổng dấy quân ở các huyện Yên Phú (Yên Phong), Đông Ngàn, Gia Lâm, xứ Kinh Bác, tức mặt bắc kinh thành bị đe doạ.

Mặt tây, Trần Tuân nổi dậy ở vùng Sơn Tây, làm nao núng cả kinh sư "nhân dân phố xá ở kinh thành náo động, đều đêm vợ con về quê quán, đường phố không còn một ai đi lại". Lê Dinh phải thi hành một biện pháp khán cấp đặc biệt: "Sai Hộ bộ Hữu thị lang Lê Đĩnh Chi cùng các quan khoa, đài đi xem xét các phố xá hàng chợ, xem người nào còn ở nhà, người nào vợ con đã về quê quán". Thế nhưng phần nhiều những người đã đưa vợ con vể quê thì đem người khác đến, nói dôi là vợ con mình đê đợi quan tới khám xét. Khi sai xá nhân đến chính các nhà đại thần và văn thần phụ trách việc này để xem xét, thì hoá ra chính bọn Lê Đĩnh Chi, Nguyễn Tông Thốc, Nguyễn Lý Quang - những kẻ nhận lệnh vua đi làm việc kiểm tra đó thì vợ con họ đã vể quê cả rồi! Vì việc này, bọn Đĩnh Chi bị Tương Dực đem giết ở ngã ba phường Đông Hà.

Khi ấy "phố xá, hàng chợ, đéu chạy ra ngoại thành Đại La, trú ngụ tại các xã Hồng Mai, Thịnh Liệt". Quân của Trần Tuân tiến sát vể Từ Liêm, bọn Trịnh Duy Sản không cản được. Bọn Nguyễn Văn Lang đã âm mưu đưa vua chạy về Thanh Hoa... Năm Nhâm Thân (1512), Nguyễn Nghiêm - dư đảng của Trần Tuân, lại tiếp tục nổi dậy ở Sơn Tây, Hưng Hoá... Đến lượt mật phía nam Thăng Long bị đe doạ: Trịnh Hưng, Lê Hy, Lê Minh Triệt nổi dậy ở Nghệ An rồi Thanh Hoá.

Như vậy, đến đời Tương Dực, ngay từ năm tháng đầu tiên đã bùng nổ những chấn động mạnh ngay từ bên trong, rồi từ bốn phía kinh thành, đe doạ trực tiếp đến sự an toàn của triều đình nhà Lê.

Trong các đòn phản kích của các lực lượng xã hội vào triều Lê ngày càng lan rộng, liên tục đó thì đòn phản kích mạnh mẽ, quyết liệt hơn là cuộc nổi dậy của Trần Cảo.

Trần Cảo vốn là viên quan coi điện Thuần Mỹ16, người quê ở trang Dưỡng Chân, huyộn Thuỷ Đường (Hải Phòng), tự xưng là cháu chắt của Trần Thái Tông, là họ ngoại của Quang Thục Hoàng hậu Ngô Thị Ngọc Dao - mẹ của Lê Thánh Tông. Bên cạnh Trần Cảo có con trai là Trần Cung17, Phan Ât - người Chiêm Thành, gia nô của Trịnh Duy Đại - Đinh Ngạn, Đinh Nghệ, Công Uốm, Đình Bảo, Đoàn Bố. Tập hợp ban đầu của quân Trần Cảo thể hiện phần nào những mâu thuẫn của xã hội lúc đó.

Mùa xuân, tháng ba năm Bính Tý (1516), Trần cảo dấy quân ở chùa Quỳnh Lâm (xã Hạ Lôi, huyện Đông Triều, Quảng Ninh), chiếm cứ các huyện Thuỷ Đường (Thuỷ Nguyên, Hải Phòng), Đông Triều (Quảng Ninh). Chỉ tháng sau, quân Trần cảo đã tiến sang Tiên Du, Quế Dương, Gia Lâm, đến bến Bồ Đề, nhằm vào kinh đô, nhưng chưa sang sông được.

Lê Tương Dực phải đích thân đi đánh, điều động các tướng sang sông tấn công Trần Cảo ở Bồ Đề, Lâm Hạ. Trần Cảo lui vể Ngọc Sơn. Tương Dực sai các tướng đem quân đuổi theo, nhưng đánh mấy lần không được, nhiều tướng của nhà Lê bị tử trận. Trần Cảo chiếm giữ vùng Lạng Nguyên (vùng đất phía bắc sông Cầu đến Lạng Sơn), cắt đứt con đường liên lạc từ Thăng Long lên phía bắc. Lê Tương Dực sai tướng Nguyễn Hoằng Dụ chốt quân, án ngữ tại Bổ Đề phòng Trần Cảo quay lại.

Đòn phản kích đầu tiên của quân Trần Cảo đã đẩy triều đình Lê vào tình trạng hoảng sợ và phân hoá cao độ.

Vốn bất mãn với Lê Tương Dực, Trịnh Duy Sản nhân dịp này cùng với Lê Quang Độ, Trình Chí Sâm lấy cớ đi đánh Trần Cảo, điều quân vể bến Thái Cực, đang đêm dẫn hơn 3000 quân các vệ Kim ngô, Hộ vệ vào cung. Vua Lê hốt hoảng tưởng quân Trần Cảo ập đến, chỉ kịp cùng viên Thừa chỉ - kẻ suốt ngày đêm uống rượu, đánh bạc ở nội điện - lẻn tất qua cửa nhà Thái Học và rồi bị Trịnh Duy sản giết chết cả vua lẫn tôi.

Nguyễn Hoàng Dụ đang án ngữ tại Bồ Đề, dẫn quân trở về kinh đốt phá nhà cửa phố xá, giết chết Vũ Như Tô - viên đô đốc kiêm kiến trúc sư coi các sở ở Công bộ, kiến trúc sư và trông coi công trình Cửu Trùng đài.

Nhân cơ hội kinh thành vừa trống không, Trần Cảo tiến quân trở lại, chiếm được kinh thành Thãng Long.

Trần Cảo lập một triều đình riêng, đạt niên hiệu mới là Thiên úng, dùng chính Lê Quang Độ - viên hàng quan cao cấp nhà Lê trông coi việc nước.

Ngay bấy giờ, Đô lực sĩ Thiết Sơn bá Trần Chân đã tập hợp hương binh đến 5-6 ngàn người chống lại Cảo, nhưng bị Cảo đánh thua. Trong tháng ấy, nhóm Trịnh Duy Sản, Nguyễn Hoằng Dụ, Nguyễn Vãn Lự, Trịnh Tuy, tiến quân từ Thanh Hoá ra bao vây kinh thành.

Không chống được liên quân của các tướng Sản, Dụ, Tuy..., quân Trần Cảo phải rút chạy qua sông Thiên Đức lên Lạng Nguyên. Gần nửa năm này, từ mùa hạ đến đông, triều đình Lê liên tục tổ chức huy động lực lượng truy kích và treo giải thưởng bằng tiền bạc, chức tước cho những ai bắt được thủ lĩnh Trần Cảo.

Đến năm 1521, Mạc Đăng Dung mới phá được quân của Trần Cung - con Trần Cảo ở Phượng Nhãn, Bảo Lộc, đẩy quân Trần Cung lên Thất Nguyên (Cao Bằng).

Cuộc nổi dậy của Trần Cảo là cuộc tấn công lớn nhất, đánh chiếm kinh thành, phủ nhận danh hiệu và quyền hành thực tế của nhà Lê lúc đó. Với đòn tấn công này, triều đình nhà Lê ngay trong lòng của chính nó càng mất ổn định và rối loạn thêm.

Xã hội ngày càng rối loạn, đời sống nhân dân ngày càng bị khốn quẫn. Năm Bính Tý (1516), "trong nước đói to, xác người chết đói nằm gối lên nhau. Những nơi trải qua binh lửa như Đông Triều, Giáp Sơn, ở Hải Dương, Yên Phong, Tiên Du, Đông Ngàn, ở Kinh Bắc lại càng đói dữ"18.

Năm Mậu Dần (1518), quân của Nguyễn Kính, Nguyễn Duy Nhạc từ Sơn Tây tràn vào Thăng Long "thả sức cướp phá, trong thành sạch không, kinh sư thành bãi săn bắn, đánh cá"19.

Tháng 2 nãm Kỷ Mão (1519), "Giặc Xá ở đầu nguồn các xứ Thái Nguyên, Tuyên Quang nổi loạn, cướp bóc vợ con của cải của dân chúng".

Năm Canh Thìn (1520),... Hồ Bá Quang đã đem hơn 4.000 người địa phương vày bức thành Thuận Hoá, đuổi viên Tổng binh sứ Đoàn Lương bá Phạm Văn Huấn, khiến bọn này phải bỏ cả vợ con chạy ra vùng Tân Bình (Quảng Bình). Năm Nhâm Ngọ (1522), "giặc cướp nổi lên ở kinh thành, đốt phá phố xá"... Năm đó, khi Lê Y (Quang Thiệu) đích thân làm lễ cầu trời, bài văn tấu cho biết: "Lúa sắp chín gặp phải hoàng trùng, lúa chiêm bắt đầu lại bị hạn hán. Nhà nông thất vọng, muôn họ lo buồn tai biến xảy ra luôn... mong cho có mưa ngọt, ác trùng bị diệt hết ruộng đồng được nhổ cỏ phát cây, kịp thời gieo mạ, lúa má chắc hạt, nặng bông, trộm cướp im hơi lặng tiếng, nước nhà chóng được bình yên"20.

Như vậy là đến những năm 20 của thế kỷ XVI, cùng với triều chính suy đồi, năm bè bảy mối, chính quyền nhà Lê không đảm đương nổi nhiệm vụ quản lý đất nước. Quốc gia Đại Việt bị rối loạn từ trong triều đình đến các địa phương. Đây là cuộc khủng hoảng của vương triều xây dựng theo thiết chế chế độ quân chủ tập quyển. Chế độ quân chủ tập quyền theo mô hình Nho giáo này đã phát triển đến đính cao dưới triều Lê Thánh Tông (1460 - 1497) và đã phát huy nhiều tác dụng tích cực trong công cuộc xây dựng và báo vệ đất nước, đưa nước Đại Việt thời đó trở thành một quốc gia độc lập thống nhất và thịnh đạt. Nhung khi kinh tế hàng hoá chưa phát triển đến mức độ tạo lập những điều kiện kinh tế xã hội bền vững cho sự thống nhất quốc gia - dân tộc thì chế độ quân chú tập quyén vẫn phải dựa trên cơ sở chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất và quan hệ bóc lột tô thuế của nhà vua đối với thần dân, kết hợp với một thiết chế quyển lực tập trung cao độ. Do đó, mỗi khi triều đình trung ương suy yếu thì tất yếu dẫn đến sự phân hoá và xung đột cung đình nhàm tranh ngôi đoạt chức do các thế lực quân sự cầm đầu. Sự rối loạn và xung đột cung đình làm cho chính quyền trung ương mất vai trò quản lý xã hội, quản lý các công trình thuỷ lợi và dẫn đến những hậu quả kinh tế, xã hội: mất mùa, đói kém, nhân dân đói khổ, bất bình... Sự suy sụp của triều đình, những cuộc xung đột của các thế lực phong kiến và những cuộc nổi dậy của dân chúng tất nhiên sẽ đưa nhà Lê đến chỗ bại vong. < /p>

Chú Thích

1 Đại Việt sử ký toàn thư, Q.XIV -1a, Sđd, T.III, tr 7.
2 Đại Việt sử ký toàn thư, Q.XIV -43a, Sđd, T.III, tr 42.
3 Đại Việt sử ký toàn thư, Q.XIV -39a, Sđd, T.III, tr 42.
4 Đại Việt sử ký toàn thư, Q.XIV -41a, Sđd, T.III, tr 44.
5 Đại Việt sử ký toàn thư, Q.XIV -47b, Sđd, T.III, tr 45.
6 Đại Việt sử ký toàn thư, Q.XIV -1a, Sđd, T.III, tr 52.
7 Đại Việt sử ký toàn thư, Q.XIV -34a, Sđd, T.III, tr 80.
8 Đại Việt sử ký toàn thư, Q.XIV -7a, Sđd, T.III, tr 12.
9 Đại Việt sử ký toàn thư, Q.XIV -8a, Sđd, T.III, tr 13.
10 Đại Việt sử ký toàn thư, Q.XIV -10b-11a, Sđd, T.III, tr 15.
11 Đại Việt sử ký toàn thư, Q.XIV -26b, Sđd, T.III, tr 27.
12 Đại Việt sử ký toàn thư, Q.XIV -26b, Sđd, T.III, tr 27.
13 Đại Việt sử ký toàn thư, Q.XV -5a-5b, Sđd, T.III, tr 55.
14 Đại Việt sử ký toàn thư, Q.XV -26a-27b, Sđd, T.III, tr 74.
15 Đại Việt sử ký toàn thư, Q.XIV -11a-13b, Sđd, T.III, tr 59-61.
16 Minh sử chép Cảo làm Xã đàn thiên hương quan tức chân trông nom cột Thiên hương ở Đàn Xã (?)
17 Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn chép là Thăng.
18 Đại Việt sử ký toàn thư, Q.XV -41b, Sđd, T.III, tr 86
19 Đại Việt sử ký toàn thư, Q.XIV -44a, Sđd, T.III, tr 88
20 Đại Việt sử ký toàn thư, Q.XV -59b-60a, Sđd, T.III, tr 101.

...................

2.6. Văn hóa thời Mạc

Giáo dục và thi cử Nho học

Trong hơn 60 năm tồn tại, nhà Mạc đã tổ chức 22 kỳ thi Hội vào các năm sau: 


TT

Năm tổ chức thi

 

Số tiến sĩ các hạng

Ghi chú

Cập đệ

Xuất thân

Đồng xuất thân

1

1529

3

8

16

 

2

1532

3

6

18

 

3

1535

3

7

22

 

4

1538

3

8

25

 

5

1541

3

4

23

 

6

1544

3(?)

3

14

 

7

1547

3

8

19

 

8

1550

3

4

18

 

9

1553

3

5

12

 

10

1556

3

4

7

 

11

1559

1

4

14

 

12

1562

3

5

10

 

13

1565

1

3

12

Nhà Lê Trung hưng đặt chế khoa

14

1568

1

4

12

 

15

1571

2

2

12

 

16

1574

1

10

13

 

17

1577

3

5

10

 

18

1580

1

3

20

Nhà Lê Trung hưng lập khoa thi Hội

19

1583

1

3

14

Nhà Lê thi Hội

20

1586

1

3

17

 

21

 

 

 

17

Nhà Lê thi Hội

22

 

 

4

13

Nhà Lê thi Hội

 

Tổng cộng

 

4851

 









Điều chú ý là hai năm sau ngày thành lập, triều Mạc tổ chức kỳ thi đầu tiên. Từ đó, đều đặn 3 năm một lần, nhà Mạc tổ chức kỳ thi Hội. (Trong khi cùng thời, mãi đến năm 1565 chính quyền Lê - Trịnh mới đặt Chế khoa và năm 1580 mới tổ chức thi Hội).

Năm 1589, khi quân Lê - Trịnh áp sát Thăng Long, triều Mạc vẫn mở khoa thi; và năm 1592, trước ngày Thăng Long vào tay Lê - Trịnh, kỳ thi Hội vẫn được mở - đó là kỳ thi cuối cùng của triều đại này.

Trong thời gian tồn tại của mình, triều Mạc tổ chức tới 22 khoa thi, lấy đỗ 485 tiến sĩ các hạng, trong đó có 13 trạng nguyên (mặc dù chỉ chiếm 7% thời gian nhưng chiếm tới 16% số tiến sĩ trong toàn bộ lịch sử khoa cử Nho học ở Việt Nam từ năm 1076 đến năm 1918 và gần 28% số trạng nguyên). Sau triều Lê Thánh Tông (1460 - 1497) thì chỉ có triều Mạc tổ chức thi Nho học liên tục, đều đặn như vậy.

Mạc Đăng Dung theo lệ thời Lê Thánh Tông cho lập bia Tiến sĩ đề danh ở Quốc Tử Giám. Nhưng việc này chí làm được 2 lần cho khoa thi đầu tiên năm 1529 và khoa thi năm 1536.

Mùa xuân năm Bính Thân - 1536, Mạc Đãng Dung sai Đông quân tả đô đốc Khiêm Quận công Mạc Đình Khoa tu sửa lại trường Quốc Tử Giám. Mùa xuân năm sau (1537), chính Mạc Đăng Dung đích thân đến nhà Thái học để làm lễ điện tế Tiên thánh Khổng Tử.

Năm 1582, Để điệu Thiếu bảo Thảo Quận công Trần Thời Thầm dâng sớ xin thực hiện việc dựng bia đá và ghi sổ Quế Lục (sổ vàng) cho các tiến sĩ, nhưng công việc sau đó chưa thực hiện. Cũng năm đó, Mạc Mậu Hợp cho dựng điện Giảng Học, nhưng vừa hoàn thành thì bị hoãn.

Từ Mạc Đăng Dung đến các vua Mạc sau vẫn dựa vào chù yếu giáo lý đạo Khổng, vào kết quả thi cử Nho học để hoạch định chính sách và tuyển dụng quan lại các cấp.

Mặc dù giữa bối cảnh cạnh tranh gay gắt, triền miên giữa nhà Mạc và tập đoàn Lê - Trịnh thì việc tổ chức kỳ thi, đề cao Nho học như vậy còn là cuộc chạy đua của triều Mạc với triều Lê - Trịnh nhằm nhiều mục đích chứng tỏ sự "hưng thịnh" của triều đình, là động tác an dân, tranh thủ lôi kéo "sĩ tử" Nho học về phía mình... Nhưng, chính sách và các hoạt động trên của triều Mạc đã tiếp tục kích thích, lôi cuốn và định hướng lập thân cho đông đảo sĩ tử Đại Việt, đã góp phần tạo ra cho triều Mạc nói riêng, Đại Việt nói chung những trí thức Nho học, những nhà giáo dục xuất sắc như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiến, Giáp Hải... Lần đầu tiên, duy nhất trong lịch sử thi cử Nho học cấp cao nhất ở Đại Việt xuất hiện nữ Tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ2.  

Phan Huy Chú nhận xét: "Nhà Mạc dẫu bận chiến tranh vẫn không bỏ thi cử, vì thế được nhiều người tài giỏi giúp việc chống với nhà Lê, kéo dài đến hơn 60 năm. Ấy cũng là công hiệu của khoa cử đó"3

Bên cạnh trường Quốc Tử Giám, thế kỷ XVI còn có những lớp học tư do những trí thức, những viên quan xuất thân khoa bảng về hưu mở:

Lớp học của Tuyết Giang phu tử - Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) ở Trung Am - Vĩnh Lại (Lý Học, Vĩnh Bảo, Hải Phòng) từ sau nãm 1542;

Lóp học của Tiến sĩ Văn Phạm bá Trần Bảo (1512 - ?) quê ở Quang Sơn - Thanh Lâm (Hải Dương);

Lớp học của Trạng nguyên Dương Phúc Tự (1505 - ?) quê ở Lạc Đạo - Gia Lâm (Hung Yên);

Lớp học của Hoàng giáp Nguyễn Khắc Kinh (1542 - ?) quê ở Thanh Hoài - Siêu Loại (Bác Ninh).  

Đời sống văn hoá  

Nho giáo

Với quá trình tổ chức thi cử và các hoạt động thực tế trên chứng tỏ suốt triều Mạc Nho giáo luôn được đề cao, là tư tưởng chính thống, rường cột của hệ thống chính trị quân chủ. Nho giáo đến thế kỷ XVI vẫn tiếp tục đóng vai trò độc tôn trong giáo dục khoa cử của Đại Việt.

Tuy nhiên, nếu thế kỷ XV sự trùng hợp giữa vai trò của Nho giáo với sự thịnh trị của chế độ Lê Thánh Tông, thì sang thế kỷ XVI những yếu tố tạo thành sự song trùng nay hầu như không còn nữa.

Bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội Đại Việt ngay từ đầu thế kỷ XVI đã trở thành trường thực tế kiểm định sâu sắc, toàn diện giáo lý đạo Nho.

Cuộc thử thách ấy không phải chỉ bắt đầu ở thế kỷ XVI. Cuối XIV, khi triều Trần suy vong và sau khởi nghĩa Lam Sơn - giai đoạn từ 1427 đến trước thời Lê Thánh Tông, cũng đã đặt ra bài toán giữa lý thuyết Nho và thực tế chính trị - xã hội ; tiếng thở than, bất lực của tầng lớp nho sĩ đã thể hiện qua tâm trạng của không ít nhà nho như Chu Văn An, Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi... Nhưng, chưa khi nào kể từ khi Nho giáo vào Việt Nam cho đến thế kỷ này giáo lý Nho giáo được kiểm định khắc nghiệt lại tỏ ra mâu thuẫn với thực tiễn chính trị, xã hội, và tầng lớp trí thức - sản phẩm của Nho học lại phải đứng trước sự nan giải về lẽ xuất sử, lòng trung thành, thân phận thần tử như vậy.

Trên danh nghĩa giáo lý đạo Nho luôn được coi và khẳng định là tư tưởng chính thống của hệ thống chính trị quân chủ. Nhưng ngay thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XVI, khi chính quyển Đông Kinh suy yếu, giữa các cuộc tranh giành quyền lực của các phe phái nắm thực quyền, vua Lê đã chí là hư vị. Rồi sau đó là nội chiến Nam - Bắc triều... đã làm đảo lộn nhiều những chuẩn mực giá trị mà giáo lý đạo Khổng đã xác lập và luôn đề cao, tôn vinh trong thời quân chủ tập trung cao độ Lê Thánh Tông, đã làm cho ý thức hệ Nho giáo ngày càng suy giảm. Thực tế xã hội đã vượt qua nhiều giáo điều, nhất là ở những giáo lý cốt yếu của đạo Nho : cương thường, tu - tề, trị - bình, trung, nghĩa, lễ, trí, tín...

Trên con đường tiến tới ngai vàng, bản thân Mạc Đãng Dung không phải là môn đồ của đạo Khổng, không bị câu thúc, hành xử theo đạo lý đó là điều bình thường. Ngược lại, Mạc Đãng Dung đã sử dụng giáo lý đạo Nho như một chiêu bài, và hơn thế làm một vũ khí để tranh thủ lực lượng, lôi cuốn được không ít các môn đệ của đạo Khổng thành chiến hữu, góp phần có hiệu quả cô lập, tiêu diệt các phe phái khác.

Thế nhưng, oái oăm thay, đến lượt mình lên ngôi, Mạc Đăng Dung và các vua triều Mạc sau đó lại không thể có cách nào khác được, vẫn phải dùng thứ mà chính họ chí dùng làm chiêu bài ấy để đặt nền móng tư tưởng của chế độ, dùng làm cẩm nang xây dựng, tập hợp, rèn luyện đội ngũ quan lại trụ cột, trung thành của triều đình, xã hội.

Thực tế của đời sống chính trị - xã hội thế kỷ XVI tồn tại và tranh chấp không chỉ hai (Mạc, Lê - Trịnh) mà từ năm 1558 trở đi có thêm lực lượng Nguyễn Hoàng. Trước triều Mạc và các ngả đường khác nhau, đối ngược nhau đó, đông đảo các trí thức Nho học đương thời đều phải đụng chạm đến một vấn đề quan trọng nhất của nhà nho trong thời loạn đó là lẽ xuất xử4.

Trí thức Nho học thế kỷ XVI số "xuất thế" không nhiều, còn lại là nhập thế... Tuy nhiên, ngay từ khi Mạc tiến tới ngai vàng, rồi triều Lê Trung hưng thành lập "nhập thố" trong thời loạn này lại không đơn giản, ở đây đòi hỏi kiểm nghiệm nguyên tắc chính danh và lòng trung thành của kẻ thần tử...

- Chống lại Mạc

-  Đi theo Mạc

Chọn cách đầu tiên không nhiều: gồm một số trí thức Nho học hàng đầu từ cuối thời Lê sơ như Trạng nguyên Lại bộ Thượng thư Trình Khê hầu Vũ Duệ, Báng nhãn Ngô Hoãn, Tiến sĩ Đàm Thân Huy...

Trong khi đó, hàng loạt trí thức trưởng thành cuối triều Lê sơ, sang thế kỷ XVI lại chọn cách thứ hai, vượt qua nguyên tắc tối thượng được tiếp nhận từ kinh điển Nho giáo "Trung thần bất sự nhị quân" đã đi theo nhà Mạc như: Hoàng giáp Vũ Hữu, Trạng nguyên Nguyễn Gián Thanh, Bảng nhãn Hứa Tam Tỉnh, Thám hoa Trần Phí, Tiến sĩ Nguyễn Mậu, Đào Nghiễm, Nguyễn Bạt Tụy, Nguyễn Trọng Hiền. Trong số 56 đại thần được phong đợt đầu tiên như là những công thần khai sáng triều đại không chỉ là quan lại cũ triều Lê mà tuyệt đại là người Nho học (văn quan). Biểu hiện khác của cách hành xử này là:

1. Không ít các tiến sĩ được cấp bằng, mũ áo triều Mạc vào Thanh Hoá theo Lê - Trịnh như Lê Bá Ly, Lê Khắc Thận, Nguyễn Khắc Thiến, Nguyễn Khái Khang.

2.Từ Nam triều chạy sang Bắc triều : Nguyễn Quyện, Nguyễn Miễn.

3.Hoặc lúc theo Mạc, lúc theo Lê - Trịnh và ngược lại: Nguyền Quyện, Nuuyễn Khải Khang, Đặng Huấn...

Với đông đảo xã hội, những tuyên truyền giáo lý về nhân, nghĩa, lễ, trí... cùa đạo Nho càng bị thói đời "thế tục" thực dụng vượt qua  

Còn bạc còn tiền còn đệ tử
  Hết cơm hết rượu hết ông tôi.
  ...Giàu người họp khó người tan
   Hai ấy hằng lề sự thế gian
  Có thân thì khắc chứa thiên vàn
  ...Nhà chăng có của thanh bằng nước
  Có quyền thì có của người cho
   ...Ang thịt mỡ bùi ruồi đến dỗ
  Bát bồ hóng đắnq, kiến dâu bò
  ...Người nhiều hầu hạ nên quân tử...


  (Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Như vậy, trên thực tế hệ thống trụ cột, căn bán, thống nhất : Tam cương, Ngũ thường của giáo lý Nho giáo đã bị đổ vỡ, bị vượt qua ớ khâu quan trọng đầu tiên, đã bộc lộ sự bất lực trước việc giải quyết cuộc khùns khoáng chính trị - xã hội đương thời.  

Phật giáo

Trong khi Nho giáo bị lâm vào tình cảnh như vậy thì Phật giáo lại có đà hưng khởi, lan toả trên hầu khắp các địa bàn, các tầng lớp.

Nhiều ngôi chùa lớn từ các thế kỷ trước như Phật Tích, Bút Tháp, Vĩnh Nghiêm, Luy Lâu ở Kinh Bắc, Quỳnh Lâm, Sùng Quang, Đông Sơn thuộc Hải Dương được trùng tu; nhiều chùa mới được xày dựng, trong đó khỏnc ít là những chùa do các hoàng thân hoàng tộc của họ Mạc, họ Lê - Trịnh, quan lại các cấp góp tiền của: bà Thái Chiêu nghi Nguyễn Ngọc Phương ở điện Quảng Đức cùng cha, anh và người thân sửa toà Thuỷ chùa Phật Tích năm 1538. Khang vương Mạc Nhân Phủ, hoàng tử Mạc Nhân Quảng, Đô chỉ huy Thiêm sự vệ Thanh Tây tu sứa chùa Thanh Quang (Cự Ninh, Trực Ninh, Nam Định) năm 1562.

Chùa Hương Nham (xã An Khang, huyện Yên Sơn, Tuyên Quans) được xây nãm Đinh Dậu niên hiệu Đại Chính 8 (1537) do Hiến sát sứ Ngô Nghiêm Khê, Phó hiến sát sứ Vũ Trạch Xuyên khai sáng cùng hàng trăm để lại, dân làng góp công của xây dựng.

-  Chùa Thiên Phúc (xã Trà Phương, Kiến Thụy, Hải Phòng) do Vũ Hoàng thái hậu - Vũ Thị Ngọc Toán vợ của Mạc Phúc Hải, mẹ của Mạc Phúc Nguyên, bà nội của Mạc Hậu Hợp xây dựng vào năm Nhâm Thân, niên hiệu Sùng Khang 7 (1572), có 33 tên tuổi thành viên hoàne tộc đỏng góp, từ Thái hoàng thái hậu họ Phan, các bậc vươna, thái trưởng công chúa họ Mạc như Khiêm Thái vương, Vỵ vương, Thuận vương, Vinh Quốc Thái phu nhân... và hàng loạt các quốc công, quận công khác...

-  Chùa Hà Lâu (Đông Minh, Tiên Lãng, Hải Phòng) có Thái hoàng thái hậu họ Vũ, Hoàng thái hậu họ Bùi, Phục Chính ứng vương họ Mạc và cung tần triều Mạc tiến cúng gia tài... Văn bia thời Mạc cho biết thông tin, ít nhất có trên dưới 100 thành viên hoàng tộc, đại thần nhà Mạc tham gia tu bổ, xây dựng chùa Phật5.

- Năm 1591, Cai huyện Duy Tiên cùng với dân các giáp góp công sức tu sửa lại ngôi chùa Đọi (Hà Nam) do thiền sư Thích Hải Triều chủ trì... Thiền sư Chân Nghiêm trụ trì chùa Sùng Quang (Cẩm Giàng, Hải Dương) cho in Thánh Đăng Ngữ lục chép tiểu sử, hành trạng của 5 đại thiền sư là Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang, Trần Minh Tông.  

Đạo giáo

Thế ký XVI cũng là thời kỳ thể hiện rõ rệt của Đạo giáo ở Đại Việt. Qua những tài liệu còn lại cho thấy một số quán đạo Giáo được xây dựng hoặc trùng tu: quán Thụy úng (Hải Dương) được tu sửa nãm 1565.

Quán Tiên Phúc (Hải Dương) được xây dựng vào năm 1584.

Quán Linh Tiên (Cao Xá, Hà Nội) được tu sửa năm 1584.

Quán Viên Phương (Hà Nội) sửa năm 1589.

Quán Chân Thánh (Hải Dương) sửa năm 1591...

Cũng như việc xây dựng, trùng tu chùa, nhiều đạo quán cũng do các hoàng thân, tướng lĩnh nhà Mạc góp tài sản: quán Linh Tiên (Hà Nội) có 8 tôn thất họ Mạc công đức, đứng đầu là Phò mã Đô úy, Thái bảo Đà Quốc công, Thượng trụ quốc, Pháp hiệu Đức Quảng Mạc Ngọc Liễn.

Bên cạnh những tôn giáo quen thuộc nhiều thế kỷ với xã hội Đại Việt, một tôn giáo hoàn toàn mới mẻ đối với phương Đông cũng du nhập vào Đại Việt thời Mạc là đạo Thiên Chúa. Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục, ngay từ nãm 1533, một giáo sĩ Bồ Đào Nha tên là Y Nê Khu đã "lén đến gidng đạo ở Ninh Cường, Quần Anh, Trà Lũ (Nam Đinh)". Tuy nhiên do không biết tiếng Việt, lại chưa có kinh nghiệm nên hoạt động truyền giáo ở thế kỷ này chưa đạt kết quả.

Tất cả những thể hiện của đời sống xã hội, sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng (Nho, Phật, Đạo), của văn học nghệ thuật... đã chứng tỏ xã hội Đại Việt đến thế kỷ XVI đã có sự chuyển biến căn bản, rõ nét trước hết vể tư tưởng.

Trước hết, sự chuyển đó không phải là sự đoạn tuyệt với các tư tưởng đã có trong xã hội Đại Việt. Phật, Đạo, Nho đều đã có mặt trong xã hội Đại Việt từ lâu. Hơn 300 - 400 năm trước, thời Lý, Trần, trong khi khẳng định chính thức vị thế của Nho học, thì từ triều đình đến dân gian vẫn theo cả Phật, cả Đạo. Không ít vua Lý, Trần vừa "nhất Phật, nhất Thần tiên", hoặc như Trần Nhân Tông sáng lập hẳn dòng phái Phật giáo Đại Việt. Thời Lê Thánh Tông dẫu xác lập trên thực tế sự thắng thế, bọc trùm lên triều đình là hệ tư tưởng Nho giáo, nhưng bản thân Lê thánh Tông vẫn "Vọng Tiên"... Bấy giờ, các hoàng thân, quốc thích, các gia đình có thế lực của vương triều Mạc lại bỏ tiền của ra xây dựng hoặc trùng tu chùa chiền, đạo quán. Tinh trạng như và phổ biến hơn thời Lý, Trần trước đó vừa chứng tỏ sự trở lại, tìm về cội nguồn an ủi vừa thể hiện sự phong phú đa dạng, cởi mở của tư tưởng, tín ngưỡng thời Mạc.

Xu hướng tam giáo đồng tôn vốn đã có từ những thế kỷ trước ngày một tăng cường với những nét khác biệt so với các thời kỳ trước.

Xã hội thời Mạc, khi đã trải nghiệm thậm chí bằng máu lửa giáo lý mấu chốt trong hệ tư tưởng đạo Nho, đã thức tỉnh một tư tưởng thực tiễn sâu sắc mà đại diện tiêu biểu là Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Sau thời gian chiêm ngẫm ở thời sự phức tạp, nan giải đầu thế kỷ, năm 1535, khi đến 44 tuổi "Mừng thấy trời vàn đời mở trị, Thái bình Thiên tử, thái bình dân" của triều Mạc, Nguyễn Bỉnh Khiêm đi thi, đỗ Trạng nguyên - rồi làm quan 7 năm với triều Mạc. Hết làm quan, xin về trí sĩ khi mới 53 tuổi, rồi lại đi theo quân ngũ nhà Mạc lên Tây Bắc đánh thế lực họ Vũ... Tâm sự và hành xử của Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn giằng co giữa một bên là môn đệ của cửa Khổng, sân Trình, một bên là thực tiễn xã hội. Khi nhận rõ tình cảnh "Loạn thế", "Nguy thời" (chữ của Nguyễn Bỉnh Khiêm), ông kết luận: "Thế tình bàn bạc khôn cùng dại, khôn dại hai đường trái cả hai". Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa nghiền ngẫm Tống học, Trình Chu, vừa bổ túc Thiền tông... Năm 1578, khi chùa làng Cao Dương (Thái Thuỵ, Thái Bình) dựng tượng Tam giáo, Nguyễn Bỉnh Khiêm được mời viết văn bia "Văn bia tượng Tam giáo, chùa cổ Cao Dương linh ứng từ lâu... Nay các sãi, vãi cùng nhau quyên góp tài sản thuê thợ tạc tượng Tam giáo về Diệu Thiện... Công việc hoàn hảo, xin tôi bài minh để ghi lại việc có thật này. Tôi là nhà nho tuy chua được nghe thấu đáo về đạo Phật, đạo Lão, song nhờ đọc rộng, suy ngẫm những điều nghi hoặc, cũng nắm bắt được chút ít về các đạo này. Đại loại, đạo Phật gốc ở chỗ làm sáng sắc và tâm, phân, phân biệt rõ nhân và quả. Đạo Lão chú trọng vào Khí để tới chỗ mềm dẻo, nắm cái lý duy nhất, giữ bản chất chân thực của mình. Đạo lý đức Thánh Khổng gốc ở đức, nhân nghĩa, vãn hạnh, trung tín. Tất cả đểu là giáo lý tuân theo tín tự nhiên con người mà tu dưỡng đạo đức cùng với Diệu Thiện do lòng Thiện mà nổi tiếng. Chẳng phải là không xuất phát từ tâm tính con người..."6.

Chính thực tế xã hội kết hợp với trí thức bác học đã tạo nên mẫn tiệp khiến Nguyễn Bỉnh Khiêm gạt bỏ giáo điều, độc tôn nhất nguyên mà nghiệm sinh lẽ hành xử Trung dung, cởi mở... thành tiêu biểu cho tư tưởng thực tiễn của thế kỷ XVI.  

Văn học

Thế kỷ XVI được coi là thế kỷ mở đầu cho khuynh hướng phi quan phương. Trên thi đàn vắng dần những tác phẩm văn học đẻ cao công đức vua, ca tụng triều đình. Mạch văn học thế sự, phản ánh hiện thực cuộc sống, những trăn trở suy tư của trí thức về thời đại, gần gũi với tiếng nói của nhân dân, phản ánh những bất công xã hội vốn khơi nguồn, dắt dẫn bền bỉ từ cuối thế kỷ XIV với Chu Vãn An, Trần Nguyên Đán, qua Nguyễn Trãi thế kỷ XV và như bùng mạnh mẽ với Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Nguyễn Hãng, Đào Duy Từ.

Cùng đối diện với tính quan phương, thể hiện bước tiến triển trong thể loại và phương thức thể hiện, trên cơ sở tiếp nhận, sáng tạo ảnh hưởng của văn học Trung Hoa, tạo nên một thành tựu mới của truyện ký viết bằng chữ Hán là Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ.

Bên cạnh dòng thơ thế sự, còn có những tập thơ đi sứ, bang giao. Những bài thơ vịnh sử bày tỏ niềm thương nhớ quê hương đất nước trong Tư hương vận lục của Lê Quang Bí viết trong những năm dằng dặc (1548 - 1566) bị giam giữ khi đi sứ ở Trung Hoa. Hàng chục bài thơ thể hiện niềm tin về sức mạnh tiềm tàng của dân tộc trong ứng đáp bang giao của Trạng nguyên Giáp Hải; tinh thần hoà hiếu, hoà nghị đồng cảm của Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan trong Mai Lĩnh sứ hoa thi tập... là những tiếng nói yêu nước, thương nhà, tự hào dân tộc sâu sắc.

Văn thơ Nôm trở nên phổ biến hơn từ thể loại phú Phụng Thành xuân sắc phú của Nguyễn Giản Thanh, thơ Bạch Vân quốc ngữ thi của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đến cả Thư chiêu dụ các tướng sĩ Mạc của Lê Bá Ly.

Khác với văn học thế kỷ trước, trong văn học thời Mạc đã hiện lên rất rõ hình ảnh con người với nhiều chiều kích, đa dạng. Thế giới sống động của con người trong đời sống xã hội qua những tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Nguyễn Hãng... đã hiện ra với bao phức tạp, thánh thiện, tầm thường, thấp hèn và cao cả, những tình cảm riêng tư, không bị ước lệ, công thức hoá hay mỹ hoá thành một xã hội vàng son trừu tượng. Những kẻ tưởng chừng danh giá như Trọng Quỳ trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, hay "Gã láng giềng ở phía đông" gặp may được tặng lộc, thăng trật "Tiền hô hàng ngàn người, hậu ủng vài trãm ngựa trong thơ "Cảm thời cổ ý" của Nguyễn Bỉnh Khiêm... thành kẻ ném tiền bạc vào cuộc đỏ đen, kẻ phá gia chi tử, thành kẻ "phải tìm đến kẻ khác mà ăn xin, quần áo rách rưới khó che thân thể"...

Một cung nữ nhan sắc, thông tuệ từng trải trường đời, mỗi lần lập kế trả thù là lại càng bị dập vùi (Nổi oan Đào Thị);

Hay người chồng đi lính, vợ ở nhà nuôi con, chờ đợi. Nhưng, ngày về đoàn tụ lại trở thành nỗi oan khiên, vợ phải trẫm mình vì gã chồng ghen, nghi lòng chung thuỷ của vợ (Người con gái đất Nam Xương)...

Và bức tranh muôn mặt đời thường qua thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm:  

"Ở thế làm chi cười lẩn nhau
  Giàu chê khó, khó chê giàu
  Người hàng thịt nguýt người hàng cá
  Đứa bán bò dèm đứa bán trâu
  Bé vú thở than người cả vú
  Ít râu ánh ỏi kẻ nhiều râu".

Cũng do có cái nhìn thế sự, văn học thời Mạc có những khám phá tâm lý sâu sắc về thân phận con người, về đời sống xã hội đương thời, thấy, nghe rõ hơn thế lực "thinh thỉnh lại đồng tiền" (Nguyễn Bỉnh Khiêm) trong những ngóc ngách cuộc đời.

Văn học thời Mạc đa thanh, có âm sắc đối thoại, ý thức công bình hơn. Trong Truyền kỳ mạn lục hình ảnh cuộc đối thoại giữa Hạng Vũ - người được thờ ở hồ Động Đình (Trung Quốc) và Hồ Tông Thốc - sứ giả của Đại Việt thời Trần7 về "nhân" giữa Hạng Vũ và Lưu Bang. Người đọc tự mình nhận ra chân lý qua cuộc đối thoại này.

Cách tiếp cận sâu sắc, đa dạng về đời sống thực tiễn được coi là "phát hiện lớn của văn học thời Mạc", là "mở đẩu cho một dòng văn học chạm chân vào hiện thực, đã mô tả xã hội dưới góc nhìn đời tư và đời thường", "là một cống hiến đáng kể của văn học thời Mạc"8.

Văn học thế kỷ XIV kết tinh rực rỡ ở đại biểu Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bên cạnh những nội dung trên, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là tiếng nói phản kháng chán ghét nội chiến, tương tàn, là khát vọng về một đất nước, xã hội thái bình yên ổn, về một cuộc sống thanh bình, no đủ cho dân chúng.

Tiếu tha thù tặc hố tương tranh
Thiên hạ phân phân hận vị bình

(Cười bọn giặc thù cứ tranh giành lẫn nhau
Thiên hạ rối bời, giận chưa dẹp yên);
Mân mục can qua khổ vị him
(Binh đao đầy mất khổ chưa thôi)  
Hà thời tẩy giáp binh ?
(Thời nào được rửa giáp binh?)
  Ngoài chưng phận ấy cầu chi nữa
   Còn một cầu xem thuở thái bình...

Thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm kết luyện nhuần nhuyễn các tri thức, triết học bác học với minh triết dân gian Việt Nam.  

Kiến trúc, điêu khác

Các tư liệu còn lại cho thấy, các loại kiến trúc vốn có từ các thế kỷ trước như cung điện, thành quách, chùa, đền, miếu, lăng, cầu đá, cầu ngói... tiếp tục phát triển.

Biên niên sử cho biết, bên cạnh việc tiếp tục xây dựng ở Thãng Long, nhà Mạc đã tập trung xây dựng cung điện, thành trì, lăng ở vùng cổ Trai. Tiếc thay qua binh lửa, nhất là ngay giai đoạn cuối Mạc, với hành động triệt hạ trả thù của tập đoàn Lê - Trịnh, các kiến trúc này không còn dấu tích rõ rệt.

Theo Đinh Khắc Thuân, trong vùng Mạc kiểm soát, hiện còn lại 168 chùa, 8 đạo quán, 14 ngôi đình, 15 cầu được xây dựng, tu sửa vào thời Mạc9.

Cẩu: Văn bia hiện còn cho biết từng có nhiều cây cầu ngói, đá được khởi công, tu sửa: cầu Đôn Thư (ở Hải Dương) có tới 94 gian, cầu Bộc Động ở chợ La Phù (Hà Nội) do Tân Quận công, Công chúa góp tiền của tu sửa.

Chùa: Nhiều ngôi chùa được xây dựng mới hay tu sửa vào thời Mạc. Điểm nhấn của kiến trúc ngôi chùa ở Việt Nam từ thế kỷ trước, không phải chỉ là quy mô xây dựng mà chính là sự đan quyện hài hoà với vị thế, cảnh sắc, môi trường thiên nhiên xung quanh.  

Qua miêu tả - có phần kiêu hãnh và thể văn của người viết bia đương thòi, thì: chùa Trúc Am ở giữa vùng đất Dương Kinh trùng tu năm 1589: "Phía tây có chùa cổ, Đầm Trà làm vạt, sông Mai làm dải, Đồ Sơn chấn trước, An Ấp bao sau"10.   

Chùa Thiên Hưu (Nam Sách, Hải Dương) tu tạo năm 1571, toạ lạc trên mảnh đất hơn 3 mẫu, phía trước có nhà thiêu hương, bên cạnh có nhà làm chay oản, toà cửu phẩm, gác điện. Các cột đều sơn son, xà đều chạm trổ,... được dựng lên giữa cảnh quan "Sông êm ả ôm vòng phía tây, gò nhấp nhô chầu phía đông, núi thiêng sừng sững trấn sau, nước biếc quanh co lượn trước... ở giữa chùa có đường vào tùng xanh biếc, cửa kề trăng sáng... với hướng dương, hoa cỏ bách tùng..."11.   

Chùa Kiến Linh (Phục Lễ, Thuỷ Nguyên, Hải Phòng) tu tạo năm 1563 : "Phía đông có chùa Lôi Âm, phía tây liền vói tháp Kim Sơn của xã Nguyệt Áng, phía nam thẳng đến cảnh đẹp Hoa Yên"12.   

Đến ngôi chùa sửa năm 1537 ở động đá Hương Nham (Yên Sơn, Tuyên Quang) với "dòng Vị Giang uốn quanh như rồng trước động. Sau động là đường cái quan, xe ngựa tấp nập. Phía tây là nha môn Đô đường, nhà xây lớp lớp, phía bấc là trụ sở Hiến ty, trùng điệp tường vây"...13   

Đạo quán: được kết cấu khá giống nhau với 3 nếp nhà: tiền đường, thiêu hương và thượng điện, bố cục theo hình chữ "công". Kết cấu thượng điện tương tự ngôi chùa (dân gian thường không quen gọi là quán mà gọi là chùa: chùa Linh Tiên = quán Linh Tiên, chùa Mai = quán Hương Thánh, chùa Sở = quán Hội Linh...)   

Đình làng: Qua di tích kiến trúc và văn bia được biết đến vào cuối thế kỷ XX, có ít nhất vài ba ngôi ngôi đình lần đầu tiên được dựng lên từ thời Mạc như đình Lộ Hạnh (Bắc Giang) dựng năm 1576, đình Đại Đoan dựng năm 1583, đình Trùng Hoài (Bắc Ninh) dựng năm 1585, đình Tây Đằng, Thụy Phiêu (Hà Nội) - cuối thế kỷ XVI. 

Mặt bằng và quy mô kiến trúc của đình thế kỷ XVI chỉ với một nền hình chữ nhật, với 3 hay 5 gian hai chái, đơn giản hơn kiến trúc chùa cùng thời và đình các thế kỷ sau. Mái đình bốn mái các góc đao uốn cong. Mặc dù chỉ mới khiêm nhường như vậy, song sự xuất hiện của đình làng thế kỷ XVI - ngôi đình đầu tiên trong lịch sử văn hoá Việt Nam, được coi như mở đầu ngành kiến trúc Việt Nam, khẳng định nhà Mạc đã tạo dựng được nền vãn hoá dân tộc, nhất là mỹ thuật và vãn hoá dân gian...  

Điêu khắc

Điêu khắc dưới triều Mạc phát triển mạnh với tượng tròn, điêu khắc trên gỗ, trên đá.

Tượng tròn có tượng Phật, tượng nhân vật.

Qua các văn bia, có hàng vài chục ngôi chùa trùng tu thời này có làm các loại tượng: Quan Âm, Tam thế, Nọc hoàng, Kim đồng, Ngọc nữ, Nam tào, Bắc đẩu. Các tượng thời Mạc còn lại đến ngày nay cho thấy:

Các pho tượng Tam thế (chùa Nành, Ninh Hiệp, Bắc Ninh), chùa Lệ Mật (Gia Lâm, Hà Nội), chùa Thầy (Quốc Oai, Hà Nội) đều cùng tư thế ngồi "kiết già", thể hiện đầy đủ các "quý tướng" nhà Phật.

Các tượng Quan Âm ở những chùa Đông Ngọ (Hải Dương), Thượng Chủng, Hội Hạ (Phú Thọ), Đa Tốn, Bối Khê (Hà Nội) với đặc trưng nổi bật là tạo hình ngàn mắt ngàn tay. Tượng loại này được coi là ra đời sớm nhất ở Việt Nam. Tượng Quan Âm chùa Đa Tốn có 694 tay lớn nhỏ, 42 tay lớn chìa ra phía trước và xung quanh với nhiều tư thế khác nhau: cầm báu vật, bắt quyết... 652 tay nhỏ xếp nhiều lớp hai bên sườn phía sau tượng như nan quạt, tạo cảm giác như vòng hào quang. Dung nhan tượng đôn hậu, bình dị. Ngoài tượng Phật còn có tượng Apsara - Tiên nữ múa, Gandhava - nhạc công, Kinnari - nữ thần đầu người, mình chim, những nhân vật thần thoại Nam Á...

Tượng chân dung nhân vật còn lại đều được tạc bằng đá như tượng Thái hoàng thái hậu Vũ Thị Ngọc Toản được làm vào năm 1551, tượng “Đức Vua” ở các chùa như Đại Linh (Đại Trà, Hải Phòng) làm năm 1578, chùa Bạch Đa (Hải Phòng) làm năm 1580, chùa Hưng Khánh làm năm 1583, tượng công chúa Mạc Ngọc lâm ở chùa Phổ Minh (Nam Định)....

Các tượng “Đức Vua” gần như nhau, đều ngồi ngai, đội mũ bình thiên, mặc hoàng bào, cầm hốt.

Tượng phụ nữ như các tượng Thái hoàng thái hậu đều được gắn vào tấm bia tạo hình vòm động với chữ: “Động Phủ” (chùa Thiên Phúc, Hòa Liễu), “Vân Thủy am” (chùa Minh Phúc, Minh Thị).  

Một biểu hiện rực rỡ của điêu khắc thế kỷ XVI là các bức chạm khắc nổi hoặc chìm trong các công trình kiến trúc đình, chùa, đạo quán.   

Biểu tượng vũ trụ thường gặp là Mặt Trời (hoặc cách điệu thành hoa đào, hoa cúc), sấm chớp, các cặp sừng, các khối tròn. 

Các để tài về con người, cuộc sống trần thế sinh động, phổ biến trong các bức chạm ở chùa, đình: cảnh mẹ gánh con, cảnh đẽo cày, cày voi, làm xiếc, đánh nhau với hổ, cảnh uống rượu, hóng mát trên thuyền, cảnh nam nữ tình tự (đình Tây Đằng), cảnh sắn bắn (đình Tây Đằng, chùa Cói)...  

Nghệ thuật gốm sứ  

Bên cạnh các dòng men truyền thống từ trước như men lam, nâu, xanh rêu tiếp tục phát triển, từ thế kỷ XVI, tại trung tâm gốm Bát Tràng xuất hiện một loại men mới - được coi là của riêng "đặc sản" Bát Tràng: men rạn, trang trí nổi - tiếp tục rực rỡ ở các thế kỷ sau. Gốm Chu Đậu, được phủ bằng nhiều loại: lam, xanh ngọc, xanh rêu, vàng, nâu. Trên nhiều sản phẩm phong phú, đa dạng của gốm sứ thế kỷ XVI được trang trí rồng, phượng, hổ phù, hoạt cảnh người, cánh sen, mây, hoa cúc dây, sơn thuỷ, chim muông, ngựa, gia súc và những chữ "vạn", "phúc", "chính", "hoa", "trung", "ngọc", "tâm"... 

Minh văn được khắc hay viết trên gốm xuất hiện từ sớm ở các trung tâm Bát Tràng, Chu Đậu. Đến thế kỷ XVI, hiện tượng này trở thành phổ biến hơn với những thông tin về niên đại tuyệt đối của sản phẩm, họ tên, quê quán của nghệ nhân, có khi cả chức tước của người đặt hàng. Tiêu biểu là những minh văn ở chân đèn gốm, lư hương của nghệ nhân Bát Tràng thường làm theo đặt hàng của các gia đình thế gia cúng tiến vào chùa quán14.  

Từ sự quan liêu, tha hoá của bộ máy chính quyến trung ương cuối thời Lê sơ, cuộc đấu tranh phe phái trong nội bộ cung đình, triển miên, lan rộng đã cuốn cả triều đình đến xã hội bước vào thời kỳ loạn lạc, không quản lý được trật tự an ninh, chính trị, xã hội, triều đình Lê ngày càng phải dựa vào các thế lực quân sự. Quá trình ấy đã tạo môi trường hình thành và phát triển thế lực Mạc Đăng Dung, tiến tới lật đổ triều Lê, dựng nên nhà Mạc. 

Thoát thai từ trong cuộc khủng hoảng chính trị - kinh tế - xã hội đó, nhà Mạc đã có được một số chính sách cởi mở về vãn hoá, xã hội. Thế nhưng nhà Mạc đã không hoặc không có đủ những điều kiện để xây dựng và thực hiện một chính sách giải quyết triệt để những mâu thuẫn đã đặt ra cho xã hội đương thời. Phế bỏ triều Lê nhưng triều Mạc lại mở đầu cục diện phân tranh Nam - Bắc triều, rồi tiếp sau đó là Đàng Trong - Đàng Ngoài kéo dài hơn hai thế kỷ, tình hình chính trị xã hội của đất nước càng phức tạp hơn.  

Chú thích

1.Số liệu khoa thi, Tiến sĩ, Trạng nguyên triều Mạc trong một số công trình của nhà nghiên cứu được dẫn ra không giống nhau: Trần Ngọc Vương: 460 tiến sĩ với 9 trạng nguyên (xem Một số vấn đề Nho giáo Việt Nam, Sđd. tr.43); Ngô Đăng Lợi: 21 kỳ thi, 460 tiến sĩ với 10 trạng nguyên; Nguyễn Đức Nhuệ: 22 kỳ thi, 485 tiến sĩ với 12 trạng nguyên; Đỗ Văn Ninh: 22 kỳ thi, 477 tiến sĩ trong đó có 11 trạng nguyên, 18 bảng nhãn, 19 thám hoa (xem Nhà Mạc và dòng họ Mạc trong lịch sử, Sđd, tr.143, 162, 303) Nguyễn Hữu Tâm: 485 tiến sĩ với 13 trạng nguyên (xem Vương triều Mạc, Sđd, tr. 192). Ở đây thống kê theo Đại Việt sử kỷ toàn thư.
2.Về tên gọi của nữ Tiến sĩ này, các nguồn tài liệu ghi khác nhau: Hải Dương phong vật chí, ký hiệu A.882, ghi bà còn có các tên là Duệ, Du, Toàn; Chí Linh phong vật chí ghi tên là Nguyễn Thị Duệ; Chí Linh phong cảnh - VHv.167, bia Lập cử tự bi năm 1653, ký hiệu N. 19543-19544 ghi tên là Nguyễn Thị Ngọc Toán.
3.Lịch triều hiển chương loại chí, Khoa mục chí, T.III, NXB Sử học, Hà Nội 1961, tr.16.
4.Xem Trần Ngọc Vương: Nho giáo thế kỷ XVI - thời nhà Mạc, in trong Phan Đại Doãn (Chủ biên): Một sô vấn đề Nho giáo Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1998, tr 38- 44.
5.Đinh Khắc Thuân: Lịch sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia, NXB Hà Nội, 2001, tr.267.
6. Văn bia chùa Cao Dương (Thái Thuỵ, Thái Bình).
7.Theo Truyền kỳ mạn lục: Trong khi Hạng Vũ khẳng định mình lập công nghiệp lớn không kém gì Lưu Bang, Hồ Tông Thốc cho rằng Hạng Vũ thiếu chữ Nhân - thiếu cái lớn nhất, làm cho Vũ sụp đổ. Bộ hạ của Hạng Vũ ở bên bàn góp cho rằng nói như Hồ Tông Thốc cũng chưa thoả đáng. Hán Cao Tổ cũng dâu có nhân, thậm chí giết nhiều người, tàn bạo bằng mấy. Hạng Vũ vẫn còn được nàng Ngu Cơ yêu mến đến cùng, tuẫn tiết theo. Hồ Tông Thốc thừa nhận điểm này.
8. Nguyễn Huệ Chi: Bước đầu suy nghĩ vê văn học thời Mạc, Tạp chí Văn hoá Nghệ An.
9. Đinh Khắc Thuân: Lịch sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia, Sđd.
10.Trúc Am tự bi, Bản dập lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội, ký hiệu N.10139.
11.Thiên Hựu tự bi ký, Bản dập lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội, ký hiệu N.12556.
12.Trùng tu Kiến Linh tự, tái tạo Phật tượng bi, ký hiệu N.8018-9.
13.Hương Nham tự bi, tài liệu của Đinh Khắc Thuân, trong Nhà Mạc và dòng họ Mạc trong lịch sử, Sđd, tr.225.
14.Nguyễn Đình Chiến thống kê 30 trường hợp minh văn trên gốm Bát Tràng cho biết niên đại tuyệt đối, trong đó có đến 19 trường hợp là gốm thế kỷ XVI, xem Gốm Bát Tràng – thế kỷ XIV – XIX, Sđd, tr 41-43.

Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa ngày 27.01.2014 .