Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Đền thờ Cao Lỗ




Đi Tìm Ông Tổ Nghề Rèn       






Tướng quân Cao Lỗ không chỉ là tướng chỉ huy quân đội mà ông còn được An Dương Vương giao cho trọng trách chỉ huy “binh công xưởng” sản xuất, rèn đúc binh khí cho quân đội Âu Lạc - trong đó loại vũ khí lợi hại nhất là “nỏ thần” và những “mũi tên thần”.

Người sáng tạo “Kim quang thần nỗ”

Nhiều thư tịch cổ (ở cả Trung Quốc và Việt Nam) khi viết về cuộc chiến đấu chống ngoại xâm của quân dân Âu Lạc do An Dương Vương là tổng chỉ huy đều nhắc đến một “người thần” là tướng Cao Lỗ đã làm “nỏ thần bắn một phát giết được muôn người” cho An Dương Vương. Về “nỏ thần”, tuy các thư tịch không chép chính xác về khả năng sát thương, nhưng đều cho thấy đây là loại vũ khí kỳ bí và có hiệu quả sát thương cao.

Thậm chí trong khi các thư tịch Việt ghi chép có phần “thận trọng” thì các thư tịch Trung Quốc đều ghi chép theo xu hướng phóng đại về sức mạnh của cây “nỏ thần” này. Giao Châu ngoại vực ký ghi: Nỏ thần, bắn một phát giết chết 300 người; hoặc Thái Bình hoàn vũ ký ghi: Nỏ thần bắn một phát giết chết quân Việt (chỉ quân của Triệu Đà) hàng vạn người, bắn ra ba phát giết đến ba vạn... Trong dân gian thì cây nỏ còn mang uy lực sức mạnh siêu nhiên: “Chỉ sông sông cạn/ Chỉ ngàn ngàn tan”.

Những ghi chép của thư tịch Trung Quốc và Việt Nam kết hợp thêm với các truyền thuyết dân gian sưu tầm tại vùng Cổ Loa, cho biết về một nhân vật có nhiều tên gọi khác nhau: Cao Lỗ, Cao Thông hoặc Đô Lỗ, Thạch Thần đã tham gia vào hàng ngũ tướng lĩnh của vua An Dương Vương. Với tài năng khéo léo và khả năng sáng tạo của mình, Cao Lỗ đã cùng quân lính tích cực xây dựng thành Cổ Loa trở thành một căn cứ phòng thủ vững chắc để bảo vệ vương triều An Dương Vương. Đặc biệt, Cao Lỗ đã chế tạo ra một vũ khí có khả năng sát thương cao, khiến kẻ thù khiếp sợ và từ đó nảy sinh âm mưu, tìm mọi thủ đoạn để giành được loại nỏ thần quý báu này. “Có vẻ như” nỏ - là loại vũ khí bắn tên, đánh xa nhưng phù hợp cho việc phòng thủ hơn là cung - cũng là loại vũ khí bắn tên, đánh xa nhưng phù hợp hơn với tấn công của kị binh. Tên gọi của “nỏ thần” do “người thần” Cao Lỗ làm ra cũng được chép với những mỹ từ như: Kim quang (ánh sáng của thép) linh trảo (cái móng/lẫy linh thiêng) thần nỗ (nỏ thần), hoặc là Kim quang thần nỗ.

Nhờ có vũ khí lợi hại (và hiện đại), có thành Cổ Loa kiên cố và nhất là có sự đồng lòng trên - dưới, quân - dân nên Âu Lạc đã đứng vững trước nhiều cuộc xâm lược của Triệu Đà. Về sau, do sai lầm của An Dương Vương, cậy vào vũ khí, chủ quan khinh địch, bạc đãi các công thần (như Cao Lỗ, Nồi Hầu)… khiến cho sức chiến đấu của quân dân Âu Lạc suy yếu. Mất cảnh giác hơn, An Dương Vương lại kết thông gia với Triệu Đà, cho Trọng Thủy sang ở rể. Cách thức bố phòng ở kinh thành Cổ Loa, tổ chức quân đội cũng như bí mật về vũ khí của quân đội Âu Lạc đã bị Trọng Thủy đánh cắp khiến cho Triệu Đà chỉ tấn công (lại) một lần đã thôn tính được Âu Lạc. Bài học đau xót đó không chỉ của hơn hai ngàn năm trước mà còn mang giá trị cho muôn đời. ... được nhiều nơi thờ phụng

Nhiều nguồn tư liệu thư tịch cũng khẳng định nơi thờ chính và lăng mộ của tướng quân Cao Lỗ ở làng Đại Than (nay thuộc xã Cao Đức, huyện Gia Bình, Bắc Ninh). Tư liệu lưu trữ tại trường Viễn Đông Bác cổ (sưu tầm năm 1938) cho biết : Có 5 làng vẫn còn Thần tích và thờ Cao Lỗ vương là các xã/thôn: Đại Than, Văn Than, Mỹ Lộc, Tiểu Than và Kênh Phố.

Đến nay còn thấy lăng mộ và đền Cao Lỗ (xây khoảng cuối thời Lê đầu thời Nguyễn) tọa lạc ở thôn Đại Trung, xã Cao Đức trên một khu đất cao ven bờ nam sông Đuống, mặt hướng về Lục Đầu giang. Trong đền còn lưu giữ được nhiều di vật cổ như tượng Cao Lỗ, tượng An Dương Vương và tượng Thanh Giang sứ (?) cùng nhiều đồ thờ, tế tự. Đặc biệt, trong đền còn lưu giữ được một văn bản chữ Hán, 21 đạo sắc phong của triều Nguyễn từ Thiệu Trị đến Khải Định. Cùng với việc thờ tự ông ở quê hương Cao Đức, dân ở xóm Chùa (Cổ Loa) thờ ông làm thành Hoàng, miếu Cửa Bắc - thành Trung (Cổ Loa) cũng thờ Cao Lỗ. Ngoài Bắc Ninh, còn 7 nơi khác (Hà Nội có 4 nơi và Nam Định có 3 nơi) thờ Cao Lỗ, nay vẫn còn giữ được thần tích.
... và được khảo cổ học từng bước xác minh

Loại vũ khí huyền diệu (nỏ thần) được mô tả trong các thư tịch cổ Trung Quốc và Việt Nam, tưởng chừng như chỉ “tồn tại” trong huyền ảo đã được các nhà khảo cổ học cần mẫn dò tìm trong hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay họ đã có nhiều chứng cứ (hiện vật và di chỉ) để khẳng định rằng: Mũi tên, lẫy nỏ đã được chế tạo và hiện tồn dấu tích trong các di tích khảo cổ học có niên đại văn hóa Đông Sơn ở Cổ Loa và nhiều nơi khác. Năm 1959, tại di chỉ khảo cổ Cầu Vực (phía nam thành Cổ Loa) đã phát hiện một kho mũi tên đồng hàng vạn chiếc. Những năm 2005 - 2008, tìm thấy dấu tích xưởng đúc mũi tên với hàng trăm khuôn đúc các mũi tên đồng ba cạnh độc đáo tại Đền Thượng (trong thành nội Cổ Loa). Theo các nhà nghiên cứu, mũi tên ba cạnh rất phù hợp để bắn bằng nỏ. Đây là loại vũ khí lạnh tầm xa mang tính đặc thù của cư dân Việt cổ. Ngoài ra, mũi tên đồng còn được phát hiện ở nhiều nơi khác ở Cổ Loa và xung quanh: Mả Tre, Xóm Nhồi, Xóm Hương, Bãi Mèn (xã Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội), Đình Tràng (xã Dục Tú, Đông Anh, Hà Nội)…

Nhưng câu chuyện về tướng quân Cao Lỗ không đột ngột dừng lại sau thất bại của An Dương Vương...

Ông tổ nghề rèn ở Nho Liêm?

Tướng quân Cao Lỗ không chỉ là tướng chỉ huy quân đội mà ông còn được An Dương Vương giao cho trọng trách chỉ huy “binh công xưởng” sản xuất, rèn đúc binh khí cho quân đội Âu Lạc - trong đó loại vũ khí lợi hại nhất là “nỏ thần” và những “mũi tên thần”.

Những kết quả tìm được của các nhà khảo cổ học Việt Nam kết hợp với ghi chép trong các thư tịch cổ đã có thể cho chúng ta hình ảnh rõ nét hơn về một cái “lõi” lịch sử được phản ánh lung linh trong truyền thuyết về nỏ thần và các mũi tên đồng của vua An Dương Vương và về người anh hùng Cao Lỗ - là “công trình sư” sáng chế đồng thời cũng là người chỉ huy “binh công xưởng” sản xuất loại vũ khí lợi hại bậc nhất thời đó - loại nỏ bắn được một lúc nhiều mũi tên...

Mũi tên đồng tại Thành Cổ Loa.

Truyền thuyết nói về cuối đời của tướng quân Cao Lỗ khá trùng khớp: Cao Lỗ đã nhìn rõ quỷ kế của Triệu Đà khi cho Trọng Thủy sang kết giao và ở rể. Ông đã dũng cảm can ngăn An Dương Vương nhưng nhà vua không những không nghe mà còn bạc đãi Cao Lỗ. Ông đành phải rời bỏ triều đình. Trước khi đi, Cao Lỗ nói với An Dương Vương: “Giữ được nỏ thần thì giữ được nước, mất nỏ thần thì mất nước”. Nhưng sau đó Cao Lỗ đi đâu, làm gì thì lại có nhiều truyền thuyết khác nhau.

Có truyện (dân gian) nói: Cao Lỗ đi chu du thiên hạ, về đến vùng Cao Xá (Diễn Châu, Nghệ An), thấy có mỏ sắt, nên dừng chân tại đây và dạy dân khai thác quặng sắt, lập lò rèn chế các dụng cụ bằng sắt để mở rộng canh tác ở vùng ven biển này. Một truyện khác lại nói: Cao Lỗ hay tin Triệu Đà tấn công Cổ Loa, đã quay về để bảo vệ vua, bảo vệ thành. Sức yếu, thân cô, cố sức xông pha trận mạc để mở đường thoát cho An Dương Vương, Cao Lỗ đã hy sinh ngay trên mảnh đất Cổ Loa. Lại có tích khác cho rằng: Khi An Dương Vương chạy về phía Nam tới vùng Diễn Châu (Nghệ An), Cao Lỗ đi theo để bảo vệ vua. An Dương Vương chém Mỵ Châu rồi nhảy xuống biển ở Mộ Dạ. Cao Lỗ ở lại vùng này, thấy có quặng sắt nên lập lò rèn ở đây. Sau đó vùng này phát triển thành tổng Cao Xá, gồm nhiều làng. Trung tâm vùng là làng Nho Liêm ngày nay. Cao Lỗ được nhân dân lập đền, tôn thờ làm Thành hoàng, với tên hiệu là Lư Cao Sơn. Ở đây, ông được coi là thánh tổ của nghề rèn. Hàng năm, cứ đến ngày rằm tháng giêng, dân làng Nho Liêm lại tổ chức lễ tế Lư Cao Sơn (Cao Lỗ).

Kết quả khai quật và nghiên cứu khảo cổ học vùng Diễn Châu - Nghệ An đã cho thấy khu vực này có nhiều hiện vật sắt, lò luyện và rèn sắt. Trong số các di chỉ khảo cổ học thuộc thời đại Đông Sơn, nổi tiếng hơn cả là di chỉ Đồng Mỏm ở làng Nho Liêm (xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, Nghệ An, niên đại khoảng thế kỷ thứ 4 - 1 TCN), dấu vết của lò luyện sắt còn hiện rõ ở đây là những nền cát bị nung đỏ, hình tròn, đường kính chừng 30 cm, chiều cao 20 - 25 cm, tường lò được đắp bằng đất sét trộn với trấu hoặt bã thực vật băm, nghiền nhỏ, đáy lò được kê bằng những viên đá to. Lò có hai cửa, một cửa để đưa gió vào, cửa kia để thải xỉ. Xung quanh lò, phát hiện nhiều cục quặng hoặc giọt xỉ sắt, than. Trong diện tích không lớn, đã phát hiện dấu tích 6 lò luyện sắt. Với quy mô lớn và mật độ tập trung cao, khá chuyên biệt và tách khỏi nông nghiệp, có thể phỏng đoán rằng: Sản phẩm của các lò đúc, lò rèn này không chỉ đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt tại chỗ mà còn lưu thông, giao lưu, trao đổi với cư dân ở các lưu vực sông Mã, sông Chu, sông Lam, không loại trừ khả năng vươn ra phía bắc tới tận lưu vực sông Hồng.

Khuôn đúc mũi tên đồng tìm thấy ở Cổ Loa.

Như vậy, câu chuyện về Thành Cổ Loa - An Dương Vương - Tướng quân Cao Lỗ - nỏ thần - mũi tên thần - lò đúc mũi tên và nghề rèn, đúc ở Diễn Châu có sự “xâu chuỗi” ? Hơn thế nữa, hai làng rèn nổi tiếng ở Nam Định là làng Bảo Ngũ (nay thuộc xã Quang Trung, huyện Vụ Bản, Nam Định) và làng Vân Chàng (nay thuộc xã Nam Giang, huyện Nam Trực, Nam Định) có nguồn gốc từ Nho Liêm. Người ở Vụ Bản lại vào Nho Liêm để học nghề - làm ăn, lập ra xóm nhỏ đặt là Thiên (di chuyển, biến thiên - từ Vụ) Bản để nhớ quê. Trong đền thờ Thánh tổ Lư Cao Sơn ở làng Bảo Ngũ có câu đối ghi:

- Cao Sơn xuất thế tự Nho Lâm, hộ quốc giáo dân thiên cổ tại.

- Lư hóa công ân ư Thiên Bản, văn chương ngọc phả vạn niên tồn.

Tạm dịch:

- Cao Sơn ra đời ở Nho Lâm, giúp nước, dạy dân còn mãi ngàn đời

- Lò sáng công ơn miền Thiên Bản, văn chương, ngọc phả ghi đã vạn năm.


*
* *

Thật hiếm có nghề thủ công nào ở Việt Nam có lịch sử lâu đời mà “ông tổ nghề” gắn với một nhân vật lịch sử bi hùng thời mở nước như Cao Lỗ. Nhưng câu chuyện cũng nói rằng nghề đúc, nghề rèn - rộng hơn là nghề chế tạo vũ khí và công cụ kim khí (đồng, sắt) đã phát triển từ rất sớm trên mảnh đất Việt Nam ngày nay. Một dòng chảy lịch sử - truyền thống và hiện tại luôn gắn bó, bổ sung để cùng phát huy giá trị trường tồn.

Đây mới chỉ là một tiếp cận nhỏ mong giải mã về nghề rèn và tổ nghề trong lịch sử - văn hóa Việt Nam, vẫn chờ đợi các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu và kiến giải.


(Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành)


Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa từ Mạc Tộc ngày 23.01.2014 .