Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




TẾT CUNG ÐÌNH HUẾ




Môt trong những ngày lễ quan trọng nhất vào ngày đầu năm trong những triều vua nhà Nguyễn trước đây là lễ "Vạn thọ đại khánh". Đây là ngày lễ đầu Xuân kỷ niệm ngày sinh của nhà vua đồng thời cũng để cầu mong cho triều chính được vững bền.Tuy nhiên trong những kỳ lễ Vạn Thọ Đại Khánh (chính thức) thì lớn nhất là những năm chẳn mười, như Tứ Tuần (40 tuổi) Ngũ Tuần (50 tuổi) lục tuần (60 tuổi đại thọ)... Đây mới chính thức là Vạn Thọ Đại Khánh. Những Ðiển Lệ của nhà Nguyễn đều ghi chép đầy đủ những chi tiết của lễ lượt này.

Lễ nầy thường được chuẩn bị chu đáo từ trước; suốt trong tháng gặp dịp Vạn Thọ Đại Khánh (chính thức), việc trang hoàng khắp hoàng thành, kinh thành Huế vô cùng rực rỡ; trên kỳ đài treo cờ vàng (biểu hiệu cho vua) và cờ khánh hỷ đủ các màu, ngày cũng như đêm, mưa cũng như nắng không bao giờ sai lệ. Trước lễ 10 ngày và sau lễ 4 ngày, tức là trong vòng nửa tháng, có đến 1,000 ngọn đèn lồng được thắp sáng từng hàng từ cửa Ngọ Môn ra Phu Văn Lâu và bao quang cả Hoàng thành.

Những nghi môn được kết hoa rực rỡ trước cửa Ngọ Môn ngay sát Kỷ đài và những dãy nhà dựng lên hai bên khu vực hành lễ chính thức nầy. Trong suốt thời gian tổ chức lễ nầy, nếu nhà vua muốn đến quan sát, thăm viếng và kiểm tra, thì tất cả triều thần phải đón tiếp theo đúng triều nghi, văn võ bá quan phải phẩm phục nghiêm chỉnh, những đội nhạc bá vũ tấu lên những khúc nhạc cung đình chào mừng. Trong khi đó thì bộ Lễ cắt đặt những hàng thân, hoàng công, hoàng tử đến trực trong điện Càn Thành để hầu chầu khi vua dùng ngự thiện.

Trước lễ một ngày, vào buổi chiều, bộ lễ vả bộ Công lo cử người bày hoàng án, châu án, trải chiếu từ điện Cần Chánh, điện Thái Hoà ra thẳng tới trước Kỳ Đài. Những đội Nhã Nhạc đều được sắp đặt sẵn trong khi những đội múa Cung đình, Lục Cúng, Bát Dật đều được phân định sẵn. Ngày hành lễ được chuẩn bị những nghi thức từ lúc canh năm.

Sau khi dứt ba hồi trống, 9 tiếng súng lệnh bắn lên, thì triều nghilập tức được dàn bày, theo vị trí phẩm trật trước sân điện Thái Hoà và điện Cần Chánh. Long đình trước cửa chính Ngọ Môn cũng được thiết trí đầy đủ, với những đội hình của voi, ngựa, kỵ sĩ, lính hầu, cẩm vệ, xe kiệu đều chực sẵn hai bên thể lâu theo đúng nghi lễ trang nghiêm. Từ tồ mờ sáng, quan thị Lệnh của Nội Các kính mang ống đựng bảo chiếu đặt lên Hoàng án đặt chính giữa điện Thái Hoà; bộ Lễ cử người đặt Biểu Mừng của đình thần và các địa phương lên chân án.

Quan Tuyên Chiếu, quan Độc biểu, các quan Nôi các phảm phục chỉnh tề đội hầu ở hai chái đông, tây. Sứ bô các thuộc quốc, ngoại phiên, các thổ ty, thổ mục bưng hộp Biểu mừng đứng trực ở tả, hữu điện. Các quan viên hưu trí, tạp ngạch, tôn sinh, giám sinh trường Quốc Tử Giám đều tề tựu đông đủ trước sân Thể Lâu. Bô lão của sáu huyện trong tỉnh Thừa Thiên cũng được mời họp mặt ở hai phía tả hữu của Phu Văn lâu.

Đến giờ hành lễ chính thức, nhà vua từ điện Cần Chánh ngự ra điện Thái Hoà nhận lễ mừng. Sau khi nghi tiết dàn bày xong, nhã nhạc tấu và múa hát, viên đường quan của bộ Lễ tâu xin vua cho quần thần làm lễ Khánh Hạ. Đình thần đứng hàng ngang ở cuối điện cả bên tả lẫn bên hữu. Nhạc nổi lên chính thức.

Đình thần đưa biểu mừng lên ngang trán, lần lượt trao lại cho hai viên quan bộ Lễ, để họ chuyển cho thuộc viên Nội Các đặt lên trên châu án ở chái tây. Nhạc ngưng. Tất cả đồng loạt phủ phục. Bài nhạc "Thọ Bình" được cử lên. Bá quan văn võ nhất loạt lạy 5 lạy. Tất cả các quan bộ Lễ đứng ở các ban hầu đồng loạt hô to: "Tung hô".

Lập tức, bách quan chấp tay đưa ngang trán cùng tung hô "Vạn Tuế!". Tất cả ba lần như thế. Biên binh, ca công cũng nhất loạt hô theo rầm trời. Quan bộ Lễ tuyên bố "Lễ Khánh Hạ đã xong", đại nhạc lại trổi lên. Vua rời ngai vàng, ngự lên giá trở về điện Cần Chánh. Các hoàng đệ, hoàng tử nhỏ tuổi cùng các công tử lần lượt được các Thái giám và các quan bộ lễ dẫn vào sân điện và thềm điện lạy mừng nhà vua.

Ngày Vạn Thọ Đại Khánh

Đời nhà Nguyễn, tại kinh thành Huế thì nhiều điệu cung đình được thể hiện phong phú hơn.Từ thời Nguyễn trở đi, việc dời đô từ Thăng Long và Huế dẫn theo sự hình thành một trung tâm sinh hoạt múa cung đình mới. vào những ngày đại lễ trong triều, tại Huế thường có những cuộc trình diễn ca múa cung đình trong đại nội cũng như trên sông Hương.

Những nghệ nhân nổi tiếng trong ngành ca múa từ những vùng Nam Định, Thanh Hoá, Hà Nội, Bắc Ninh... được đưa vào Huế để tham gia những đội ca múa cung đình.

Năm 1826, đời vua Minh Mạng, nhan lễ Hoàng Thái Hậu thọ lục tuần, vua cùng các quan rước Hoàng Thái Hậu lên xem múa "Trình Tường". Điệu múa nầy còn có tên là "múa Liễn", vì mỗi vũ sinh cầm một bức liễn. Bốn câu ghi trên những bức liễn trong dịp lễ nầy như sau đây: “Thiên Tử vạn niên, Vạn thọ vô cương. Quần phương tập khánh, Vạn bảo "Trình tường" Đây cũng là một hình thức múa bốn người với một cấu trúc đội hình rất cân xứng và gần gủi với hình thức của lối múa "Phương Trận".

Thông thường thì điệu múa nầy kết thúc bằng một hình tượng nhằm tập trung thể hiện nội dung chủ đề, thông qua bốn câu ghi trong liễn như đã trình bày trên. Năm 1840, nhân lễ Ngũ Tuần Đại Khánh của nhà vua, vua ngự tại điện Thái Hoà để mừng lễ. Những người trong hoàng tộc, văn võ bá quan tham dự cũng như các sứ thần thuộc quốc dâng biểu chúc mừngrồi cùng nhau muá "Bát Dật" (được phân chia ra Muá Văn và Múa Võ hai bên).

Đến đời vua Tự Đức (1847 - 1883) trong ngày lễ Vạn Thọ, trên Chính Lâu có múa Bát Dật, trong khi đó tại Phu Văn Lâu thì có múa Hoa Đăng và múa Tứ Linh. Dưới đời vua Khải Định múa hát cũng thường tổ chức trong cung đình.

Năm 1924, nhân dịp lễ Tứ Tuần Đại Khánh, trong điện Thái Hoà tổ chức mừng lớn, có đưa những ca công nổi tiếng ở những tỉnh miền bắc vào ca múa. Lúc đó, ba điệu múa được thực hiện là: Múa Hoa Đăng, Múa Trình Tường và Muá Lục Triệt Hoa Mã Đăng. Trong những ngày đại lễ của những triều vua trước đây, ca múa tổ chức theo những vị trí nhất định.

Chẳng hạn như lễ tế Giao, lễ Tịch Điền, lễ tế Văn Miếu, lễ Quốc tế (tế trong nước) trong thời Đinh Tiên Hoàng là thịnh hành nhất; vào đời nhà Lý thì có những cuộc ca muá trong những lễ tắm Phật; vào đời nhà Trần thì tổ chức ca múa trong dịp Nguyên Đán, lễ Phát dẫn đám tang nhà vua; đời Hậu Lê, thì tổ chức ca múa nhân lễ sách Phong vua Lê Thần Tông, nghi thức đón tiếp các sứ thần ngoại quốc, lễ Tân phong nguyên súy cho Trịnh Tạc đều ca múa luôn mấy ngày đêm; những lễ xướng danh và ban áo mũ cho những tiến sĩ tân khoa đời hậu Lê bái mạng chúa Trịnh đều có ca múa cung đình. Ngoài ra, những lễ Tế Kỵ Thái Miếu, lễ Lập Xuân, lễ Tiến Xuân ngưu, lễ Kỳ đạo, lễ giỗ Đống Đa, tết Nguyên Đán đời nhà Nguyễn đều tổ chức ca múa tại nhiều nơi trong kinh đô.

Về sau thì ca múa chỉ được thực hiện trong một số ngày lễ quan trọng: lễ tế Nam Giao, lễ tế Văn Miếu, lễ Tế Kỵ Thế Miếu, lễ Thánh Thọ, lễ Tiên Thọ, lễ Vạn Thọ, lễ Thiên Xuân, lễ Hưng Quốc Khánh Niệm Tiết và lễ kết hôn các hoàng tử hay công chúa...

Những thể loại muá Cung Đình

Thời Đinh, Lê

Thời Ðinh - Lê, Hoa Lư cũng thường là một trong những trung tâm sinh hoạt múa cung đình. Nhưng từ khi vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long, thì Thăng Long lại trở thành một trung tâm sinh hoạt múa cung đình trong các triều Lý, Trần, Lê. Múa cung đình tại Việt Nam có từ đời nhà Tiền Lê. Sử chép chuyện Lê Long Đỉnh (Ngoạ Triều) thường cho những cung nữ trút hết xiêm y để múa hát chứng tỏ vào thời nầy đã có múa hát cung đình.

Nhà Lý

Năm 1044, vua Lý thánh Tông trong lúc đánh chiếm Chiêm Thành đã bắt hơn trăm cung nữ về Thăng Long trong đó đa số đều biết múahát. Khúc hát Tây Thiên của người Chàm cũng được du nhập từ đó. Những điệu múa của những vũ công Chiêm thành đã mang lại cho sân khấu cung đình của nước Đại Việt một phong cách mới ngoại dị.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: "Năm 1068, vua Lý Thánh Tông đãi yến tiệc quần thần tại điện vua Chiêm. Vui cuộc tiệc, vua thân hành múa khiên và đánh cầu trước bệ. Điều nầy nói lên rằng: Vua Việt Nam trong thời gian đó cũng có người biết múa và thích múa hát". Là một võ tướng, đương nhiên vua Lý Thánh Tông thạo việc binh đao, nhưng ở đây, múa khiên thể hiện những xúc cảm thẩm mỹ bằng động tác múa khiên, chứ không tái hiện một cuộc chiến đấu.

Đương nhiên là điệu vũ trong triều nhà Lý khác hẳn với loại múa của những vua chúa phương Tây. "Năm 1123, đời vua Lý Nhân Tông, nhân ngày 25 tháng giêng là tiết Thánh Đản (sinh nhật của nhà vua) vua cho tổ chức đoàn múa trên những chiếc xe đẩy". (ĐVSKTT). Trên xe những vũ công múa những khúc dâng rượu nổi tiếng trong thời gian đó. Cho đến thời nầy thì thể điệu cung đình lại có thêm những loại múa mới. Năm 1140, vua Lý Anh Tông cử Đỗ Anh Vũ là cung điện lệnh. Anh Vũ là một tay múa rất khéo lại là em ruột của Đỗ Thái hậu, cho nên được phụ trách những đoàn hát trong cung điện của nhà vua thời đó.

Nhà Trần

Năm 1252, vua Trần Thái Tông đãi yến quần thần ở nội điện, uống rượu say. Mọi người tham dự buổi tiệc đều đứng dậy, cùng nhau ra ca múa. trong những yến tiệc như vậy thường có những trò hoá trang, có người cầm đùi đục để gióng trống chỉ huy những người tham dự điệu múa. Những chứng liệu trên đây đã khiến cho những nhà nghiên cứu liên tưởng đến một lối "múa liên hoan" được phổ biến thời gian đó.

Đời vua Trần Nhân Tông, sau khi chiến thắng quân nhà Nguyên, nhà vua cùng triều thần trở lại Thăng Long. Nhà vua mở tiệc ăn mừng suốt ba ngày, gọi là "Thái Bình Diên yến" trong đó múa hát đóngvai trò quan trọng.

Theo truyền thuyết, đến cuối năm Mậu Tý, vị tướng tài ba của nhà Trần là Trần Quang Khải cũng đã sáng tác ra bài múa để mừng chiến thắng vẽ vang chống quân Nguyên. Bài múa đó có tên là "Múa Bài Bông" được lưu truyền cho đến ngày nay. Trong điệu múa cũng như lời ca của bài nầy nội dung ngợi ca công đức của những anh hùng và quân sĩ đánh giặc Nguyên. Dân chúng nhiều nơi cũng truyền tụng và tổ chức ca múa chiến thắng nầy.

Nghiên cứu cho thấy: đây là thể điệu đạo cụ trong múa dân gian. Qua thể hiện, sau lưng người múa có một đòn gánh ngắn ngang vai, hai đầu là hai giỏ chất đầy hoa, mỗi bên lại thêm một cây đèn giấy. Người múa còn cầm quạt ở tay. Múa Bài Bông được sắp xếp theo từng "dật": tứ dật, lục dật, bát dật. Múa và hạt đều đi song song với nhau.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có chép: - Vị tướng Trần Nhật Duật cũng là người rất sành về nhạc, hát và ca múa. Ông đã cho sửa lại một số bài ca để chuyển sang thành điệu múa cho thích hợp. Trong nhà của ông bao giờ cũng không dứt tiếng đàn, tiếng hát..."

Qua một bài thơ mà vua Trần Nhân Tông đề tặng cho sứ thần của nhà Nguyên là Trương Lập Đạo sang nước ta trình chiếu thư vào năm 1291, ta thấy múa hát hồi đó cũng được dùng trong ngoại giao. Bài thơ bằng Hán văn như sau đây:

Giá chi vũ bãi thí xuân sam, Huống trị kim tiêu tam nguyệt tam. Hồng tuyết điêu bàn xuân đái bính, Tòng lai phong tục cựu An Nam.

Nhà Lê

Đến nhà Lê, múa hát trong cung đình cũng rất thịnh hành. Năm 1456, vua Lê Nhân Tông tuần du đến Lam Kinh làm lễ tạ ơn nơi chốn khởi nghĩa của Lê Lợi ngày trước. Hàng quan võ trong triều đi theo đã cùng nhau biểu diễn điệu "Bình Ngô Phá Trận" trong khi đó thì hàng quan văn lại thi nhau múa khúc "Chư hầu lai triều" nhưđể đáp lễ trở lại.

Hai điệu múa nầy sau chuyển thành hai điệu Xuân Phả còn được lưu truyền cho đến nay. Nếu nghiên cứu về phương diện nghệ thuật thì khúc múa "Chư Hầu Lai Triều" là một bước phát triển của lối múa dân tộc để chuyển khác hình thức "tổ khúc" ngày nay.

Những điệu múa nầy cũng là hình thức phô diễn của một lối kịch câm, thiên về diễn đạt hiện thực. Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam người ta thường nhắc đến Đào Duy Từ. Vào đời vua Thần Tông (1619 - 1643) Đào Duy Từ giúp cho chúa Nguyễn Phúc Nguyên ở Đàng Trong đặt ra những điệu múa mới và sửa lại một vài điệu múa cũ, để dùng vào những cuộc lễ cung đình. Trong cung nhà vua Lê trong thời đó cũng có tổ chức lối hát Ả Đào. Vào dịp Thánh Đản vua Lê Thần Tông, chúa Trịnh cùng các quan lại trong triều vào chúc mừng, thị yến tại điện Trung Hoà. Có tổ chức những đội nữ nhạc múa trong khi mời rượu. Khi gần bãi yến tiệc, thì múa khúc "Đại Thực"...

Vì có nhiều người đua chen nhau xem cho nên nhà vua truyền lấy những tảng đá lớn cho những ca kỹ đứng lên trên múa hát cho mọi người cùng xem. Từ đó, người ta gọi khúc Đại Thực chuyển thành "Đại Thạch". Tại Hà Nội ngày nay còn giữ nhiều dấu vết của kinh thành Thăng Long xưa là ca vũ điạ.

Những tên phố như Hội Vũ, Chân Cầm, Hàng Đàn, Hàng Trống, Mã Vĩ, Hàng Bài, Hàng Quạt, rồi thì những "Giáo Phường Từ" đã trực tiếp hay gián tiếp nói lên rằng đất Thăng Long là một trung tâm sinh họat ca múa cung đình.

Trong bài thơ "Cầm Giả dẫn" của Tiên Điền Nguyễn Du đã chua xót nhìn lại cảnh đổi thay trong cung đình ngày trước: "Tây Sơn cơ nghiệp đâu rồi, Chỉ còn sót lại một người hát xưa..."

Trong sách "Thanh Hiên Tiền Biên Tập" của thi hào Nguyễn Du có nói đến chuyện các tướng Tây Sơn ra Bắc Hà lần thứ 2: "Quang Trung rất thích những điệu hát trong cung điện vua Lê thời đó, cho nên thường gọi những đào nương vào trong cung để hát Ả Đào". Đây cũng là một trong những hình thức để mở rộng cửa quyền.

Nhà Nguyễn:

Đời nhà Nguyễn, tại kinh thành Huế thì nhiều điệu cung đình được thể hiện phong phú hơn.Từ thời Nguyễn trở đi, việc dời đô từ Thăng Long và Huế dẫn theo sự hình thành một trung tâm sinh hoạt múa cung đình mới. vào những ngày đại lễ trong triều, tại Huế thường có những cuộc trình diễn ca múa cung đình trong Ðại nội cũng như trên sông Hương. Những nghệ nhân nổi tiếng trong ngành ca múa từ những vùng Nam Định, Thanh Hoá, Hà Nội, Bắc Ninh... được đưa vào Huế để tham gia những đội ca múa cung đình.

Năm 1826, đời vua Minh Mạng, nhan lễ Hoàng Thái hậu thọ lục tuần,vua cùng các quan rước Hoàng Thái Hậu lên xem múa "Trình Tường". Điệu múa nầy còn có tên là "múa Liễn", vì mỗi vũ sinh cầm một bức liễn. Bốn câu ghi trên những bức liễn trong dịp lễ nầy như sau đây: “Thiên Tử vạn niên, Vạn thọ vô cương. Quần phương tập khánh; Vạn bảo "Trình tường"

Đây cũng là một hình thức múa bốn người với một cấu trúc đội hình rất cân xứng và gần gủi với hình thức của lối múa "Phương Trận".

Thông thường thì điệu múa nầy kết thúc bằng một hình tượng nhằm tập trung thể hiện nội dung chủ đề, thông qua bốn câu ghi trong liễn như đã trình bày trên. Năm 1840, nhân lễ Ngũ Tuần Đại Khánh của nhà vua, vua ngự tại điện Thái Hoà để mừng lễ. Những người trong hoàng tộc, văn võ bá quan tham dự cũng như các sứ thần thuộc quốc dâng biểu chúc mừngrồi cùng nhau muá "Bát Dật" (được phân chia ra Muá Văn và Múa Võ hai bên).

Đến đời vua Tự Đức (1847 - 1883) trong ngày lễ Vạn Thọ, trên Chính Lâu có múa Bát Dật, trong khi đó tại Phu Văn Lâu thì có múaHoa Đăng và múa Tứ Linh. Dưới đời vua Khải Định múa hát cũng thường tổ chức trong cung bình. Năm 1924, nhân dịp lễ Tứ Tuần Đại Khánh, trong điện Thái Hoà tổ chức mừng lớn, có đưa những ca công nổi tiếng ở những tỉnh miền Bắc vào ca múa. Lúc đó, ba điệu múa được thực hiện là: Múa Hoa Đăng, Múa Trình Tường và Muá Lục Triệt Hoa Mã Đăng.

Tế lễ và ca múa

Trong những ngày đại lễ của những triều vua trước đây, ca múa tổ chức theo những vị trí nhất định. Chẳng hạn như lễ tế Giao, lễ Tịch Điền, lễ tế Văn Miếu, lễ Quốc tế (tế trong nước) trong thời Đinh Tiên Hoàng là thịnh hành nhất; vào đời nhà Lý thì có những cuộc ca muá trong những lễ tắm Phật; vào đời nhà Trần thì tổ chức ca múa trong dịp Nguyên Đán, lễ Phát dẫn đám tang nhà vua; đời Hậu lê, thì tổ chức ca múa nhân lễ sách phong vua Lê Thần Tông, nghi thức đón tiếp các sứ thần ngoại quốc, lễ tấn phong nguyên súy cho Trịnh Tạc đều ca múa luôn mấy ngày đêm; những lễ xướng danh và ban áo mũ cho những tiến sĩ tân khoa đời Hậu Lê bái mạng chúa Trịnh đều có ca múa cung đình.

Ngoài ra, những lễ Tế Kỵ Thái Miếu, lễ Lập Xuân, lễ Tiến Xuân ngưu, lễ Kỳ đạo, lễ giỗ Đống Đa, tết Nguyên Đán đời nhà Nguyễn đều tổ chức ca múa tại nhiều nơi trong kinh đô.về sau thì ca múa chỉ được thực hiện trong một số ngày lễ quan trọng: lễ tế Nam Giao, lễ tế Văn Miếu, lễ Tế Kỵ Thế Miếu, lễ Thánh Thọ, lễ Tiên Thọ, lễ Vạn Thọ, lễ Thiên Xuân, lễ Hưng Quốc Khánh Niệm Tiết và lễ kết hôn các hoàng tử hay công chúa.. .

Những thể điệu:

Múa Bát Dật

Đây là điệu múa lễ thức, dùng để múa trong những dịp tế đàn Nam Giao, tế Cung miếu hay tế tại đàn Xã Tắc hằng năm. Khi trình diễn loại nầy, phải đủ 8 hàng vũ sinh toàn là đồng nam; mỗi hàng có 8 người, tổng cộng là 64 người. Trong khi múa, những vũ sinh được phân chia làm hai ban. Văn vũ sinh và Võ vũ sinh.bên võ thì cầm cờ tinh, tượng trưng cho chiến đấu; còn bên Văn thì cầm cờ mao tượng trưng cho sự điều động.

Mỗi bên được hướng dẫn do một vũ sư. Những võ vũ sinh, tay trái cầm một cái môc sơn son thếp vàng, còn bên tay phải thì cầm cái búa, lưỡi có thếp vàng, cán sơn son. Tất cả vừa múa vừa hát.Còn bên văn vũ sinh, tay trái cầm ống sáo sơn son; tay phải thìcầm cái vũ bằng chuôi chim trĩ, cũng vừa múa và hát. Khi hát,phải theo hai lối: hoặc nối tiếp nhau; hoặc đồng ca bên võ và bênvăn.

Múa lục cúng

Điệu múa nầy cũng tương tự như múa tôn giáo. Vào thời vua Minh Mạng thứ 5 trở đi, thì dùng theo lối "Lục cúng hoa đăng" cũng một dạng thức của múa Phật Giáo. Nhưng trong thể điệu cung đình thì múa Lục Cúng cần đến 48 vũ sinh (tức là gấp 8 lần) bên nam cũng như bên nữ. Những vũ sinh nầy lại được hoá trang về y phục cũng như phấn son theo kiểu Kim Đồng và Ngọc Nữ. Trên nguyên tắc thì đây là loại múa hình tượng; ngoài ra cũng sử dụng đến những kỹ thuật của hát xiếc và tạp kỹ, đòi hỏi luyện tập công phu, như trường hợp chồng người lên ba bốn tầng cao ngất. Những thế múa bằng tay cũng phải hợp theo những thế múa của chân.

Kết cấu của loại múa Lục Cúng trong Cung đình cũng là cách kết cấu theo một bức tranh sinh động toàn cảnh, nhất là đoạn sau cùng của điệu múa, gồm 6 khúc hát liên tục nhau. Những bài hát trong Lục Cúng là: Thanh nhạc, Long Ngâm, Đăng Đằng Cung, Tỳ bà, Bình Bán, Nhã nhạc.

Múa Song quang

Song quang là múa của hai nhân vật điển hình về thần thánh: một bên là Tề Thiên Đại Thánh; còn bên kia là Hộ Pháp. Tề thiên Đại Thánh thường hoá trang theo hình con khỉ, đội mũ kim khôi, mặc áo giáp ba tầng; còn Hộ Pháp thì mặc áo giáp, mũ triều thiên, cầm long đao. Cả hai vị thần nầy đều cùng múa vũ bộ, sau cùng thì đọc lên những câu kệ để trừ khữ những loài yêu quái, theo ý nghĩa chính của điệu múa.

Múa Tam Tinh Chúc Thọ

Điệu múa nầy thường được thể hiện trong những lễ sách Phong: sách phong cung giai, sách phong Hoàng tử, sách lập Hoàng hậu, sách phong công chúa, lễ ngự cung, lễ Vạn thọ đại khánh, lễ Nam giao... Theo ý nghĩa thì Tam Tinh là "ba ngôi sao": Phúc, Lộc, Thọ. Những vai trò múa được xoay theo vòng tròn, chuyển động luân phiên nhau và múa ca. Những động tác múa phải hợp với lời ca vàvai trò thủ diễn.

Múa Bát Tiên

Bát tiên hiến thọ là điệu múa của 8 vị tiên dăng lên những thứ trái cây hay những vị thuốc quý, để chúc cho nhà vua được trường sinh bất lão. Kết cấu cuả thể hát Bát tiên là múa đồng điệu, không phân chia ra từng bè riêng như những điêu múa khác.

Muá Trình Tường Tập Khánh

Điệu muá Trình Tường Tập Khánh là thể điệu theo điển tích "Tứ trụ thiên thần" vâng mệnh trời để chúc thọ cho dân giàu nước mạnh. Bốn vi nầy phân chia ra làm hai: hai vị thần mặt đỏ, râu bạc; trong khi đó hai vị thần kia thì lại mặt trắng râu đen. Tứ trụ thiên thần, tay phải cầm liễn cuộn tròn, múa bộ, rồi mỗi ông dâng câu liễn đang cầm lên, chúc thọ cho nhà vua. Đội hình muá trong thể loại nầy sắp theo hàng ngang, hàng chéo, hình vuông, kết hợp với những đoạn múa liên kết các đội hình. Loại múa nầy cũng theo thể múa đồng điệu với nhau.

Vũ Phiến

Vũ phiến tức là múa quạt. Vũ phiến dùng để múa trong những tiệc cuới, chúc vợ chồng hoà hợp. Những vũ nữ vừa múa vừa hát. Đây là điệu múa đông người nữ (thông thường là 10 người). Những vũ công vừa múa, vừa hát. Mỗi người cầm một chiếc quạt. Khúc hát thường là Phượng Cầu Kỳ Hoàng hay khúc Lộng Ngọc. Điệu múa được thể hiện bằng những về quạt: guộn quạt, xoè quạt, chuyển quạt, tung và chụp quạt, nghiêng lườn hai tay qua đầu với một tay quạt xoè.

Múa Lục Triệt Hoa Mã Đăng

Đây là một trong những điệu múa có đông vũ sinh và khó nhất. Có đén 48 vũ công (thông thường là nam) cưỡi 48 con ngựa đã được huấn luyện kỹ càng. Vũ sinh nai nịt theo hình chữ thập, hai bên vai đeo hai cái đèn giấy vẽ hoa. Những vũ sinh vừa múa, vừa hát. Nhưng về sau, vì dùng ngựa khó khăn trong tập luyện, cho nên dùng ngựa giả; vũ sinh tay cầm đầu ngựa giả, một tay cầm đuôi giả, đi lại chuyển vần theo điệu múa.

Múa Tứ linh

Tứ linh là bốn con vật được xem là linh thiêng: long, lân, quy, phụng. Đây là điệu múa dùng hình tượng những con vật, và khi múa thìkhông có lời hát đi kèm theo.

Múa Nữ Tướng Xuất Quân

Nữ tướng đây là Hai bà Trưng khởi nghĩa. Điệu múa nầy thường gồm có 10 nữ vũ sinh được phân chia ra làm thành hai tốp: Một tốp là Hai bà Trưng; tốp kia là những quân sĩ dưới quyền điều động của Hai bà.

Những động tác múa trong thể điệu nầy thường là: dùng hai tay kiếm, vận dụng theo những động tác xuất trận: chém, đỡ, đâm, gạt, loan kiếm, múa kiếm xoay tròn, cầm kiếp đuổi quân địch... Đôi hình chính theo hàng ngang; vòng cung 4 đội ở 4 góc. Đội chính là hai Bà Trưng thì đứng giữa.

Múa Tam Quốc và Tây Du:

Điệu múa nầy dựa theo lối vũ của Trung Hoa được Việt hoá. Nhân biểu tiêu biểu trong múa là Quan Công và Tề Thiên Đại Thánh. Tất cả diễn viên phải đủ 72 người, phân chia ra làm nam nữ đều nhau. Động tác múa thường theo kiểu kịch câm là phương tiện chủ yếu để diễn đạt.





. Cập nhật theo nguyên bản chuyển từ HoaKỳ ngày 10.01.2014.