Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Piotr Ilitch Tchaïkovski

1840 - 1893


tiếp theo kỳ 2- Cuộc Đời Tchaikovsky


Bối Cảnh Vào Thời Kỳ Tchaikovsky Sống


Nga và Truyện Mùa Đông

Theo ý bạn thì quốc gia nào lớn nhất trên thế giới? Nếu bạn trả lời là "Nga", thì bạn rất có lý ! Lịch sử của Nga là rất đặc biệt. Trên nguyên tắc thì lãnh thổ Nga thuộc về Âu châu, vì vị trí địa lý của Nga ít nhiều bị cô lập với phần còn lại của lục địa nhưng sự phát triển của Nga lại hoàn toàn khác biệt với các nước Âu châu khác.

Bởi vì kích thước lãnh thổ và tài nguyên thiên nhiên phong phú , nên Nga cũng đã khơi dạy , qua nhiều thế kỷ, nhiều thèm muốn của tất cả những kẻ mưu đồ quyết tâm chinh phục toàn bộ Âu châu. Vào thế kỷ thứ XVIII, một ví dụ điển hình, Napoléon đã đưa một đoàn quân vào chinh phục Nga và đã bị đánh bại. Sự thất bại của Napoléon không phải tại vì đối đầu với một đội quân hùng hậu hơn nhưng chỉ vì ... sự khắc nghiệt của khí hậu Nga . Đúng vậy, Người Nga, chỉ cần chờ cho mùa Đông tới là chắc chắn sẽ xua đẩy được đoàn quân xâm lược.

Cũng với kết quả thảm thương này mà đoàn quân của Đức Quốc Xã khi vào xâm lăng Nga đã phải hứng chịu một cuộc tháo chạy thảm hại vì mùa Đông khủng khiếp của Nga.

Nga Hoàng, Các Nữ Hoàng Nga và Các Hoàng Tử Kế Thừa

Cho đến khi Cách mạng tháng Mười xảy ra, vào đầu thế kỷ thứ XX, toàn thể nước Nga nằm dưới quyền sinh sát của gia đình Romanov. Người đứng đầu nhà nước được gọi là tsar - Nga hoàng – Sa hoàng - , vợ ông là Tsarine và con trai cả , người kế ngôi, mang tước hiệu Tsarevich. Gia đình Romanov cư trú tại St-Petersburg, thủ đô chính trị và văn hóa Nga. Một phần lớn dân cư trong thành phố này là những thành viên của giới quý tộc, tuy nhiên tầng lớp trung lưu Nga, theo đúng nghĩa cúa nó, gần như không đáng kể . Những người Nga không thuộc dòng dõi quý tộc phải làm việc quần quật suốt đời như những nông nô hoặc moujiks (nông dân) để phục vụ cho giới quý tộc, trong những điều kiện tương tự như dưới một chế độ nô lệ. Nông nô Nga có rất nhiều và cực kỳ nghèo khổ. Tình trạng nghèo khổ của họ bắt đầu được cải thiện vào năm 1861 khi Nga hoàng ban lệnh giải phóng nông nô (cũng khoảng thời gian này thì chế độ nô lệ được bãi bỏ ở Hoa Kỳ).

Ngọn Gió Của Sự Đổi Mới Thổi Qua Nga

Vào thế kỷ XIX, thời điểm mà Tchaikovsky chào đời, cơn gió của sự thay đổi đang quyét cực mạnh qua phần còn lại của châu Âu và người ta cũng bắt đầu cảm nhận được ở Nga.

Lằn ranh giới phân cấp hệ thống xã hội đã được thành lập trước đây giữa các nhóm giầu và nghèo bắt đầu nứt rạn với những khích động ngày càng lớn mạnh trong quần chúng. Sự bất mãn đã kéo dài gần một thế kỷ qua. Năm 1825, các thành viên của một nhóm nổi loạn, Decembrists (Декабристы), bị xử tử hoặc bị đầy đi Tây Bá Lợi Á vì những hoạt động muốn lật đổ Nga hoàng Nicolas Ier và gần 92 năm sau, năm 1917, qua Cuộc Cách Mạng Tháng Mười đã thực sự đảo lộn hoàn toàn cơ cấu xã hội Nga. Tất cả thành viên gia đình Romanov bị xử bắn và bị quẳng xác vào một nơi chôn cất tập thể (thời gian mới gần đây họ đã được chôn cất lại một cách nghiêm chỉnh hơn)

Đổ Dồn Về Thổ Nhĩ Kỳ

Giai đoạn trung gian được đánh dấu bởi nhiều cuộc đụng độ. Năm 1866, một âm mưu ám sát Nga hoàng Alexander II bị thất bại , tình trạng bất ổn xã hội càng lúc càng tăng cao . Vài năm sau đó chiến tranh bùng nổ giữa Serbie và Thổ Nhĩ Kỳ . Nga hoàng ủng hộ Serbie vì lý do giản dị : Trong cuộc tranh chấp trước đây với Thổ Nhĩ Kỳ, nước Nga đã thất bại khi tìm cách thôn tính một phần đất của Thổ để thiết lập một hải cảng mở ra Địa trung hải. Khi đứng về phiá Serbie, Nga hoàng hy vọng sẽ được dịp thực hiện tham vọng vừa nói ở trên.
Một sai lầm trầm trọng : Serbie bị thua trận , sự kiện này đã bắt buộc Nga phải tuyên chiến với Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1877. Cuộc chiến đã chỉ làm cho những rối loạn xã hội nội bộ nước Nga trầm trọng thêm qua những cuộc khủng bố, nhằm mục đích xúi dục nông dân nổi loạn, xảy ra thường xuyên vào năm 1878. Nhiều công chức cao cấp bị ám sát sự việc này đã tạo nên sự tê liệt trong guồng máy của nhà nước. Nga hoàng Alexandre II với hy vọng xoa dịu đã tung ra một loạt biện pháp cải tiến xã hội trong đó có những cải tổ hệ thống tư pháp , các trường đại học và giảm bớt kiểm duyệt.

Và Những Tin Xấu Khác Nữa ...

Năm 1881, Sa hoàng Alexander II bị giết trong một vụ nổ bom.
Tsarevich, con trai ông, nối nghiệp với tước danh Alexander III. Tuy nhiên tới lúc này gia đình Romanov vẫn kiên quyết không chấp nhận những ý tưởng mới từ châu Âu tới hoặc những luồng tư tưởng của cộng đồng những người làm nghệ thuật văn hoá nghệ thuật hay giới trí thức Nga đang phát triển cực mạnh. Vì quá xa rời và không chịu hiểu nguyện vọng của quần chúng nên sau đó, con trai của Alexander III hoàng tử kế nghiệp là Nicolas II, sinh năm 1868, lên ngôi năm 1894 , bị sát hại cùng với gia đình ngày 17 tháng bảy năm 1918 tại Yekaterinburg, đã trở thành vị sa hoàng cuối cùng của nước Nga.

Khúc Trung Gian Âm Nhạc

Tchaïkovski đã sống trong bối cảnh lịch sử , xã hội này . Tư tưởng cũng như âm nhạc của ông chắc chắn bị ảnh hưởng bởi những dữ kiện xảy ra quanh ông cho dù không bao giờ Tchaïkovski bày tỏ một sự quan tâm nào tới chính trị.
Nước Nga luôn luôn tỏ ra hồ nghi đối với phần còn lại của Âu châu, và sự đe dọa đè nặng trên phương thức tổ chức xã hội Nga đã bắt buộc giới cầm quyền phải quan sát, nghiên cứu tất cả mọi ảnh hưởng bắt nguồn từ Tây Âu bằng một thái độ “ngờ vực quyết liệt“. Thái độ này phản ánh ở nhiều mức độ khác nhau bộc lộ ngay trong toàn bộ sản phẩm của những nhà soạn nhạc và văn thi sĩ Nga.
Người ta cũng vô cùng thú vị ghi nhận tính khí lạc hậu của Tchaïkovski khi ông phô bầy, về nhiều mặt : hình ảnh về nước Nga của ông, sự trung thành với Sa hoàng, tất cả được tiếp tục trong một cái quá khứ đang hấp hối mà chính Tchaïkovski đã bám níu suốt cuộc đời ông .

Tuy nhiên về lãnh vực âm nhạc, thành công lớn nhất của Tchaïkovski là tự tạo cho ông một vị trí là người soạn nhạc đầu tiên toàn thời gian và chuyên nghiệp trong lịch sử âm nhạc Nga và là người duy nhất trong thời kỳ của ông không một chút e ngại về ảnh hưởng phương Tây trong sáng tác của ông và cũng không ngần ngại miễn cưỡng khi công khai giới thiệu sáng tác của mình với giới yêu chuộng âm nhạc tại Âu châu hay Hoa Kỳ.
Tchaïkovski biết kết hợp sự nhạy cảm sâu sắc Nga với kiến thức văn hoá phương Tây để tạo ra tác phẩm của mình, những tác phẩm vô cùng khác biệt với những nhà soạn nhạc Nga sống cùng thời với Tchaïkovski.


Nhạc của Tchaikovsky


Vào thời kỳ Tchaikovsky chào đời năm 1840, nước Nga chưa thực sự có cái gọi là truyền thống âm nhạc , ngoài các bài hát dân gian của nông dân và hát hợp xướng trong những buổi cử hành nghi thức tôn giáo .

Âm nhạc được xem là một phương tiện dành cho các cô tiểu thơ của những gia đình trưởng giả trong xã hội Nga. Người ta không coi âm nhạc như một nghề nghiệp để có thể theo đuổi nó; phần khác nữa; trên toàn thể lãnh thổ Nga không có đưọc một cơ sở chuyên nghiệp để dạy về âm nhạc.

Trong thời kỳ làm lễ khánh thành Âm nhạc viện Saint-Pétersbourg, dưới quyền điều khiển của nhạc sĩ Anton Rubinstein thì chính vị nhạc sĩ này đã ghi trong sổ đăng ký hộ tịch nghề nghiệp của ông là thương gia , ghi giống như nghề nghiệp của thân phụ ông ta, mà không ghi là nhạc sĩ . Cũng giống như thế : nhà soạn nhạc Glinka là một địa chủ, Borodin là giáo sư hoá học, Balarikev là nhà toán học, Rimsky-Korsakov, là sĩ quan hải quân và Mussorgsky là công chức : không một người nào ghi nghề nghiệp mình là nhạc sĩ !.

Tuy nhiên, chỉ 73 năm sau, vào năm 1913, The Rite of Spring của Stravinsky đã đặt Nga ở vị trí vĩnh viễn và tiền phong trong âm nhạc phương Tây của thế kỷ XX. Nhưng chính Piotr Ilitch Tchaïkovski lại là một cây cầu nối tiếp giữa hai thời đại. Trớ trêu thay, âm nhạc của Tchaïkovski mặc dù có nhiều vay mượn trong truyền thống phương Tây, lại luôn luôn hiện hữu một bản chất rất Nga. Chính Stravinsky đã phải lên tiếng nhìn nhận Tchaïkovski như là “một người Nga lớn nhất trong tất cả những người Nga chúng ta “.

Nhịp độ sáng tác của Tchaïkovski rất phong phú. Ông lại hoàn toàn nắm vững tất cả các thể loại âm nhạc: viết opéra, ballet, sáng tác dành cho dàn hoà nhạc, nhạc thính phòng, nhạc bản dành cho dương cầm và những bản hát .
Tchaïkovski thích đọc sách; rất nhiều tác phẩm của ông, đặc biệt các vở ballet và opéra, bắt cảm hứng từ những tác phẩm văn chương cổ điển. Thường thì chính em ông, Modeste, đã giới thiệu với ông anh mình những tác phẩm nguồn gốc những tác phẩm của Tchaïkovski. Một tính khí rụt rè gần như bệnh hoạn đối với nữ phái nhưng không vì vậy mà Tchaïkovski ghét bỏ những nhân vật phái yếu. Ông quan tâm đặc biệt tới những người nữ bị chèn ép, khổ đau vì số mệnh như người ta đã thấy qua các tác phẩm của Tchaïkovski như Roméo và Juliette, Francesca da Rimini, Le Lac des cygnes, La Pucelle d’Orléans (chuyện về Jeanne d’Arc luôn quyến rũ ông) và La Dame de pique. Tchaïkovski chuyển đổi qua âm nhạc như Hamlet và La Tempête của Shakespeare, những câu chuyện dân gian Nga , 3 tác phẩm của Pouchkine, thơ của Lord Byron và những khúc chọn lọc của Dante.

Giao Hưởng Thứ Tư

Sau khi kết thúc cuộc hôn nhân tai hại của mình với Antonina Milyukova, cuối cùng thì Tchaikovsky đã có thể hoàn thiện, năm 1878, hai trong các công trình đẹp nhất của ông , vở opera Eugene Onegin và bản 4è Symphony. Trong một bức thư gởi người nữ ân nhân của ông, , bà von Meck, Tchaïkovski giải thích rằng chủ đề của bản giao hưởng thứ Tư này chính là định mệnh. Chủ đề đó được nhắc lại trong toàn bộ nhạc phẩm. Chương thứ nhất (1er Mouvement) xây dựng trên một đường nét do dự và sầu muộn gợi lên một giai điệu waltz ; chương thứ hai, khá trữ tình, làm người ta liên tưởng tới một khúc trung gian (intermezzo); chương thứ ba làm tăng giá trị kỹ thuật gảy dây những chiếc đàn kéo của dàn nhạc, trong khi đó chương kết thúc, lôi cuốn và lâm ly, trộn lẫn một điệu dân gian. Phối hợp các chủ đề dân giả trong nhạc của ông là điều không thể phủ nhận được và cũng chính nét đặc biệt này đã làm cho Tchaïkovski trở nên lừng danh.

Piano Concerto Số 1

Tchaikovsky không phải là một nhạc sĩ dương cầm kỳ tài ; ông đã phải hỏi ý kiến Nicolai Rubinstein, giám đốc Nhạc viện Moscow, nơi nhà soạn nhạc của chúng ta làm việc vào năm 1873 để viết bản piano đầu tiên của mình. Nhưng lần thứ nhất khi Rubinstein nghe bản nhạc này, Rubinstein không thích nên đã cho rằng bản nhạc "không quân bình" và vô cùng khó khăn khi trình tấu . Tức giận vì nhận xét của Rubinstein , người mà ban đầu Tchaïkovski đã có ý định “đề tặng“ tác phẩm này nên Tchaïkovski đã thay đổi mà đề tặng cho Hans von Bülow , một nhạc sĩ dương cầm nhạc trưởng người Đức và cũng chính người nhạc sĩ dương cầm này đã trình diễn Pianon concerto N°1 của Tchaïkovski lần đầu tiên trước công chúng tại Boston vào ngày 13 tháng 10 năm 1875 với sự điều khiển của nhạc trưởng Benjamin Johnson Lang. Nhạc bản đã được giởi yêu chuộng âm nhạc đón tiếp một cách nồng nhiệt để tiếp tục cho tới ngày nay là một trong những sáng tác nổi tiếng được hâm mộ nhất trong toàn bộ tác phẩm của Tchaïkovski.

Hồ Thiên Nga - Swan Lake

Buổi ra mắt của Swan Lake vào năm 1877 là một sự thất bại với những diễn viên vũ đáng phàn nàn , sản phẩm nói chung đã bị thực hiện một cách qúa tầm thường.
Chỉ sau khi Tchaïkovski qua đời, vở ballet Swan Lake – Hồ Thiên Nga - mới được người ta biết tới cho tới ngày nay.
Âm nhạc trong ballet Swan Lake rất đẹp, một vẻ đẹp đến mê hoặc .

Romeo và Juliet

Chính Balarikev, một trong những người đương thời , bạn của Tchaikovsky, đã gợi ý và thách thức nhà soạn nhạc phổ nhạc tác phẩm Roméo và Juliette của Shakespeare.
Tchaïkovski thực hiện thách thức này vào năm 1869; sau nhiều tu chỉnh lại. Chủ đề qúa thích hợp với Tchaïkovski. Chuyển điệu bi kịch thành một thảm kịch âm nhạc trừu tượng, trước hết Tchaïkovski muốn diễn tả định mệnh của những tình nhân bằng cách làm cho người nghe hiểu được sự chiến thắng tinh thần của những cặp tình nhân đó . Đó là một phiên bản « có chương trình « , một nội dung được tường thuật lại.
Tchaïkovski xây dựng nhạc phẩm bằng những khối nhạc mà mỗi chủ đề được trưng bầy tương ứng với một trong những nhân vật của thảm trạng. Cuối cùng để nhận định ra rằng cuộc tranh chấp gia đình là nguồn gốc của số phận thê thảm của những người trẻ yêu nhau, Tchaïkovski ghi khắc lại điệu nhạc một chuyển động tới, lui giữa các bộ phận của dàn nhạc tạo nên sự đối đầu và tranh chấp. Nhân vật thầy dòng Laurence được đại diện bởi một bài hát tôn giáo , và một đám tang En Si mineur là hành động cuối cùng của nhạc khúc.

Suite Nutcracker

The Nutcracker đã không thể tách rời ngày lễ Giáng sinh và văn hóa dân gian kết hợp với các món đồ chơi. Nhạc phẩm được Tchaïkovski cải biên từ câu chuyện của Hoffman, Nutcracker và ông vua chuột.

Ban đầu, Tchaikovsky hầu như không thích thú lắm với việc đặt mua hàng này nhưng sau đó theo sự tiến triển của công việc càng lúc Tchaïkovski càng quan tâm hơn . Vào năm 1891 nhân chuyển đi Paris ông đã phát hiện ra một nhạc cụ mới gọi là « célesta » được Victor Mustel phát minh ra. Đó là một nhạc cụ nằm giữa dương cầm và cây đàn chuông. Ngay tức khác, Tchaïkovski có ý tưởng đưa nhạc cụ này vào vở ballet ông đang sáng tác và người ta có thể nghe được tiếng đàn célestra trong phần Dance Sugar Plum Fairy. Trong đêm trình diễn đầu tiên vào năm 1892 công chúng đã nồng nhiệt đón nhận tác phẩm tới độ dàn nhạc phải trình bầy lại ít nhất là năm hoặc sáu chương nhạc .

Các biến thể trên một chủ đề Rococo Theme cho violoncelle và dàn nhạc

Tchaikovsky viết tác phẩm này vào năm 1876 để tỏ lòng cảm phục vị "thần âm nhạc " của ông : nhạc sĩ Mozart. Phần violoncelle rất cần phải được chúng ta chú tâm lắng nghe!

Overture 1812

Ouverture 1812 là một trong những tác phẩm phổ biến nhất của Tchaikovsky. Sáng tác vào năm 1880 nhân dịp lễ kỷ niệm chiến thắng Sa hoàng Nga với Napoléon. Nhà soạn nhạc không hẳn hài lòng với sáng tác của mình ; ông cho rằng “qúa ồn ào “ và “ thiếu giá trị nghệ thuật “ vì khi sáng tác ông không cảm thấy có nhiều hứng thú. Tchaïkovski đưa vào đó những tiếng chuông nhà thờ và những tiếng súng canon bắn để gợi lại một lễ hội lớn. Ngoài ra Tchaïkovski cũng đem vào một vài điệu nhạc của bản quốc ca Pháp, Le Marseillaise. Ouverture 1812 thường được xử dụng để kết thúc các buổi hoà nhạc.


Tchaïkovski sống vào một thời kỳ mà hoạt động âm nhạc đặc biệt phát triển cực kỳ mạnh mẽ khắp châu Âu. Trong suốt con đường nghề nghiệp của ông , ông đã quen biết rất nhiều nhạc sĩ. Trong nhật ký ông đã viết những ý nghĩ của ông về những nhạc sĩ khác, sống hay đã qua đời. Tchaïkovski thú nhận rằng ông « kính trọng vô điều kiện » nhạc sĩ Beethoven, cho dù ông « không thể yêu thích người nhạc sĩ này » . Tchaïkovski lại không chút nhạy cảm gì với thiên tài của Bach . Ông đánh giá Haendel là một nhạc sĩ ở « mức độ thấp... tầm thường » . Tchaïkovski thích Gluck một cách vừa phải vì « thiếu sáng tạo », và đánh giá một cách thú vị một số tác phẩm của Haydn.

Tuy nhiên Tchaïkovski lại khó có thể có được một quan điểm chính xác về nhạc sĩ Brahms, ông chỉ viết những dòng khích động về âm nhạc của người nhạc sĩ này, trong đó Tchaïkovski gọi là “ vừa ý một cách tầm thường “ và bực mình vì Brahms “ được nhìn nhận như một thiên tài ...[ với một tác phẩm ] hỗn độn, khô khan và không nghĩa lý “. Tchaïkovski tuyên bố, sau buổi biểu diễn bản Première Symphonie của Brahms : «  Tôi thấy … [Brahms] lạnh lùng và mờ ám – tự phụ, nhưng không thực sự có chiều sâu “.

Năm 1887, Tchaïkovski là một người khách được mời của Adolf Brodsky tại Leipzig (Đức), trong số những vị khách mời có nhiều nhạc sĩ khác mà ông rất thích giao du . Chính trong dịp này Tchaïkovski đã gặp một … Johannes Brahms, để rồi sau đó Tchaïkovski đã mô tả như «  một người đàn ông dễ chịu, khá vạm vỡ … với một chiếc đầu đẹp, gần giống một người lớn tuổi, có dáng điệu một vị thầy tu người Nga già , khoan dung nhã nhặn ».

Cũng trong dịp tới Leipzig này mà Tchaïkovski làm quen với Edvard Grieg mà về sau ông rất ngưỡng mộ ; Tchaïkovski cho là nhân cách người nhạc sĩ Na Uy này rất tương xứng với nhạc của ông ta, « nồng nhiệt và nhạy cảm  ». Dame EthelSmyth, của Anh quốc, cũng hiện diện trong số những người khách của Brodsky, Tchaïkovski viết về nữ nhạc sĩ này «  không đẹp, nhưng có khuôn mặt truyền cảm và thông minh ».

Năm 1877, Tchaïkovski tham dự buổi trình diễn La Walkyrie của Wagner mà ông không thấy lý thú một chút nào. Ngược lại, Tchaïkovski rất thích những nhạc sĩ người Pháp. Modeste, em trai Tchaïkovsky thuật lại một giai thoại khác thường xảy ra vào năm 1875 nhân chuyến viếng thăm Moscow của nhạc sĩ Camille Saint-Saëns. Tchaïkovski nhận xét nhiều lần rằng Saint-Saëns hóm hỉnh , quyến rũ và khám phá ra rằng hai người cùng có chung một tham vọng kín đáo : trở thành nghệ sĩ nhảy múa ballet ! . Thế rồi, cả hai cùng viết chung một vở ballet nho nhỏ, Pygmalion và Galatée, rồi cùng trình diễn trên sân khấu của Âm nhạc viện. Màn trình diễn thật không thiếu nét hứng thú vì Saint-Saëns , bốn mươi tuổi, trong vai Galatée bên cạnh Tchaïkovski, ba mươi hai tuổi, vai Pyhmalion và Nicolaï Rubinsterin điều khiển dàn nhạc. Một điều vô cùng đáng tiếc là buổi trình diễn đặc biệt này lại ... không có được một khán giả nào !

Tchaïkovski cũng lúc thì được ưa thích, khi thì bị chỉ trích bởi những người đồng nghiệp ở thời kỳ đó. Nhạc sĩ dương cầm người Đức Hans von Bülow trình diễn tại Festival Wiesbaden, năm 1879, một độc bản của Concerto pour Piano N°1 của Tchaïkovski và đã tiếp nhận được một thành công rục rỡ. Cũng trong chương trình có Les Variations sur un thème rococo của Tchaïkovski . Trong phòng , nhạc sĩ Franz Liszt đã thở dài : « Âm nhạc như thế đấy !»

Năm 1888, Tchaïkovski thực hiện một buổi hoà nhạc ở Prague thủ đô nước Cộng hoà Tchèque. Nhân dịp này nhạc sĩ , tác giả người Tchèque Antón Dvorák đã đề tặng cho Tchaïkovski một bản Deuxième Symphonie của ông với giòng chữ « Gởi tặng Piotr Tchaïkovski , để nhớ tới Prague : Antón Dvorák, 18 tháng 2 năm 1888  ».

Vào một dịp trong số những buổi trình diễn tại vùng tây Âu châu, Tchaïkovski điều khiển dàn nhạc cho vở opéra Eugène Onéguine tại Hambourg (Đức). Kinh nghiệm điều khiển này làm cho chính Tchaïkovski phải thất vọng. Các ca sĩ và dàn nhạc đã được chuẩn bị thật chu đáo nhưng phần chuyển dịch từ Nga qua Đức ngữ đã làm thay đổi một phần bản dàn bè và đã làm cho Tchaïkovski hoàn toàn bị lúng túng. Bực mình, Tchaïkovski giao lại chiếc đũa chỉ huy dàn nhạc cho người điều khiển dàn nhạc của thành phố này. Sau đó, Tchaïkovski đã tuyên bố : Người chỉ huy dàn nhạc này không phải chỉ có khả năng, mà phải thẳng thắn nhìn nhận rằng đó là một thiên tài ». Người chỉ huy dàn nhạc đó chính là Gustav Mahler.

Vào tháng 5 năm 1893, vài tháng trước khi qua đời, Tchaïkovski , rất có thể, đã hưởng được một đặc quyền : vén bức màn đang đắp che tương lai âm nhạc Nga khi ông tham dự tại nhà hát Bolchoï buổi trình diễn đầu tiên một vở opéra nhan đề là Aleko. Người soạn vở opéra này chỉ là một cậu sinh viên mới có 19 tuổi … chính đấy là người về sau đã kế tục sự nghiệp của Tchaïkovski một cách thật vô cùng xứng đáng : Serge Rachmaninov .

KẾT

Những hàng chữ cuối cùng kết thúc bài viết này chúng tôi xin được trang trọng dành cho chính nhà soạn nhạc vĩ đại Tchaïkovski nói :

Tôi đã cao tuổi nhưng không bao giờ dựa vào một điều gì qúa tích cực, không tìm cách vỗ về sự sôi sục trong tâm hồn tôi bằng cách phải tựa vào triết lý hay tôn giáo. Chắc chắn là tôi đã trở thành một người điên nếu không có âm nhạc. Tôi bảo đảm rằng đấy là một món quà tuyệt vời nhất mà thượng đế đã ban cho nhân loại đang lạc loài trong đêm tối mịt mờ. Âm nhạc xoa dịu và soi sáng tâm hồn chúng ta. Âm nhạc không phải là một cành cây mà một người đang chết đuối bám víu mà âm nhạc là một người bạn thực sự, một nơi nương náu và một nguồn an ủi làm cho cuộc sống được trở nên xứng đáng để sống. Rất có thể ở bên kia thế giới không có âm nhạc. Nếu qủa thực là vậy, ngay bây giờ, hãy cống hiến cho âm nhạc thời gian mà chúng ta còn đang được sống .


DANH SÁCH TÁC PHẨM CHÍNH CỦA TCHAÏKOVSKI


Thứ Tự Tên (Năm sáng Tác) Thứ Tự Tên (Năm sáng Tác)
1 Scherzo à la russe (1867) and Impromptu (1863/64) 42 Souvenir d'un lieu cher (1878)
2 Souvenir de Hapsal (1867) 43 Suite No. 1 (1878–79)
3 The Voyevoda—opera (1867–68) 44 Piano Concerto No. 2 (1879–80)
4 Valse-Caprice (1868) 45 Italian Capriccio (1880)
5 Romance (1869) 46 Six Duets (1880)
6 Six Romances (1869) 47 Seven Romances (1880)
7 Valse-Scherzo (1870) 48 Serenade for String Orchestra (1880)
8 Capriccio (1870) 49 The Year 1812 (1880)
9 Three Pieces (1870) 50 Piano Trio (1881–82)
10 Two Pieces (1871–72) 51 Six Pieces (1882)
11 String Quartet No. 1 (1871) 52 All-Night Vigil (1881–82)
12 The Snow Maiden (1873) 53 Suite No. 2 (1883)
13 Symphony No. 1 (1866-68) 54 Sixteen Songs for Children (1881–83)
14 Vakula the Smith (1874) 55 Suite No. 3 (1884)
15 Festival Overture on the Danish National Anthem (1866) 56 Concert Fantasia (1884)
16 Six Romances (1872–73) 57 Six Romances (1884)
17 Symphony No. 2 (1872) 58 Manfred (1885)
18 The Tempest (1873) 59 Dumka (1886)
19 Six Pieces (1873) 60 Twelve Romances (1886)
20 Swan Lake (1875–76) 61 Suite No. 4 (1887)
21 Six Pieces on a Single Theme (1873) 62 Pezzo capriccioso (1887)
22 String Quartet No. 2 (1874) 63 Six Romances (1887)
23 Piano Concerto No. 1 (1874–75) 64 Symphony No. 5 (1888)
24 Yevgeny Onegin (1877–78) 65 Six French Songs (1888)
25 Six Romances (1875) 66 The Sleeping Beauty (1888–89)
26 Sérénade mélancolique (1875) 67 Hamlet—overture-fantasia (1888)
27 Six Romances and Songs (1875) 67a Hamlet—incidental music (1891)
28 Six Romances (1875) 68 The Queen of Spades (1890)
29 Symphony No. 3 (1875) 69 Iolanta (1891)
30 String Quartet No. 3 (1876) 70 Souvenir de Florence (1890)
31 Slavonic March (1876) 71 The Nutcracker—ballet (1891–92)
32 Francesca da Rimini (1876) 71a The Nutcracker—suite (1892)
33 Variations on a Rococo Theme (1876–77) 72 Eighteen Pieces (1893)
34 Valse-Scherzo (1877) 73 Six Romances (1893)
35 Violin Concerto (1878) 74 Symphony No. 6 (1893)
36 Symphony No. 4 (1877) Di Cảo
37 Grand Sonata (1878) 75 Piano Concerto No. 3 (1893)
37a The Seasons (1876) 76 The Storm (1864)
38 Six Romances (1878) 77 Fatum (1868)
39 Children's Album (1878) 78 The Voyeovda—symphonic ballad (1890–91)
40 Twelve Pieces (1878) 79 Andante and Finale (1893)
41 Liturgy of Saint John Chrysostom (1878) 80 Piano Sonata in C-sharp minor (1865)


La Sérénité - Troyes từ ngày 22.11.2013 - 21.12.2013 – 11 giờ 49 phút.

@ Cập nhật theo nguyên bản của tác giả ngày 30.12.2013.

. Chỉ đăng tải duy nhất trên Việt Văn Mới Newvietart

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn