Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






NGÀY XUÂN UỐNG RƯỢU - TẠI SAO KHÔNG RƯỢU MÀ SAY?





Chuyện uống rượu, từ cổ chí kim, từ đông sang tây đâu đâu cũng có, nhất là trong các dịp lễ hội, Tết Nguyên Đán. Mỗi dân tộc, đều có thứ nước cay cay, nồng nồng, tinh khiết để ứng xử trong giao tế và thắt chặt thêm tình làng nghĩa xóm.

Thời cổ đại, rượu còn tượng trưng cho sức mạnh và quyền lực. Nhiều nhân vật lừng danh thường coi rượu là máu, là sức mạnh. Rượu là chất men nồng giúp cho thi hứng.

Rượu đi vào trân chiến và song hành với khúc hát khải hoàn, đồng thời rượu cũng để tiêu sầu. Ngoài ra, rượu còn là linh hồn cùa các nghi thức truyền thống: vua chúa cầm ly rượu mời các bậc hiền thần để chứng tỏ một vị minh quân. Ngay cả việc cúng mụ, cúng đầy tháng và thôi nôi, con người cũng dùng ba ly rượu để dâng lên 12 mụ bà, 13 đức thầy. Điều đó chứng tỏ rượu quan trọng biết dường nào!

RƯỢU VIỆT NAM

Rượu là thức uống vừa mang tính lễ nghi, vừa là thứ nước kích thích tiêu hóa, tăng cường sinh lực và là mặt hàng kinh doanh có lợi nhuận cao. Ở Việt Nam, có nhiều làng nấu rượu nổi tiếng, như rượu Làng Vân (Bắc Ninh), rượu Gò Đen (Long An), rượu Nho (Đà Lạt), rượu Cần (Tây Nguyên), rượu Cầu Ngang, rượu Bầu Đá, rượu Bờ Đập…

- Rượu truyền thống “VIỆT XƯA” đạt chuẩn EU (Liên hiệp châu Âu)

Sau quá trình kiểm nghiệm khắt khe, sản phẩm rượu truyền thống Việt Xưa đã chính thức công nhận đạt tiêu chuẩn EU.

 - Nhà máy rượu Việt Xưa thuộc Tập đoàn Công ty Delta được đầu tư sản xuất rượu truyền thống bằng công nghệ cao. Đây cũng là sản phẩm rượu truyền thống Việt Nam đầu tiên và duy nhất được Viện kiểm nghiệm Berlin – CHLB Đức công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng của cộng đồng Liên minh châu Âu.

Năm 2000, các tiến sỹ hàng đầu về khoa học công nghệ thực phẩm đồ uống của Việt Nam và Nhật Bản bắt tay vào việc xây dựng đề án nghiên cứu và sản xuất rượu truyền thống Việt. Đề án được Nhà nước cung cấp mã số đề án nghiên cứu cấp quốc gia, Tập đoàn Delta đã tham gia, hỗ trợ và xây dựng nhà máy ở Tản Lĩnh, Ba Vì (Hà Nội) với trang thiết bị và dây chuyền sản xuất hiện đại nhập khẩu từ Nhật Bản.

Các nhà khoa học đã phải đầu tư vùng lúa riêng cho nhà máy để chuẩn hóa nguyên liệu đầu vào. Việc người nông dân trồng giống lúa gì, phun thuốc gì, bón phân gì là đều tuân thủ theo quy định của các kỹ sư nông nghiệp. Những giọt nước trầm tích hàng ngàn năm trên độ cao 1.200m so với mặt nước biển của vùng núi Tản Ba Vì được khai thác để sản xuất và xử lý sạch theo tiêu chuẩn RO. Sau 10 năm nghiên cứu, các nhà khoa học đã bước đầu thành công công nghệ sản xuất rượu truyền thống Việt Xưa kết hợp hoàn hảo giữa công nghệ lên men hiện đại và các phương pháp cổ truyền. Đầu năm 2011, nhà máy gửi mẫu sản phẩm rượu tới Viện kiểm nghiệm Berlin - CHLB Đức. Việt Xưa là trường hợp đặc biệt và lần đầu tiên có mẫu thử  sản phẩm rượu truyền thống của Việt Nam đạt tiêu chuẩn EU.

Thành công của Việt Xưa có ý nghĩa quan trọng trong lĩnh vực bảo tồn, tôn vinh truyền thống văn hóa ẩm tửu của dân tộc và góp phần vào việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng, an sinh xã hội.

Rượu Việt Xưa là hàng Việt Nam đạt chất lượng cao không chỉ người Việt Nam tin dùng mà bạn bè khắp nơi trên thế giới thưởng thức sản phẩm Việt. Đây sẽ là niềm tự hào của người Việt.

RƯỢU TRUNG QUỐC

Ở Trung Quốc thời xưa, nhiều bậc tao nhân mặc khách và anh hùng hảo hán thường uống rượu bằng chén, “trà tam rượu tứ” mới vui. Thi hào Lý Bạch với biệt danh là “Tửu Trung Tiên”, càng uống rượu say càng làm thơ hay, ông đã ca tụng người uống rượu bằng những câu thơ duyên dáng:

Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch

Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh.
(Xưa, nay thánh hiền đều lặng lẽ
Chỉ người uống rượu mới lưu danh)
. Đỗ Khang, tức Thiếu Khang, tương truyền là người phát minh ra cách nấu rượu.

CÁC LOẠI RƯU ÂU MỸ


1/- Rượu Whisky (Anh có tên: Whisky - Mỹ & Irish: Whiskey)

Có 4 loại Whisky khác nhau nổi tiếng trên thế giới. Đó là Scotch Whisky , Irish Whisky , American Whisky và Canadian Whisky.

Scotch Whisky nổi tiếng nhất và được dùng rất rộng rãi.

2/-Rượu vang

Rượu vang (từ tiếng Pháp vin) là một loại thức uống có cồn được lên men từ nước nho. - Rượu vang đỏ thường được lên men từ nước ép và vỏ quả nho,

-Rượu vang trắng được lên men chỉ từ nước nho.

Nước từ các hoa quả khác có thể được lên men tạo thành rượu, nhưng theo luật nhiều nước, từ "rượu vang" (ở ngôn ngữ tương ứng) cho mục đích thương mại chỉ được sử dụng cho rượu lên men từ nho.

Một đặc điểm của rượu vang là lên men không qua chưng cất. Nồng độ rượu dao động từ 8-18 độ.

- Rượu vang đông lạnh [hay còn gọi là icewine]

Được chế biến từ các loại nho trồng thu họach lúc thời tiết phải dưới 8 độ âm C và độ đường phải có ít nhất là 39 Brix theo trọng lượng người trồng nho dùng [số càng cao, độ ngọt càng nhiều]. Nho khi bị đông lạnh thì chất nước trong nho được kết tinh và nâng cao độ ngọt, cũng như hương thơm của loại nho làm rượu icewine.


CÁC ÁNG THƠ SAY


Ngày xuân ai chăng có chút say. Trước cảnh sắc tươi non, trong hương bay ngào ngạt, ai cũng nghĩ cảnh sắc ấy, hương thơm ấy là của vũ trụ ban tặng cho riêng mình. Ngập trong lời chúc của thân quyến, bạn bè, họ tự thưởng thêm cho mình một chút say.


Các thi sĩ là người sống hết mình, yêu hết mình và cũng say hết mình. Kể sao cho hết những áng thơ say tự cổ chí kim của Lý Bạch, Đỗ Phủ, Thôi Hiệu…

Trong lâu dài thơ mới của các thi nhân tiền chiến, có nhiều tài thơ còn lưu lại những áng thơ say trác tuyệt, ngân rung mãi trong lòng nhiều thế hệ Việt Nam.

-Thơ say của Vũ Hoàng Chương dẫu có nhiều câu tuyệt bút nhưng tôi chỉ phục mà không thích. Đó là sự say của chàng "công tử Bạc Liêu", là sự say đập phá, bất cần đời, mang màu sắc triết lý Hiện sinh quá đà:


"... Say đi em cho nghiêng ngả ánh đèn

Say đi em cho điên rồ xác thịt..."


Trong Thi Nhân Việt Nam , Hoài Thanh - Hoài Chân bình thơ Vũ Hoàng Chương :

" Ý giả Vũ Hoàng Chương định nối cái nghiệp những thi hào-xưa của Đông Á: cái nghiệp say. Người say đủ thứ: say rượu, say đàn, say ca, say tình đong đưa. Người lại còn "hơn" cổ-nhân những thứ say mới nhập-cảng: say thuốc phiện, say nhảy đầm. Bấy nhiêu say sưa đều nuôi bằng một say sưa to hơn mọi say sưa khác: say thơ. Vũ Hoàng Chương có cá dụng ý muốn say để làm thơ. Cái dụng ý ấy không khỏi có hại. Nhưng một lần kia, bước chân vào tiệm nhảy, người bỏ quên dụng ý làm thơ ngoài cửa, và lần ấy người đã làm một bài thơ tuyệt hay.

Tôi yêu những vần thơ chếnh choáng, lảo đảo mà nhịp nhàng theo điệu kèn khiêu vũ:


. . . . . . . . . . . . . . . . . .
Âm ba gờn gợn nhỏ,
Ánh sáng phai phai dần...
Bốn tường gương điên đảo bóng giai-nhân.
Lui đôi vai, tiến đôi chân,
Riết đôi tay, ngả đôi thân,
Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió...
. . . . . . . . . . . . . . . . . . .


Quả lòng những vần thơ say.
Cái dụng ý làm thơ Vũ Hoàng Chương cũng còn bỏ quên ít lần nữa.

Kể,
cái say-sưa của Vũ Hoàng Chương là một thứ say-sưa có chừng mực, say-sưa mà không hẳn là trụy-lạc, mặc dầu từ say-sưa đến trụy-lạc đường chẳng dài chi. Nhưng trụy-lạc hay say-sưa đều mang theo một niềm ngao ngán. Niềm ngao-ngán ấy ta vốn đã gặp trong thơ xưa. Duy ở đây có cái vị chua-chát, hằn-học, và bi đát riêng.

Mỗi lần nói đến hôn-nhân, Vũ Hoàng Chương có giọng khinh-bỉ vô cùng. Người thấy hôn-nhân chỉ là sự chung-chạ của hai xác-thịt, một sự bẩn thỉu đã làm dơ dáy bao mộng đẹp của tuổi hoa-niên:


Hai xác-thịt lần vào nhau mê mải,
Chút thơ ngây còn lại cũng vừa chôn.
Khi tỉnh dậy, bùn nhơ nơi Hạ-giới
Đã dâng lên ngập quá nửa linh-hồn.


Khốn nỗi! Thoát-ly được hôn-nhân cùng mọi trói buộc khác, nào người có tìm được hạnh-phúc, người chỉ thấy bơ-vơ:


Mênh mông đâu đó ngoài vô tận
Một cánh thuyền say lạc hướng đêm. "


-Lưu Trọng Lư có cái say của đấng tao nhân mặc khách. Một sự say thảng đến, chợt đi trên bước giang hồ, lữ thứ. Dưới cây bút tài hoa của Lưu Trọng Lư, nó như một tiếng đờn bầu bật lên ngân vọng giữa bao la trời đất:


"Ước gì ta có rượu say
Sông kia bên ấy, bên này của ta
Trời cao đất rộng bao la
Hiu hiu gió sậy, la đà dặm trăng.
Một mai bên quán ngập ngừng
Quẩy theo với rượu một vừng giai nhân..."


Tản Đà có câu thơ rất thâm thúy về uống rượu làm thơ:

Cảnh đời gió gió mưa mưa
Buồn trông ta phải say sưa đỡ buồn
Rượu say thơ lại khơi nguồn
Nên thơ, rượu cũng thêm ngon giọng tình…
Giờ đây mình lại với mình
Khi say quên cả cái hình phù du
Trăm năm thơ túi rượu vò
Nghìn năm thi sĩ Tửu dồ là ai?


- Nguyễn Bính


Với bài thơ Cho tôi ly nữa. Bài thơ lúc đầu đăng trên báo "Tiểu thuyết thứ Năm", sau in trong tập "Tâm hồn tôi" (NXB Nguyễn Cường, 1940). Đó là sự say của một thi sĩ lớn, một tâm hồn lớn mang nặng nỗi đau đời. Cái hay, cái độc đáo là ở tứ thơ rất hồn nhiên, tình thơ phát triển theo từng cung bậc tâm sinh lý người say sau mỗi chén rượu. Lời thơ cứ nhẹ tênh tênh theo hơi men phảng phất mà sức chuyển tải tư tưởng rất nặng, rất đằm.

Bước vào cuộc say, thi sĩ còn rất tỉnh. Chàng nói lỡm cô chủ quán rằng, đừng nghĩ sớm, trưa, chiều, tối chàng có mặt là mê nàng, yêu nàng. Thi sĩ nói với cô và cũng tự nhủ, mình nghèo, có tiền bao nhiêu uống bấy nhiêu thôi:


"Chả biết là yêu hay chả yêu
Tình cô bán rượu sớm, trưa, chiều.
Tôi ưa say lắm, nhưng nghèo lắm
Có được bao nhiêu mua bấy nhiêu."


Vì rất tỉnh nên chàng bảo nàng rót một ly nhỏ thôi, để chàng trốn tránh giàu sang, tìm thú vui ở thiên nhiên muôn sắc, muôn hương, muôn âm thanh kỳ ảo:


"Cô bán cho tôi ly rượn nhỏ
Của người ẩn sĩ trốn giàu sang.
Tôi say mơ thấy trăm vườn cúc
Một sáng mùa xuân mở cánh vàng"


Khi rượn đã vào ngà ngà hơi men, thi sĩ không còn là ẩn sĩ mà thành cuồng sĩ ghét công danh, căm thói đời đen bạc, khao khát tình yêu...


"Hãy chuốc cho tôi ly rượu nữa
Của người cuồng sĩ ghét công danh.
Tôi say mơ thấy đời đen trắng
Bụi đỏ... Ai người đôi mắt xanh."


"Thư sinh bất khả tam bôi". Chén thứ ba đã làm thi sĩ say thật sự. Chàng quên mình chỉ là gã nghèo đến ở trọ Tràng An. Theo gót cụ Cao Bá Quát, chàng coi khinh tất cả, bất chấp tất cả, đặt mình trên cả vua chúa:


"Hãy chuốc cho tôi ly nhỏ nữa
Của người thi sĩ trọ Tràng Yên.
Tôi say mơ thấy vì tiên trích
Vua gọi mà không chịu xuống thuyền."


Khi đã say đến mức cùng của sự say là lúc thi sĩ khóc cười, cười khóc nhớ người yêu, nhớ đến mối tình tuyệt vọng của mình. (Có thể là với nàng Tố Uyên em gái nhà văn Nguyễn Đình Lạp ở phố Bạch Mai chăng?) Và thế là thi sĩ không tự chủ mình được nữa, uống hoài uống mãi. Không có tiền trả, nếu bị lột áo đã có "áo mùa xuân". Nhưng người say đâu có chịu rằng mình nghèo hèn. Chàng bảo chàng giàu lắm: Giàu hồn thơ - Giàu nhân ái- Giàu gió trăng - Giàu tình yêu - Giàu tình bạn... Bạc vàng nào sánh nổi sự giàu ấy của chàng? Và chàng gõ bát ca:


"Cho tôi ly nữa, thêm ly nữa
Uống thực say rồi nhớ cố nhân.
Rồi nếu tiền tôi không đủ trả
Lo gì, tôi có áo mùa xuân.

Đừng lo, cô nhé, tôi giàu lắm
Này áo khinh cừu, ngựa ngũ hoa.
Mất hết ngàn vàng tôi lại có
Cho tôi ly nữa để tôi ca."


Hỡi ôi ! Đến mức này đố ai ngăn được thi sĩ đừng uống. Đố ai khuyên được thi sĩ đừng say. Ước gì được cùng Nguyễn Bính say một lần giữa xuân Đinh Sửu.


TẠI SAO KHÔNG RƯỢU MÀ SAY?

(Thích nữ Trí Hải - Thuật theo chuyện kể của Hòa thượng Trí Nghiêm)

 Vào một buồi chiều tịnh mịch ở Kỳ viên tinh xá, sau khi giảng pháp cho chư tăng và cư sĩ khắp nơi tụ về, Ðức Thế tôn vào hương thất an nghỉ. Vừa đặt lưng xuống, Ngài bỗng nghe tiếng đập cửa thình thình và tiếng khè khè của một gã say rượu thừa lúc cổng mở, đã lẻn vào tinh xá. Hắn vừa đập cửa vừa gọi:

 - Ông Phật ơi, ông Phật! Cho tui làm Phật với! Tui cũng muốn ... làm Phật! Khà khà! Bộ chỉ mình ông làm Phật được mà thôi à? Há ?

 Ðức Thế tôn ngồi dậy đi ra. Thấy gã say dơ dáy, y phục tả tơi, Ngài động lòng trắc ẩn gọi thị giả A Nan:

 Ðức Thế tôn ngồi dậy đi ra. Thấy gã say dơ dáy, y phục tả tơi, Ngài động lòng trắc ẩn gọi thị giả A Nan:

 - Này, A Nan , ông tắm rửa, cạo tóc và cho ông ta một cái y sạch. Rồi tìm chỗ cho nằm nghỉ.

A Nan vâng lệnh. Sau khi tắm rửa sạch sẽ, cạo tóc đắp y, gã say được đưa đến một gốc cây im mát trong tịnh xá. Gã đánh một giấc ngon lành cho đến sáng hôm sau. Khi tỉnh dậy, hắn bỡ ngỡ nhìn quanh thấy toàn thầy tu mặc áo vàng đi bách bộ, nhìn lại mình cũng đang đắp y, sờ đầu thấy trụi lũi, hắn kinh hoàng không biết mình là ai, vội vàng bỏ chạy một mạch ra phía cổng. Các tỳ kheo đuổi theo bắt lại. Nhưng một số khác biết chuyện, ngăn:

 - Này, chư hiền, để cho hắn chạy. Hắn chỉ là một gã say, hôm qua Thế tôn bảo tôn giả A Nan tắm rửa cạo tóc đắp y vào cho hắn đấy.

- Thật thế sao? Tại sao đức Thế tôn làm chuyện lạ nhỉ? Biết hắn say mà vẫn độ cho hắn xuất gia?

 - Hãy để hắn đi cho khuất, rồi chúng ta sẽ đến thỉnh giáo đức Thế tôn về việc này.

 Thế là họ kéo nhau đến hương thất đức Phật, bạch hỏi:

- Bạch đức Thế tôn, chúng con không hiểu vì nguyên nhân gì Ngài lại độ cho một gã say như thế? Xin Ðấng Thiện Thế giải rõ cho chúng con.

-Này các tỳ kheo, các ông dường như trách ta vì đã độ cho một gã say. Nhưng ta hỏi các ông, trong lúc hắn say, tại sao không cầu chuyện gì khác, mà lại cầu làm Phật? Như thế là hắn đã gieo một cái nhân tốt đẹp, ta phải giúp duyên cho hắn, vì ta không hẹp gì mà không giúp cho hắn thành Phật. Vả lại, có bao nhiêu người "tỉnh" biết cầu làm Phật như hắn?


TÓM LẠI,


Nếu trong khi say, người Say cầu nguyện một việc gì tốt, chẳng hạn gieo một cái nhân tốt đẹp, ta phải giúp duyên cho hắn, vì ta không hẹp gì mà không giúp cho hắn thành công. Vả lại, có bao nhiêu người "tỉnh" biết cầu làm việc tốt?

Vậy thì ai tỉnh, ai say? Huống chi, hắn có nhậu rượu vào mà say, thì bất quá chỉ say vài tiếng đồng hồ rồi tỉnh lại. Cho nên, bệnh say của hắn, ta không cho là trầm trọng.

Trái lại, biết bao kẻ trên thế gian này, dù không uống rượu mà vẫn say, không phải say vài tiếng đồng hồ như hắn, mà say muôn kiếp ngàn đời chưa tỉnh. Cái bệnh say đó, say trong vô minh ái dục, Ta mới gọi là một chứng bệnh trầm kha! (Lời Đức Phật)

(Tham khảo: Các bài viết trên Sách báo và Internet)

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 10.01.2014.