Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




NHỮNG THIÊN TÀI ÂM NHẠC




Johann Sebastian Bach (1678-1750)
Johann Sebastian Bach sinh ngày 21 tháng 3 năm 1678 trong một gia đình âm nhạc tại thành phố Eisenach, Weimar, Ðức Quốc. Năm lên 7 tuổi, Bach vào học ở một trường La Tinh. Những lúc đó, cha mẹ ông tiếp nhau qua đời, cho nên phải đến ở nhà người anh là Ohrdruf.
Ở đây với thành tích ca hát giỏi cho nên được vào học tại một trường địa phương. Ðể có hoc phí đóng tiền trường, Bach làm nghề thủ công và đi hát dạo trong những giờ nghỉ. Trong thời gian nầy, ông lén người anh, lấy từ trong tủ sách ra một bản chép tay những bài nhạc của một bậc thầy lớn tại Ðức thời đó là Froberger. Ông lén chép trong lúc trăng sáng, trong suốt tháng trời mới xong. Chính việc làm nầy đã khiến cho thị giác của ông yếu dần. Về sau ông bị mù hẳn.
Khi lên 15 tuổi, khi người con thứ 5 của người anh sinh ra, cuộc sống khó khăn, cho nên Bach phải ra đi, sống với thân côi cút. Bach chuyển đến học tại một trung tâm âm nhạc thuộc tôn giáo ở miền Bắc nước Ðức của nhà thờ Thánh Michael Skirche. Nhờ có tài ca hát cho nên Bach được giữ nhiệm vụ trưởng đội hợp xướng tại trường nầy. Ðội nầy thường phải tổ chức đi hát ở những nhà giàu có để kiếm tiền cho nhà thờ.
Những biến cố liên tiếp đã khiến cho Bach luôn luôn kiên cường trong thời niên thiếu và trở thành con người có tính độc lập. Trong thời gian nầy, nhà soạn nhạc Georg Bohm đã giúp đỡ Bach rất nhiều. Nhà soạn nhạc nầy rấy yêu mến Bach đã giới thiệu cậu bé tới người thầy của mình là Johann Adam Reinken để học đàn phong cầm.
Nhưng Bach vẫn chưa hài lòng về việc trau dồi âm nhạc. Ðể có thể vào được cung đình để nghiên cứu âm nhạc của Pháp, Bach buộc phải gia nhập đội nhạc tại đó với cương vị là một nhạc sư sơ tập.
Nhờ vậy, Bach có cơ hội để tiếp xúc với Jean Baptiste Lully là một nhạc sư giỏi để học về cách soạn nhạc cho đàn giây và violon. Với lòng nhiệt thành và say mê, Bach đã hấp thu thành tựu nghệ thuật của phái âm nhạc ở Âu Châu thời bấy giờ và từ đó ông tự vươn theo một đường riêng biệt.
Năm 18 tuổi, vì để mưu sống, Bach chưa tốt nghiệp xong bậc Trung Học, đã phải đi tìm việc để mưu sinh. Giáo hội Armstadt bằng lòng bỏ một số tiền để mời Bach về giữ chức vụ thầy dạy đàn phong cầm. Khi nhận lãnh công việc nầy, Bach đã bộc lộ cá tính của mình một cách rõ rệt: ông thường cho thấy một sức sống và sự sáng tạo nhiệt tình của mình qua những buổi diễn tấu phong cầm ở giáo đường.
Ông cũng đã sáng tác một bản đại hợp xướng cho ngày lễ Phục sinh, nhan đề “Ngài đừng bỏ rơi linh hồn của chúng trong trong địa ngục”. Trong bài hợp xướng nầy, ông đã đưa vào âm nhạc tôn giáo một kịch tính hiếm có.
Ngoài ra, với tư cách là một nhà soạn nhạc tôn giáo được nhà thờ mời, Bach thường vào cung đình để sáng tác những loại nhạc thế tục. Bản nhạc nổi tiếng của ông trong thời nầy có nhan đề “Cảm nghĩ khi anh em chia tay” cho đến nay vẫn còn lưu truyền. Nhạc phẩm nầy có chất trữ tình đặc biệt.
Từ những bản nhạc đầu tay nầy đã cho thấy Bach là người giỏi thể hiện đời sống và những tình cảm của những con người bình thường trong âm nhạc. Trong những lúc diễn tấu, ông thường đưa vào âm nhạc những âm hưởng kỳ lạ.
Ðiều nầy đã khiến cho một số người quen lối nhạc giáo đường không chấp nhận. Họ lên tiếng bài xích, để loại Bach ra.
Lại có chuyện không may cho ông, khi ông dẫn một phụ nữ vào nhà thờ tham gia đội hát, khi chưa được phép của Giáo hội địa phương. (Người phụ nữ nầy có tên là Maria Barbara, sau nầy là vợ của Bach).
Bach bỏ ra đi, và lội dung trong thời giờ nhàn rỗi nầy để đến Lubeck để nghe Dietrich Buxtehude, một danh cầm số một trong nước trình diễn phong cầm. Ðể nghiên cứu sáng tác và kỹ thuật diễn tấu, Bach đã lưu lại tại đây trong suốt mấy tháng trời để nghiên cứu. Do bị giáo hội khiển trách, cho nên Bach xin từ chức.
Sau đó, ông đến Muhlhausen, giữ vai trò dạy phong cầm cho nhà thờ Blausiuskirche. Ông sống tại đây trong vòng một năm với những vui thích của mình, nhất là làm lễ thành hôn với cô Maria Barbara. Hai vợ chồng nầy đã sinh được 7 người con; người con lớn và người con thứ sau nầy đều trở thành những nhà âm nhạc xuất sắc. Cuộc hợp tác với đội nhạc giáo đường cũng không lâu dài vì ông cảm thấy đã bỏ phí nhiều thì giờ vốn cần thiết cho nghiên cứu và sáng tác tự do của mình.
Tháng 7 năm 1708, Bach đến Weimar và tại đây, ông trở thành một nhà diễn tấu phong cầm bằng ống đồng có tên tuổi lừng lẫy và cũng thành nhạc sư phong cầm phát âm bằng ống đồng trong nhà thờ cung đình. Ðời sống tương đối sung túc hơn trước, nhưng về sau, vì muốn phát triển nghệ thuật của bản thân, ông lại xin từ chức. Ðơn của ông đệ trình nhiều lần nhưng không được chấp nhận; sau cùng ông đành bỏ trốn đi.
Ông lại bị bắt giam hơn một tháng, nhưng công tước Weimar cũng đành chấp nhận cho ông từ chức.
Trong bất cứ trường hợp nào, giáo đường cũng như cung đình, Bach luôn luôn bảo vệ và phát triển cá tính trong sáng tác và bảo vệ lòng tự trọng của mình. Có nhiều nhạc phẩm của ông sáng tác trong thời kỳ nầy, mặc dù phổ biến rộng rãi trong các giáo đường, tuy nhiên tất cả các tác phẩm đó đều được sáng tác với cảm xúc và suy tư của bản thân mình, cũng như sáng tác cho toàn thể nhân loại.
Ðối với một bậc thầy lớn về các mặt nghệ thuật, thì bất luận là sống ở đâu, Thượng đế của nghệ thuật vẫn luôn luôn là của mình”, Bach thường hay tự nhủ bản thân mình như vậy, trong suốt đời sáng tác.
Cả một cuộc đời của ông, mặc dù phần lớn thời gian phục vụ ở các giáo đường, nhưng thiên tài của ông bắt rễ từ dân gian, từ phong tục của từng lớp bình dân, và nó luôn luôn thở chung một hơi thở với nhân dân trong thời đại đó.
Trong những “nhạc khúc tôn giáo lớn” của ông như “Tiểu Khúc Mi-Sa” (Misa in B Monor) và “Bản Thánh Ca John thụ nạn”, ông vẫn dựa vào “tư tưởng và tinh thần thoáng rộng của mình”.
Nhằm đối phó với công việc bận rộn ở nhà thờ, ông thường xuyên đem thể loại nhạc Cantata nhờ các bạn của mình viết lời ca thế tục rồi sửa nó thành loại nhạc Cantata tôn giáo (Sacred Cantata). Ông mạnh dạn hát to những bài Cantata tôn giáo đó: “Hỡi những thú vui trụy lạc! Tôi không muốn tìm từ ngươi cái gì cả!”. Theo cách lảm nầy, trong một số bài hát khác của ông, Bach đã dùng một thủ pháp miêu tả cảnh vui thế tục để miêu tả Thượng Ðế. Theo ông, dù trong môi trường nào, vẫn có thể diễn đạt tư duy của cá nhân mình.
Bà Maria Barbara qua đời năm 1719, là nỗi đau thương ray rức mãi cho ông trong thời gian dài. Về sau, ông lại kết hôn với Anna Magdalena, một ca sĩ có giọng nữ cao. Họ có thêm 13 người con nữa. Ông muốn xa rời những kỷ niệm đau thương cũ.
Sau đó ông lại ra đi. Sau khi rời Weimar, Bahc lại đến cung đình Kothen làm việc liên tục 6 năm, để rồi tới năm 1723 (38 tuổi) lại đến Leipzig. Tại đó, ông từng làm nhạc trưởng, làm nhà soạn nhạc của cung đình cho tới khi qua đời, trước sau kéo dài 27 năm.
Vào năm 54 tuổi, Bach đã có một sự lựa chọn quan trọng: ông từ bỏ mọi chức tước công khai, chỉ còn giữ lại chức vụ tại trường Thomas Kirche; với chức vụ nầy, ông trao hết công việc cho người phụ tá, riêng mình thì dồn hết thì giờ cho việc sáng tác, không quan hệ gì với việc nhà thờ nữa. Ðây là giai đoạn sáng tác sung sức nhất. Với phong cách sáng tác của một nhạc sĩ tự do, ông viết những nhạc phẩm lừng lẫy nhất “Nông dân”, “Cà phê” theo thể điệu bình dân Cantata. Ở đây, với niềm vui thú trong sáng tác của mình, ông rất trung thực với nguồn nhạc dân gian, thể hiện trọn vẹn cuộc sống tự do của mình.
Trong những nhạc phẩm của ông trong thời kỳ nầy, hầu hết đều được dùng trong những vũ khúc dân gian. Theo ông đó là cách thực hiện đầy đủ nhất nguồn biểu cảm chân thành của mình. Những thể điệu được dùng như điệu Waltz, vũ khúc Ba Lan, điệu Sarabande, điệu Mazurka và những điệu dân ca Ðức thịnh hành nhất bấy giờ đều được ông phát triển toàn diện.
Có nhiều thể điệu uyển chuyển, liên tục, thậm chí có đến 23 nhạc khúc liên tiếp. Trong nhạc ông, bao giờ cũng dùng bằng chất thơ hay cộng tác với các thi nhân để hợp soạn.
Lối biến điệu của Bach trong bất cứ thể loại nào cũng rất phong phú. Cả ngay những nhạc phẩm dùng trong giáo đường như “Tổ Khúc nước Pháp” (French Suites), “Tổ khúc kèn và đàn dây theo điệu C trưởng và B thứ”, “Khúc ảo tưởng nửa âm giai Fugu”, “Nhạc khúc bình quân luật cho dương cầm”...
Bach là một nhạc sĩ mộ đạo, theo tinh thần phóng khoáng; quan điểm nầy đã phản ánh khá rõ trong âm nhạc của ông; với ông, âm nhạc vốn cũng là một thứ tín ngưỡng.
Các tác phẩm của Bach trong lãnh vực nầy phải kể: Bản Concero Brandenburg, các Bản Thánh ca, Thánh John, Thánh Mathew. Một đỉnh cao trong sự nghiệp âm nhạc của ông là vào năm 1747 (3 năm trước khi qua đời) nhà vua Phổ Frederich Ðại Ðế đón tiếp ông cực kỳ long trọng, khi ông được mời đến Postdam. Sau đó ông bị đau mắt nặng rồi mù hẳn.
Dù mất đi, nhưng ảnh hưởng của Bach vẫn còn âm vang trong thế giới âm nhạc Tây Phương thế kỷ XVIII, XIV, cả đến ngày nay nữa.
Wolfgang Amadeus Mozart (1756-1791)
Khi nói đến tài năng âm nhạc phi thường của Mozart, nhạc sĩ Tchaikosky đã viết: “Tôn tin tưởng rằng, cái đẹp trong âm nhạc của thiên tài Mozart chính là sự đạt đến điểm tối cao trong nghệ thuật sử dụng và sáng tạo âm thanh kỳ ảo. Không ai giống như ông cả... Hãy để cho tôi khóc và rung động từ chỗ tán thưởng, từ chỗ cảm thấy mình tiếp cận những gì mà chúng ta gọi là lý tưởng trong nghệ thuật...” .
Theo những nhà nhạc học trên thế giới, chính ông là người đã đặt nguyên tắc cơ bản cho âm nhạc theo chủ nghĩa cổ điển ở Vienne, đưa nền âm nhạc cổ điển lên đến đỉnh cao nhất của thời đại đó.
Năm 1991, nhân ngày kỷ niệm 200 năm ngày mất của ông, đã dấy lên một phong trào sơi nổi đối với việc thưởng thức, nghiên cứu và kế thừa di sản của nhà âm nhạc vĩ đại nầy. Tất cả những gì có liên quan đến Mozart, bao gồm những nghi vấn “về cái chết của Mozart” đều trở thành chủ đề thảo luận sôi nổi của mọi người.
Mozart sinh ngày 27 tháng 1 năm 1791 tại thành phố Salzburg (Áo quốc), xuất thân trong một gia đình nhạc sĩ có tiếng tăm từ nhiều thế hệ trước.
Vào thời niên thiếu, Mozart rất lạ lùng. Khi mối lên 3 tuổi, Mozart đã bộc lộ rõ thiên tài của mình về âm nhạc, có những sở đắc về nhạc lý cơ bản, đã khiến cho nhiều người trong gia đình và bạn hữu ngạc nhiên.
Khi lên 4 tuổi, Mozart bắt đầu thử sáng tác nhạc cho tuổi thơ và năm 1761 (5 tuổi) đã biểu diễn trước công chúng lần đầu tiên.
Năm lên 6 tuổi, Mozart đã viết tác phẩm được xuất bản và biểu diễn thành thạo các nhạc phẩm viết cho loại đàn clavesin (tiền thân của đàn piano) khiến cho mọi người kính phục. Mozart cũng có khiếu sử dụng về đàn violon và organ.
Sáng tác ban đầu của Mozart thường được các nhà biên khảo nói đến với màu sắc huyền thoại và thần bí.
Sau bản nhạc đầu tiên viết lúc 4 tuổi, đến năm 7 tuổi đã viết được 4 nhạc khúc dành riêng cho violon và piano (xuất bản tại Paris năm đó); sau đó hai năm ông đã viết mấy tập nhạc giao hưởng sớm nhất trong đời ông, cũng như 6 bản độc tấu cho violon và piano, 1 bản ngẫu hứng cho đàn piano.
Trong nhiều năm sau, Mozart đã theo gia đình (cha và người chị) đi biểu diễn khắp châu Âu từ Munschen, Vienne, Amsterdam, Prague, Geneve, Paris và London. Ðến trình diễn ở đâu, Mozart cũng gây chấn động dư luận ở đó.
Những buổi diễn tấu âm nhạc trong bấy giờ thường kéo dài đến bốn, năm tiếng đồng hồ. Hai chị em Mozart - nhất là Mozart – đã diễn tấu những đoạn ngẫu hứng làm cho “mọi người nghe như phát điên”. Những mệnh phụ quý tộc tỏ ra yêu thích Mozart hơn ai hết, làm cho cha của Mozart khi viết thư cho bạn bè đã nói: “Tôi muốn các bà tặng tiền bạc cho con trai tôi cũng nhiều như những nụ hôn của các bà đã tặng”.
Báo chí Tây Phương trong thời nầy thường gọi Mozart là “thần đồng âm nhạc” hay là “một hiện tượng kỳ lạ của thế kỷ 18” cùng nhiều danh xưng khen thưởng khác.
Về mặt bồi dưỡng thiên tài thì cha của Mozart có thể được gọi là “người cha số 1” trong lịch sử âm nhạc. Ðó là điêu hết sức may mắn cho Mozart. Cha ông là Leopold Mozart, là một tay chơi đàn violon, đàn phong cầm phát âm bằng ống đồng, một nhà giáo dục kiêm nhà soạn nhạc.
Cũng trong nhữp dịp lưu diễn nói trên, Mozart được quen biết với Christian Bach, một bậc thầy lớn về âm nhạc. Ông ta rất yêu mến Mozart và giới thiệu với Mozart những tác phẩm của mình cũng như tác phẩm của nhiều nhà soạn nhạc lừng danh khác. Ngoài ra ông ta còn tổ chức những buổi biểu diễn tứ tấu liên khúc và ngậu hứng chung với Mozart. Từ đó, tài năng Mozart phát triển vượt bực.
Khi tới Florence, Rome, Naples, để diễn xuất, ông có dịp tham quan những nhiều trưng bày hội họa, nhiều viện bảo tàng và di tích lịch sử. Ông cũng có dịp xem ca kịch Ý ở các kịch viện. Nhờ đó, ông có dịp tiếp xúc trực tiếp với nền ca kịch và văn hoá của Ý, rất có lợi cho việc sáng tác ca kịch của Mozart về sau nầy.
Người ta thường gọi Mozart là thần động âm nhạc như lời khen ngợi của Rubinstein là “ánh sáng vĩnh hằng của âm nhạc”. Ðiều nầy không những ca ngợi về tài năng sáng tác, trình diễn, mà còn nói đến những vở kịch của ông nữa. Những tác phẩm nghệ thuật chân chính tiêu biểu cho thiên tài Mozart như vở kịch “Hôn Lễ của Figaro” (Le nozze di Figaro), vở ca kịch “Chuyện Du Dỗ Bắt Cóc Ở Hậu Cung” (Die Entfuhrung aus sem serail), vở ca kịch “Cây Sáo Thần” (Die Zauber flote), vở “Don Giovanni” và vở “An Hồn Khúc”, cũng như ba tập nhạc giao hưởng cuối cùng tiêu biểu cho thành tựu tối cao của ông... đều được viết ra trong một cuộc sống khác của Mozart.
Với tài năng âm nhạc phi thường đó, ông được phong làm viện sĩ Viện Hàn Lâm Nghệ Thuật Bologne, sự kiện chưa từng có đối với một người tuổi nhỏ như Mozart.
Nhưng rồi, sau đó, ông đã gặp nhiều chuyện bất hạnh trong đời mình.
Vào mùa xuân năm 1778, khi Mozart theo mẹ đến thành phố Paris lần thứ hai, thì mọi người dường như đã quên mất phong độ của Mozart khi trước. Ông phải sống những ngày đau khổ tuyệt vọng ở đó; đó là điều mà bản thân của Mozart không thể nào nghĩ tới được. Trước tiên, bà mẹ của ông đã chết trong một hoàn cảnh nghèo khó, bệnh tật không thuốc thang, để ông sống một mình, mà không có lấy một hợp đồng viết ca kịch, tìm không ra được việc làm.
Trong vòng suốt mấy tháng, ông chỉ viết đượcv một vở vũ kịch nhỏ, có tên là “Les Petits riens” nhưng do đội nhạc tại địa phương “thiếu linh hoạt”, cho nên khó biểu diễn thành công. Ông phải nhờ đến sự trợ giúp một số ít bạn bè để sống qua ngày. Thật ra, trước đó, khi Mozart 15, 16 tuổi, thì tính ưu việt của một thần đồng của ông đã hoàn toàn mất hẳn.
Ông phải vội vàng viết một tiểu dạ khúc được sân khấu hoá để đáp ứng một buổi lễ cung đình tại Milan. Ðây là một vở tiểu dạ khúc gồm có những bài hát theo kiểu ngụ ngôn đồng quê, và những điệu vũ Ballet.
Khi Mozart trông thấy tác phẩm của mình một lần nữa được sự hoan nghênh nồng nhiệt tại Milan, thì cũng là lúc ông bắt đầu nhận thấy sự buồn tủi của giai đoạn sau khi được mọi người xem là thần đồng âm nhạc. Vị nữ hoàng Áo cho người ban tặng cho ông những lễ vật quý báu, cốt là để mua bản tiểu dạ khúc trên cho một nhân vật nào đó. Nhưng đó chỉ là mặt trái của kiểu ngưỡng mộ của những kẻ có tiền.
Tuy nhiên, chính vị nữ hoàng nầy đã viết cho một vị đại công tước tại Naples rằng: “Ngài yêu cầu tôi để cho người trai trẻ nầy đến phục vụ tại nhà tôi, khiến cho tôi không hiểu tại sao. Vì tôi không hề nghĩ tới ngài cần đến một nhà soạn nhạc hay là một nhân vật vô dụng như thế. Mục đích tôi viết những lời nầy là muốn ngài tránh khỏi sự liên lụy với một con người vô dụng như thế. Có ai lại cần đến một tên sống trôi nổi, như tên ăn mày. Sự phục vụ của ông không đáng một đồng xu”.
Khi được biết điều nầy, Mozart choáng váng mặt mày. Ðiều làm cho ông buồn bã nhất là hành động tự do tối thiểu của một nhà nghệ thuật ông cũng không có; việc biểu diễn và sáng tác tự do cứ dần dần bị tước đoạt. Cha của Mozart được mời giữ vai trò đàn violon trong đội nhạc cung đình của Tổng giám mục Salzburg. Ðó là nguồn thu nhập duy nhất để cho cả gia đình ông sinh sống. Ðiều nầy cũng quyết định số phận của Mozart phải nghe theo mệnh lệnh của vị Tổng giám mục nầy.
Trong một bức thư đề ngày 9 tháng 5 năm 1781, viết cho cha mình, Mozart viết: “Con đã không thể nào đè nén được lửa giận bốc lên trong lòng. Con không thể làm việc tại Salzburg, để cam chịu phải một cách sống cúi đầu ngoan ngoãn như thế được”.
Mozart thường bày tỏ: “Tôi chưa từng biết tôi là một tên nô dịch của cung đình. Điều đó đối với tôi là một điều nguy hiểm. Con người ai ai cũng có lòng tự trọng; tuy tôi không phải là một vị bá tước, nhưng so với bất cứ vị bá tước nào, lòng tự trọng của tôi lại càng mạnh mẽ hơn...”
Khi ở tại Vienne, vị Tổng giám mục không cho phép Mozart nối lại sự liên hệ với những thiên tài trong giới âm nhạc của xã hội thượng lưu, cũng như không cho phép ông được diễn tấu ở các thính phòng nghệ thuật. Mozart đã hai lần xin từ chức, nhưng không được chấp thuận do hợp đồng ràng buộc. Nhưng rồi ông quyết liệt phản đối và không tham dự bất cứ một chương trình nào ở cung đình. Thế là Mozart trở thành người đầu tiên trong các nhà soạn nhạc thiên tài đã tách khỏi địa vị phụ thuộc của một nhà âm nhạc cung đình.
Mozart cũng viết thư phản đối thân phụ của mình, khi người cha bắt buộc phải phục tùng tuyệt đối Giáo hội. Mozart đành bức hết quan hệ cha con.
Những thống khổ liên tiếp của Mozart vẫn đeo đuổi theo ông trong từng năm tháng, từng sự kiện. Năm 1782, Mozart kết hôn với Constanze Weber, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, thì những lục đục trong gia đình cũng xẩy ra. Mozart thường xuyên bị nợ nần, túng thiếu, và gia đình lại gặp nhiều sóng gió. Một số bạn bè đã ra sức giúp đỡ, nhưng Mozart cũng không thể phát triển tài năng của mình được gì thêm.
Mozart qua đời ngày 5 tháng 12 năm 1791, chỉ sống được 35 tuổi. Thi hài của ông được đem chôn ở nghĩa trang bình dân tại Vienne. Ðám tang của Mozart cũng rất thương tâm; vợ ông sức khoẻ ngày càng suy sụp, đã không thể tham dự cuộc tiễn đưa lần cuối cho chồng mình.
Hôm đó, trời mưa gió bão bùng, cho nên bạn bè cũng không theo cỗ xe quan tài đến nơi an táng; duy chỉ có con chó trung thành theo chủ đến nấm mồ. Vài ngày sau, khi bà Constanze đến thăm nghĩa trang, thì đau đớn thay, bà đã không tìm được mộ ông, vì đã bị mưa xói lở, không còn vết tích.
Ludwig Van Beethoven (1770-1827)
Khi viết về toàn bộ sự nghiệp âm nhạc của Beethoven, nhà văn hào Bizet đã viết: Theo nhận định của tôi, trong đời nầy không ai tranh đoạt được vòng nguyệt quế Prometheus trong ngành âm nhạc thế giớin của con người không lồ nầy; không một ai có thể sánh kịp với Beethoven cả.
Người đời thường nhắc đến tên tuổi của Beethoven với sự tôn kính và ngưỡng mộ. Tên tuổi của ông chẳng những ngang hàng với những bậc thầy âm nhạc lớn như Bach, Mozart, mà còn sánh với những nhà triết học như Kant, Hegel, đồng thời cũng là tấm bia lớn nhưn đức Khổng Tử, Jesus Christ trong lịch sử loài người. Những nhận định trên đây của nhiều nhà phê bình nghệ thuật khác không phải là quá đáng.
Ông sinh ngày 16 tháng 12 năm 1770 tại Bonn (Ðức Quốc). Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống âm nhạc. Thân phụ ông, Johann Van Beethoven, một thành viên trong đội hợp xướng cung đình, một nhạc công chơi đàn violon và đàn piano tại ngôi thánh đường tiểu trấn Bonn. Vốn là một nhạc sĩ cung đình chuyên nghiệp và giàu kinh nghiệm trong nghề, muốn Beethoven trở thành một người giỏi về âm nhạc, cho nên đã cho ông tập đàn clavico tức lúc 3 tuổi.
Tiếp đó là những bài luyện đàn violon, piano, organ và đi dần trong sáng tác những đoản khúc. Ngoài ra, ông còn phải theo học nhiều ngành văn chương, triết học khác.
Trong thời niên thiếu, Beethoven thường xuyên phải chịu những phương thức huấn luyện vô cùng nghiêm ngặt của thân phụ mình. Sự tàn bạo của người cha đã làm cho Beethoven ngay từ nhỏ đã mất đi tánh hồn nhiên, niềm thân tình; điều nầy đã khiến cá tính của ông trở bên cô độc và bướng bỉnh.
Nhưng nếu không có được sự huấn luyện và đức tính tự chủ, bất khuất như vậy, thì chúng ta sẽ không bao giờ có được một Beethoven cho ngày nay.
Vào năm 1781 (11 tuổi) Beethoven đã biểu diễn như một nghệ sĩ đàn dương cầm điêu luyện tại Hà Lan. Trong thời gian nầy, ông tự mình đã đọc được rành rẽ tất cả những bản nhạc, và có thể diễn tấu đàn piano cổ, đàn violon, đàn phong cầm lớn (orgue), thậm chí trong nhiều trường hợp trình diễn công cộng, cũng có thể thay thế nhiệm vụ của người chơi đàn phong cầm lớn.
Năm 1783, tác phẩm đầu tiên của Beethoven ra đời. Beethoven nhận được tình thương yêu của bạn bè và của gia đình quý tộc Breuning hết lòng giúp đỡ cho ông thành công trong thời niên thiếu. Do đó, tái năng diễn tấu của ông đã nhanh chóng thành tựu. Ông đã trở thành một nhân vật nổi tiếng trong giới âm nhạc của Bonn trong thời đó.
Gia đình Breuning có ảnh hưởng lớn trong việc tạo nên nhân cách cho chàng thiếu niên Beethoven. Trong môi trường tình bạn ấm áp đó, ông biết được phải xem trọng tình bạn, phải tôn trọng những đức tính tốt trong nhân tính là thế nào. Từ đó, ông dốc hết khả năng của mình cho nghệ thuật, bất luận phải trải qua những bước gian nan, khó khăn.
Năm 1787, do có năng khiếu âm nhạc đặc biệt, cho nên Beethoven được gửi đi Vienne, Áo, theo học nhạc sĩ thiên tài Mozart. Nhưng vì mẹ ông đau nặng. nên sau vài tháng, ông đã trở về Bonn. Và chẳng bao lâu thì mẹ ông qua đời, Beethoven trở thành cột trụ chính của gia đình, nên ông không có điều kiện học thêm mà phải đi dạy học để kiếm tiền.
Năm 1791, lúc Beethoven tròn 21 tuổi, một lần nữa ông trở lại Vienne và ông sống hẳn ở đó cho đến khi qua đời.
Tại đây, ông theo học với nhạc sĩ lừng danh Haydl và một số thầy dạy khác như Salieri, Aibretchsberger.
Tuy tính tình lập dị, cách cư xử đội khi có phần thái quá, tuy nhiên Beethoven được nhiều người bảo trợ và cũng được giới vua chúa, hoàng thân quốc thích đón tiếp. Nhưng ông là người theo tư tưởng tự do, tôn trọng dân chủ và cũng thường đả kích mãnh liệt chế độ phong kiến của thời đó.
Hoàn cảnh gia đình và xã hội đã tạo cho ông có một tinh thần “kiêu ngạo bình dân” như nhiều nhà chép sử thường viềt về ông. Cá tính cô độc và kiêu ngạo trong cuộc sống và trong cách ứng xử đó không phải là “ngông cuồng”, mà trái lại đã thể hiện qua con người của Beethoven một nét đẹp về lý trí, một phong cách ham học hiếm có. Ông từng học nhiều môn khác nhau, từ văn chương cổ, lịch sử loài người, văn chương Homère, yêu th ích môn triết học cũng như những phát minh khoa học.
Những tác phẩm của Beethoven hoàn thành trong khoảng thời gian từ năm 1803 đến 1805 vượt trội hẳn những gì mà ông đã sáng tác ra trước đó. Ðó là bản sonate Krayser (1803) viết cho đàn violon và piano; bàn Giao Hưởng số 3 Anh Hùng Ca (1804) của ông đề đề tặng Napoléon. Nhưng đến khi Napoléon lên ngai vàng, thì ông trở lại chống đối và xoá bỏ lời đề tặng nầy, như thái độ phản kháng. Ông cũng thành công vẻ vang khi sáng tác các sonate piano “Bình Minh” (1804) “Apasionata” (1805), “ca kịch Phidelio” (1805). Cho đến nay, những nhạc phẩm nầy vẫn giữ được giá trị nghệ thuật lớn lao.
5 năm đầu tiên sống tại Vienne đối với Beethoven là thời gian hạnh phúc nhất trong đời của ông. Năm 1795, Beethoven bắt đầu nổi danh là nghệ sĩ đàn piano với bản Concerto cung Do Trưởng.
Những thành công của ông đã khiến cho dư luận ngạc nhiên. Trên tờ tuần báo “Thông tin âm nhạc của những người yêu thích nhạc Ðức quốc” xuất bản hồi đó đã viết về Beethoven như sau: “Sau khi tôi nghe được buỗi diễn tấu đàn piano của Beethoven, điều làm cho tôi hứng thú nhất, chính là ở những đoạn diễu tấu ngẫu hứng đầy tính chất sáng tạo kỳ diệu của ông. Từ đó, có thể nhận thức được những tư tưởng vô cùng phong phú, thái độ tuyệt vời và cách diễn tấu điêu luyện. Ðiều nầy báo hiệu cho chúng ta một thiên tài lớn lao và kỹ năng tuyệt vời của người nghệ sĩ trẻ tuổi nầy...”
Những người từng lên tiếng đả kích ông trước đây, dần dà bị ông chinh phục và đã không ngới lời ca ngợi một thiên tài của nước Ðức son trẻ nầy.
Trong cuộc đời tư của ông đã có một sự kiện gây cho nhạc sĩ nỗi đau khôn xiết: đó là vào mùa xuân năm 1809, người nhạc sĩ say đắm cô học trò xinh đẹp, nàng Tereda, 18 tuổi, con gái nhà điền chủ Manphati. Nhạc sĩ đã lầm tưởng sự tận tụy và lòng kính mến của người con gái đó với nghệ sĩ vĩ đại là tình yêu. Nhưng đến năm 1810, cô gái nầy đã kiên quyết khước từ lời cầu hôn của Beethoven. Niềm hy vọng kết hôn tan vỡ.
Beethoven phải ngưng hết mọi hoạt động của mình trong một thời gian lâu dài, để may ra có thể lấy lại sự quân bình trong tình cảm và tư tưởng.
Cũng dễ hiểu vì sao số phận đau đớn đến với Beethoven. Bởi từ năm 1798, ông bắt đầu gặp nhiều đau khổ do bị chứng bệnh nặng tai, và càng ngày càng thêm trầm trọng. Ðến năm 1814, ông đã bị điếc hẳn khi ông soạn bản Giao Hưởng số 8. Sau đó ông còn sáng tác thêm bản Giao hưởng số 9, bản Lễ Ca Trang Trọng, những sonate cuối cùng Liên khúc biểu tấu cho đàn piano và các tứ tấu. Bệnh tật cũng ảnh hưởng không ít trong nội dung của những nhạc phẩm sau cùng trong đời ông.
Trong toàn bộ di sản âm nhạc của Beethoven, những tác phẩm nầy nổi bật hơn hết, chủ yếu vì chúng đã vượt ra ngoài phạm vi các truyền thống âm nhạc cổ điển, lối diễn đạt hết sức thoải mái những tâm trạng khác nhau của thế giới nội tâm.
Mặc dù có nhiều bạn bè và nhiều người ngưỡng mộ ở Vienne, nhưng ông vẫn phải sống trong những ngày cô đơn nhất khi cuộc tình tan vỡ. Tuy thẳng thắn, chân thật, nhưng Beethoven lại có tính đa nghi thái quá. Do đó, tất cả những cảm xúc nhân bản của Beethoven chỉ tìm thấy qua sự diễn tả trong tác phẩm âm nhạc của mình.
Nếu bảo con người của thiên tài Bach với tinh thần nhân đạo đậm đà, thì ở Beethoven, trong từng nốt nhạc một của ông đã tạo hình con người thành “một hình tượng rất vĩ đại, ngan nhiên đầu đội trời, chân đạp đất”.
Tất cả những điều nhận định trên đây của giới thưởng ngoạn âm nhạc đều được thể hiện một cáchn hoàn chỉnh trong những bản sonate “Số phận”, “Anh hùng”, “Số 9 của Beethoven. Âm nhạc của ông chứa đầy triết lý sinh tồn của nhân loại, giống như từng bản tuyên ngôn, cổ vũ con người trên thế gian cần “phải nắm lấy yết hầu của số phận mình”. Ðó cũng chính là cho tới ngày nay, Beethoven còn được nhiều người sùng bái trên thế giới.
Beethoven qua đời tại Vienne ngày 26 tháng 3 năm 1827. Ðám tang của ông có hàng chục ngàn người đưa tiễn. Ngày 3 tháng 4 năm 1827, người ta đã tổ chức biểu diễn Khúc tưởng niệm của Mozart để tưởng niêm người nhạc sĩ vĩ đại nầy. Và về sau đó, toàn bộ tài sản của ông đều được đem bán đấu giá. Nhưng khung cảnh nầy thật vô cùng thê lương, vì những tác phẩm lừng danh lại lọt vào tay của 2 nhà xuất bản hạng tồi với giá tiền rẻ mạt. Phải đợi hàng chục năm sau đó, người đời mới tìm đến, nhưng thành tựu đã không thuộc về những người thân thích còn lại của ông.
Trong những tác phẩm lớn của Beethoven, kỹ xảo về giai điệu, hoà âm... đều xuất hiện với những âm thanh, những hình ảnh hoàn toàn mới lạ. Tính chất sáng tạo của ông trong mọi thể tài âm nhạc, thậnm chí đến cả việc biên chế một đội nhạc giao hưởng, bao giờ cũng giữ đúng tinh thần toàn thiện, toàn mỹ, mà nghìn năm sau vẫn còn vang lừng trong thế giới.
Franz Peter Schubert (1797-1828)
Schubert là nhạc sĩ tài ba của nước Áo và rất danh tiếng trong nnửc đầu thế kỷ 19. Ông sinh ngày 31 tháng 1 năm 1797 tại Lichtenthal, ngoại ô Vienne. Ông được vinh danh là “ông vua ca khúc” có một không hai trong âm nhạc thế giới. Người ta xếp ông ngang hàng với những nhà âm nhạc lớn như Beethoven, vì đứng trước toàn bộ thành quả sáng tác thiên phú về âm nhạc của ông, từ số lượng đến chất luợng của ông thì quả là “tiền bất kiến cổ nhân, hậu bất tri lai giả”.
Ông sinh vào lúc các nước Tây Phương đang bùng lên những cuộc cách mạng chống lại chế độ phong kiến, đồng thời, làn sóng tự do, dân chủ bắt đầu dấy lên nhiều nơi, mặc dù có những cuộc đàn áp dữ dội. Lúc còn nhỏ, Schubert đã từng chứng kiến những cuộc khủng bố của bọn phong kiến cũng như sự quật cường đấu tranh của dân chúng. Về sau, trong nhạc phẩm “Kẻ Lang Thang” (Der Wenderer), một tác phẩm viết trước tác phẩm “Khúc Ảo Tưởng Của Kẻ Lang Thang” (The Wanderer Fantasy) của Schubert đã bộc lộ cuộc sống thê luơng đó.
Gia đình ông trường thành trong giới lao động. Tổ tiên của ông làm nghề thủ công ở vùng nông thôn Marvia. Cha ông đã chen chân được vào hàng ngũ trí thức, nhưng cũng chỉ là “thầy giáo làng” tại một khu công nhân ở vùng ngoại ô Vienne. Mẹ ông là người dự báo cho ông được nhiều may mắn hơn. Chào đời trong một gia đình như thế, “ông vua ca khúc”, “bậc thầy về âm nhạc trữ tình” nầy không giống như trường hợp của Bach, Mozart, Beethoven là những đứa con cưng hiếm có của vị nữ thần âm nhạc, đã sinh ra trong một gia đình mà bầu không khí âm nhạc vốn rất đậm đà. Số tiền lương ít ỏi của cha mẹ ông thật khó nuôi sống những thành viên trong gia đình nghèo khổ nầy.
Thời thơ ấu là một cuộc sống khiến cho Schubert không thể nào quên được. Những tác phẩm của ông viết ban đầu đều mang dấu ấn của hoản cảnh thê lương đó.
Về sau, với cố gắng phi thường trong gia đình, Schubert vào học tại một truờng hợp xướng nội trú, thì lúc nào ông cũng chỉ mặc được một bộ đồ ka-ki màu xám, trên mụi lúc nào cũng mang một cặp kiếng cận nặng dày cộm và luôn bị con em nhà giàu quấy phá. Sau khi vào trường nội trú, mặc dù ông được miễn cả học phí lẫn tiền ăn, tiền trọ, và có thể nhẹ bớt đi gánh nặng cho gia đình, nhưng bản thân Schubert lại càng khổ sở hơn: đời sống khắc khổ chảng khác gì một thầy tu cho một đứa bé lên 10. Ðiều kiện nhà trướng quá tồi tệ, đến mùa đông thì không có lò sưỡi, trong khi Schubert thường xuyên chịu đói. Năm năm sống trong nội trú, với ông, chẳng khác gì “năm năm ngồi tù”.
Nỗi khổ của ông không chỉ có thế. Lúc đầu, ông nhờ có giọng nữ cao rất trong trẻo, nên được lớp hợp xướng của em coi trọng. Nhưng tới năm 16 tuổi, Schubert bắt đầu bể tiếng thì thật là khổ. Do bị cận thị nặng cho nên không thể tham gia quân đội. Ðể nhẹ bớt gánh nặng cho gia đình, ông đành phải vâng theo lời của cha đến trường giữ nhiệm vụ làm phụ tá. Với khí chất của một nhà nghệ sĩ, thử hỏi Schubert có bằng lòng sống một cuộc sống khô khan như vậy không?
Năm 1818, ông không còn biết sự phản đối của cha mình, quả quyết từ bỏ chức vụ của một thầy giáo, để tự đó, với tư cách là một “nhà nghệ sĩ tự do” ông phấn đấu tìm con đường sống trong hoàn cảnh nghèo nàn. Sau nầy, trong một đoạn hồi ức, Schubert viết: “Nếu tôi có đủ tiền mua giấy in khung nhạc sẵn, thì ngày nào tôi cũng có thể soạn một ca khúc”. Hầu hết, các nhạc phẩm của ông đều được soạn nhờ trên đàn piano của người khác.
Cả đời Schubert lúc nào cũng nghèo khổ, hầu hết những tác phẩm của ông đều không thể xuất bản trước khi ông còn sống. Nếu thỉnh thoảng có xuất bản, thì tiền nhuận bút cũng không đủ nuôi sống ông.
Chẳng hạn như ca khúc “Kẻ Lang Thang” sau khi xuất bản, ông chỉ lấy 2 đồng Guldwn có giá trị bằng 48 xu Mỹ; trong khi đó thì chủ nhà xuất bản đã lời được 27,000 Guldwn.
Danh khúc bất hủ “Ma Vương” của ông sau khi soan xong 5 năm mới được chủ nhà xuất bản hứa sẽ xuất bản một cách miễn cưỡng, với điều kiện là không trả tiền nhuận bút.
Trước khi từ trần, nằm trên giường bệnh mà không có tiền mua thuốc, các bạn của ông đã lấy tác phẩm “Chuyến Ði Mùa Ðông” (Winterreise) đưa tới nhà xuất bản thì chủ nhà xuất bản chỉ bằng lòng trả tiền cho tác phẩm “Cây Bồ Ðề” trong đó là 1 Guldwn. Tiền nhuật bút mà ông kiếm được trong đời sống, thường không đủ để thuê nhạc cụ.
Lúc nào ông cũng sống trong một ngôi nhà không có lò sưởi. Khi ông và người bạn nghèo Mayrhofer cùng sống chung, thì cả hai người chỉ có chung một chiếc áo khoác.
Nhưng sau khi Schubert chết thì tiếng tăm của ông nổi như cồn. Khi xác ông được đem chôn cạnh mộ của Beethoven, thì “bài hát ru” mà ông trao đổi bằng một đĩa khoai tây tại quá ăn, đã được đem ra đấu giá ở Paris với giá cao nhất là 40,000 Franc. Có thấy cái nghèo của Schubert đã đến mức độ không còn cách nào nghèo hơn thế nữa.
Cái nghèo của ông nếu đem so với các nhà âm nhạc lớn, thì ông là người “nghèo bậc nhất”. Không ai trong thời tuổi trẻ mà gia cảnh lại quá nghèo như của ông; và cũng không có người thứ hai lấy 1 danh khúc của mình đem đi đổi, mà chỉ đổi được “một đĩa khoai tây” hay “một đồng Guldwn” và cả cuộc đồi luôn luôn soạn nhạc trên những cây đàn của người khác.
Thưởng thức âm nhạc của Schubert đúng là cảm nhận được một cách sâu sắc tính chất trữ tình đậm đà như mặt nước dòng sông Rhin mà một thời ông thường đứng đó khi chiều tà. Tác phẩm của Schubert bất luận là khí nhạc hay ca khúc, đều tràn ngập “chất trữ tình lãng mạn đầy ma lực” . Trong nền âm nhạc nầy, phản ánh thứ tình cảm vừa phức tạp lại vừa tế nhị, vừa sôi nổi lại vừa trong sáng, vừa liên miên lại vừa nhẹ nhàng.
Schubert đã viết: “Khi tôi muốn ca hát tình yêu, thì tình yêu nầy lại biến thành nỗi bất hạnh, đau khổ; nhưng khi tôi chỉ muốn ca hát về đau khổ và bất hạnh của mình, thì lại chuyển sang tình yêu”.
Henry Goldschmidt khi trình bày những ca khuc thần kỳ của Schubert đã viết: “Những chuyển biến nội tâm của Schubert trong âm nhạc chính là biểu hiện những mâu thuẫn và đau khổ trong nội tâm của mình”.
Khi sinh thời, những nhạc phẩm của ông chỉ có thể được phổ biến hạn hẹp trong một số bạn bè ít ỏi, tuy nhiên, ý nghĩa của nói thì lại bao trùm cả thế giới.
Cuộc sống nghèo nàn và khốn khổ liên tục đã thể hiện trong sáng tác phẩm của ông. Nếu ngoại cảnh khó khăn chừng nào, nội tâm của ông càng phong phú bấy nhiêu. Tốc độ sáng tác của Schubert làm cho người ta khó tưởng tượng nổi. Như Schober từng chứng kiến ông viết bản nhạc “Ma Vương” chỉ trong khoảnh khắc, mà không cần phải điều chỉnh hay sử chữa lại. Trong tập Hồi Ức, Schober viết: “Khi chúng tôi đi tới cửa, nhìn thấy anh ta đang cầm một quyển sách và đọc to bài thơ “Ma Vương”, Anh ấy đọc rất say sưa, và hoàn toàn không để ý đến chúng tôi đến thăm. Anh ấy cầm cuốn sách đi tới, đi lui trong căn phòng, rồi bỗng quay mình ngồi vào bàn lấy giấy bút ra viết thật nhanh, sau đó mới cầm tờ giấy chạy thẳng đến trường Stadtkinvikt để trình bày thử. Ngay đêm ấy, thì cả trường nội trú đã nghe tiếng hát “Ma Vương” của anh”.
Viết về cuộc đời và sự nghiệp của Schubert, nhiều tác giả đều quay chung quanh cảnh trạng, nội tâm và nguồn cảm hứng của ông. Nhưng có một điều thường gây thắc mắc: Liệu cuộc sống như thế, có nảy sinh một tình yêu nào hay không? Mọi người thường cho rằng: Do mặc cảm trong cuộc sống, Schubert là người thiếu kinh nghiệm về tình yêu. Thậm chí có người viết: Ông chưa từng yêu ai. Thực tế không như thế. Shubert chẳng những từng yêu, mà lại từng khát vọng trong nhiều năm về tình yêu nầy.
Người bạn thân nhất của Schubert là Anselm Huttenbrenner, khi trả lời bức thư của nhạc sĩ Liszt để tìm tài liệu viết truyện ký về Schubert đã thố lộ một sự kiện “Ðừng quên anh” mà Schubert đã từng khá vọng trong nhiều năm. Ðoạn đó như sau:
Ðây là một câu chuyện riêng của Schubert mà chính anh đã thố lộ với tôi khi hai đứa cùng đi dạo trên một bãi cỏ xanh. Tôi hỏi: Anh tại sao cho đến nay vẫn chưa yêu một cô gái nào? Vì tôi cho rằng anh là một chàng trai có tâm trạng ghét các cô gái. “Ồ! Không!, Schubert vội vàng phủ nhận, với sau đó nói tiếp: Tôi từng có một cô gái được tôi yêu kín đáo trong lòng, và cô ấy cũng yêu tôi không kém. Cô ấy là con gái của một ông thầy giáo dạy ở nhà trường, còn trẻ hơn tôi. Trong bản nhạc Mi-sa cô ấy hát giọng nữ cao, và tiếng hát hết sức êm đẹp. Mặc dù cô ấy bị mặt rỗ, không phải là một tuyệt thế giai nhân, nhưng cô có một trái tim lương thiện, một tình yêu sâu sắc. Cô từng ba lần chờ đợi tôi cưới cô, nhưng thật đáng tiếc vì tôi không thể nào tìm được một nghề nghiệp ổn định để có thu nhập cho hai người sinh sống mà khỏi bận tâm. Do vậy, cô bị ch mẹ ép gả cho một người khác. Chuyện đó đã làm cho tôi hết sức đau khổ không nguôi. Cho tới nay, lòng yêu thương cô ấy trong tim tôi vẫn chưa phai nhạt. Kể từ đó, tôi chưa yêu một cô gái nào khác, với một mức độ như vậy...”
Viết về thiên tài âm nhạc Schubert không thể không nói đến sự liên hệ, lòng kính mến và thần phục lẫn nhau giữa ông và “Nhạc Thánh Beethoven, như nhiều người thường ca tụng. Trong những ngày cuối đời, Bethoven bị bệnh nặng, thường phải nằm trên giường, lại thêm chứng điếc tai cho nên không thể tiếp xúc rõ giữa hai người. Tuy nhiên, theo những nhà nghiên cứu, chính là Schubert luôn luôn dựa vào linh hồn âm nhạc của Beethoven, mà ông thường xem là gương sáng chói nhất trong cuộc đời sáng tác của mình, cho đến những ngày cuối cùng.
Trong buổi tang lễ của Beethoven, Schubert là một trong 30 người cầm đuốc để đưa tang cho vị Nhạc Thánh nầy. Họ mặc tang phục và cột lên cánh tay hai loại hoa hồng và hoa lis. Schubert đã giành nhiều thì giờ sau đó để hoàn thành nhạc phẩm “Khúc Giao hưởng C Trưởng” để tưởng nhớ đến thiên tài mà ông trọng vọng nhất. Sau khi dự đám tang của Beethoven xong, Schubert cùng với bạn bè tụ họp tại một quá rượu. Ông xúc động đưa cao ly rượu đầy trong tay và nói: “Hãy cạn ly vì người có mặt ở đây chết trước”. Nói dứt lời, ông uống một hơi hết ly rượu. Nào ngờ, người đi theo vị Nhạc Thánh lại chính là ông. Qua năm sau, sau khi tổ chức buổi nhạc hội kỷ niệm 1 năm Beethoven qua đời, Schubert cũng ra đi.
Frederic Francois Chopin (1810-1849)
F. F. Chopin sinh ngày 1 tháng 3 năm 1810 tại Gieladovey Doli, ngoại ô Varsava (Ba Lan) Thân sinh ra ông là ngưởi Pháp ở miền Lorraine, mẹ là người Ba Lan.
Thời thơ ấu, Chopin sống tại Varsava, nổi tiếng là thông minh, hiếu học, thích trau dồi về nghệ thuật lẫn khoa học. Năm lên sáu, ông được theo học đàn dương cầm với nhạc sĩ Tiệp Khắc nổi tiếng, ông Wojicech Zywny trong suốt 6 năm trời, cho đến khi Zywny cho là mình không còn gì để dạy thêm cho Chopin nữa. Kể từ đó Chopin tự học để phát triển. Với ông hai nhạc sĩ đáng sùng bái nhất trong suốt đời mình là Mozart và Bach. Nguồn nhạc của ông được xem là bắt nguồn từ âm nhạc và kỹ thuật của hai vị tiền bối nầy.
Lên 9 tuổi, Chopin đã tỏ ra là một kỳ tài trong những buổi hoà nhạc. Ông đã bắt đầu soạn những vũ khúc, mà nổi tiếng nhất trong giai đoạn nầy là “Vũ Khúc Ba Lan” còn nổi tiếng cho đến ngày nay.
Ở tuổi 15, Chopin đã có những tác phẩm được in và phổ biến sâu rộng. năm năm sau, ông trở thành một nghệ sĩ dương ầm. Chopin nhiều lần đến Vienne (Áo) tham dự các buổi hoà tấu trường công chúng. Ông cũng từng sang Ðức trong thời kỳ nầy, tiếp xúc với nhiều nhạc sĩ danh tiếng, trong đó có cả thiên tài âm nhạc Schumann.
Tuy nhiên, với ông, thì nguồn cảm hứng sâu xa và thường xuyên nhất của mình chính là nền âm nhạc dân gian truyền thống của người dân Ba Lan thôn quê chất phác, nhất là những vũ khúc. Phần lớn những vũ khúc của ông đều chịu ảnh hưởng của thể loại mazurka.
Ðiều khiến cho Chopin hăng say nhất là tinh thần chiến đấu của dân chúng; họ là ban cho Chopin một quả tim yêu nước. Trong số những nhân vật Ba Lan gieo nhiều ảnh hưởng đến Chopin là Joseph Elsner, đồng thời cũng là một nhà văn hoá suốt đời ra sức bảo vệ nền văn hoá Ba Lan.
Mùa thu năm 1826, Chopin quyết định thi vào Học viện âm nhạc và được sự chỉ đạo trực tiếp của Elsner. Nhà âm nhạc lão thành nầy thấy được Chopin quả là người có tài năng âm nhạc độc đáo, nên quyết tâm bồi dưỡng cho Chopin trở thành một thiên tài có tầm cỡ như Bach, Mozart. Trong giai đoạn nầy, có một số giáo sư âm nhạc đã không chấp nhận phương pháp sáng tác của Mozart, trong những kỳ thi tốt nghiệp, nhưng trong trường hợp nào cũng được Elsner che chở. Ông thường tuyên bố: “Con đường sáng tạo của một thiên tài như Chopin quả là hiếm có cho đất nước. Không thể dùng áp lực nào để làm mất lòng hăng say của tuổi trể nầy”.
Năm 1830, ông đang đi biểu diễn ở nước ngoài thì nổ ra cuộc khởi nghĩa của người dân Ba Lan chống lại ách đô hộ của Nga Hoàng; từ đó, ông ở luôn tại Paris. Khi đi, ông có mang theo một ít “đất thiêng” của nước Ba Lan. Lúc đầu Chopin chỉ dự tính sang Anh Quốc sinh sống và trong hộ chiếu chỉ ghi “Ghé ở trạm Paris”, vì theo ông, ở đó, những tranh chấp vai vế không phải ít. Nhưng khi đến nơi, thì đã bịn hấp dẫn một cách sâu sắc. Hai buổi nhạc hội được tổ chức cho ông tại Paris đã đượdc hoan nghênh nhiệt liệt. Như một đinh mệnh an bài, ông định cư tại Pháp. Ngay sau đó, Chopin đã được nhạc sĩ dương cầm nổi tiếng Kalkbbrenner hết lồng giúp đỡ cho Chopin những buổi trình diễn thành công kế tiếp đó.
Tại Paris, ông kết thân với Honoré de Balzac, Berlioz... đồng thời ông cũng say mê những chương trình trình diễn vì theo Chopin thì “khán giả ở đây đa phần đều có phong cách thưởng ngoạn cao, và đóng nhận những tài năng nước ngoài không chút kỳ thị”. Những nhà nghệ thuật từ nhiều nơi đến sinh hoạt tại Paris như Heine, Michewicz, Rossini... cũng giành được nhiều cảm tình chẳng thua gì những nhà nghệ thuật nước Pháp như Hugo, Balzac, Stendhal, Menldenssohn.
Thiên tài của Chopin được thế giới nhìn nhận là từ say khi ông tới thủ đô ánh sáng Paris. Trong thời gian đầu, ông đã tiếp xúc một cách rộng rãi trược mọi hiện tượng nghệ thuật vùng tây Âu, tìm hiểu được những hình thức ca kịch của Ý và Pháp, tiếp cận với những nhạc sĩ với những nhạc khúc Slav, nhận thức được kỹ xảo cao đới với nghệ thuật trình diễn của những ca sĩ Ý và Pháp.
Tại đây ông sống bằng trình diễn âm nhạc, dạy nhạc và sáng tác. Người dân Paris đã bắt đầu thưởng thức những dòng nhạc tha thiết với quê hương như tâm trạng của Chopin trên bước đường lưu vong nầy. Chopin nhận định rằng: hững tiếp cận nghệ thuật nầy đã làm cho trình độ nghệ thuật của tôi càng được thăng hoa thêm. Tôi cũng học được những hình thức biểu hiện tân kỳ, về mặt tư tưởng cũng như về hình tượng”.
Những tác phẩm nổi tiếng nhất của Chopin trong thời kỳ thăng hoa nầy phải kể đến “Khúc Hoà Tấu Piano số 2 F Minor”, “Ðưa Tay Cho Tôi”, “Don Giovanni”, “Ðiệp Khúc Mang Phong Cách Mazovia”. Chính thiên tài Schumann trong một buổi thưởng thức chương trình trình diễn của Chopin, đã thốt ra: “Tôi xin ngả mũ chào một thiên tài hiếm có đến từ Ba Lan”. Ít ai được nhạc sĩ nầy tán tụng đến như vậy cả.
Năm 1838, Chopin bị bệnh phổi và cũng bắt đầu yêu nữ văn sĩ George Sand. Hai người gặp nhau trong một buổi trình bày nhạc thính phòng, và từ chỗ quen biết trở nên thân mật và xuất hiện một đoạn tình nồng nhiệt.
Thoạt đầu, Chopin tỏ ra khó chịu với một nữa văn sĩ “không khác gì đàn ông”, giống như “con hạc đứng giữa bầy gà”, khi nói chuyện bao giờ cũng giống như mụ phù thủy delphi của đền thờ Apollo. về sau, George Sand thường đến thyăm Chopin thì thành kiến nầy mới lần hồi được xoá tan.
Paris thường nói nhiều đến câu chuyện tình nầy, vì cả hai đều ở trong giai đoạn thăng hoa. Báo chí không ngày nào là không nhắc đến.
Với Chopin, “tình yêu tổ quốc là một điều đáng sùng bái, mà tình yêu của đôi lứa cũng là một thứ sùng bái”. Một điều đáng cho nhiều người thán phục Chopin là ông thường đối xử một cách nhiệt tình và tuyệt đối với những đồng hương từ Ba Lan sang cư ngụ tại đây. Với ông, họ đều là những người khách quý của mình.
Mùa thu năm 1838, Chopin bị bệnh nặng, cần phải xuống phía nam nước Pháp để tránh thứ khí hậu lạnh lẽo của mùa đông. George Sand bỏ hết mọi việc, sẵn sàng đi cùng Chopin đến đảo Majorca. Trong lúc nầy, không một giây phút nào hai người xa nhau. Chopin viết: Hạnh phúc của tôi trong lúc nầy không phải sống trên mặt đất, mà là đang sống trong một thế giới thần tiên, có mây mù bao quanh, có hương thơm ngào ngạt”. Những sáng tác phẩm của ông thuộc loại mở đầu như “F thăng Minor”, “D giáng Minor”, “B Minor” chính là những tác phẩm được lấy chủ đề từ trong tình yêu thời đó.
Chopin và George Sand sống với nhau được 10 năm, cho đến năm 1847 thì chia tay.
Trong tác phẩm “Chopin” của Liszt thì: Cuộc tình của hai người trước sau tương đối hoàn chỉnh, kể cả khi xa lìa nhau. George Sand đối với sức truyền cảm êm dịu trong dòng nhạc của Chopin vô cùng tuyệt vời.
Bệnh tình của Chopin này càng nặng; ông qua đời ngày 17 tháng 10 năm 1489, khi chưa tròn 40 tuổi. Theo di chúc, quan tài của Chopin trước khi lấp đất được rải đất thiêng của quê hương mà ông đã mang theo khi ra đi. Trái tim của ông được lấy ra và gửi về Varsava, ướp giữ tại nhà thờ Thập Tự Thánh.
Nhạc phẩm của Chopin gồm 86 bản, hầu hết soạn cho đàn dương cầm. Chopin là người đại diện vĩ đại nhất cho nền văn hoá Ba Lan
Peter Ilich Tchaikovsky (1840-1893)
Dù cho là chế độ Cộng Sản hay Bảo hoàng tại Nga, kể cả những tay bồi bút đã một thời đả kích Tchaikovsky dưới thời Lénine và Staline, thì trong thực tế, tên tuổi, danh vọng, sự nghiệp về âm nhạc của ông vẫn được toàn thể giới thưởng ngoạn nghệ thuật, ngay cả giới bình dân, không một ai là không kính phục”. Nhà văn hào André Maurois đã phát biểu như thế trong buổi lễ tuyên dương thiên tài nầy.
Tchaikovsky là nhà soạn nhạc Nga nổi tiếng vào hàng đầu của thế kỷ XIX, chẳng những tại quốc gia nầy mà ảnh hưởng sang nhiều vùng văn hoá khác.
Ông sinh ngày 7 tháng 5 năm 1840 tại Vitkinst, trong một gia đình trí thức. Cha ông là một công trình sư làm việc tại khu mỏ ở Vitkinsk với chức vụ là trưởng xưởng của ngành luyện kim. Nếu tìm về nguồn gốc xuất thân của ông thì có thể nói ông là người xuất thân trong dòng họ quý tộc. Tổ tiên của ông là quý tộc chính thống ở tại vùng Kremenchug.
Thuở nhỏ, Tchaikovsky rất thích âm nhạc, nhưng thân phụ lại cho ông theo họ luật. Tuy vậy trong những giờ rảnh rổi, ông vẫn thường tham dự những buổi trình diễn hay đọc những sách trong ngành nầy.
Khi viết về Tchaikovsky thời niên thiếu, René Grousset viết: “Anh ta là một đứa trẻ thật thà, thích sống trong gian phòng hoàn toàn yên tĩnh, dễ xúc động trong bất cứ một biến chuyển nào liên quan đến bản thân mình, quá nhạy cảm; tuy nhiên trí rất thông minh, kết hợp với một nội tâm lương thiện, cũng như tất cả những tính tình tốt đẹp hiếm có”.
Năm 19 tuổi, sau khi tốt nghiệp ưu hạng năm thứ nhất về luật khoa thì ông được nhận vào làm việc tại Bộ Tư pháp Nga hồi đó. Ông vẫn theo dõi những sinh hoạt của ngành thẩm âm nầy.
Tháng sáu năm 1862, khi đã 22 tuổi, thì nhạc viện St Pétresburg được thành lập và trong giai đoạn chiêu sinh. Tchaikovsky bỏ ngang công việc đang làm, để xin vào học khoa sáng tác tại nhạc viện nầy. Vốn có những đam mê trong ngành, Tchaikovsky đã tiến bộ rất nhanh và được nhiều vị giảng huấn chú ý đến.
Năm 1866, sau 4 năm học tập thành tựu, ông được công nhận là giáo sư âm nhạc chính thức tại viện nầy; một năm sau thì lại được chuyển đến Mascova làm giảng viện dạy nhạc lý do nhạc sư danh tiếng Anton Grigoryevich Rubinstein là viện trưởng của viện nầy. ông ta cũng là một nhà âm nhạc trác tuyệt của Nga, đồng thời cũng là nhà nghiên cứu lý luận âm nhạc thế giới. Do đó, ảnh hưởng của thiên tài âm nhạc nầy đã ảnh hưởng đến tài năng của Tchaikovsky không nhỏ. 9 tháng sau, ông lại được cử chỉ huy dàn nhạc của thủ đô nầy.
Từ đó, ông có dịp tổ chứng nhung cuộc trình diễn khắp nhiều thành phố lớn ở châu Âu. Năm 28 tuổi, Tchaikovsky yêu Dédirée Artet, một ca sĩ Pháp, nhưng sau đó, do ảnh hưởng kỳ thị của hai gia đình cho nên hôn nhân của họ đã không thành. Với nỗi buồn vô tận nầy vì cuộc tình tan vỡ, ông đã thể hiện cho khúc mở màn ca khúc “Romeo & Juliette” của ông để nói lên nỗi bất hạnh nầy. Những ca khúc đầy vẽ trữ tình của ông cũng khởi sự từ đó.
Mối tình đầu thất bại đã khiến ông chán nản trong tình trường, thậm chí khi kết hôn một cách vội vã (do khuyến khích của gia đình) với bà Von Meck, một quả phụ giàu có, kiêu xa, đã trở thành một sai lầm bi thảm, đã khiến cho Tchaikosky điên loạn trong một thời gian.
Mọi việc làm ăn cũng chịu ảnh hưởng theo. Ðối với Tchaikovsky thì nghề dạy học trong giai đoạn nầy đã không tạo cho ông một chút hứng thú nào, vì theo ông, mục đích hàng đầu của mình phải là nhà sáng tác âm nhạc tự do, chứ không muốn khuôn định trong những tháng ngày đứng lớp giảng dạy buồn chán.
Sau khi hoàn tất những chương trình đào tạo đầy đủ tại nhạc viện nầy, Tchaikosky đã hoàn thành bản Giao hưởng đầu tiên của mình “Những Ước Vọng Mùa Ðông”. Thử nghiệm nầy đã thành công vẽ vang, đến nỗi được trình diễn hàng chục lần trong thời gian ngắn. Theo đà đam mê trong sáng tác, theo đề nghị của nhạc sĩ Ostrovsky, ông đã chuyển vở kịch “Voievotda(Giấc mơ trên sông Volga) thành một nhạc kịch (1868) và được nhà hát Bonsoi dàn dựng trình diễn suốt trong mùa diễn 1868-1869.
Ngoài công trình chuyên về sáng tác, Tchaikovsky còn ra sức nghiên cứu về ký luận âm nhạc, vì theo ông, đó là con đường hướng dẫn trình diễn và chuyển sang ca kịch dễ thu hút khán giả nhất. Theo ông thì thiên tài Liszt là người “sử dụng màu sắc trong âm nhạc thì không ai bằng”. Tchaikovsky sùng bái Mozart tuyệt đối nhiều hơn là Beethoven. Trong một bức thư gửi cho bà Meck, Tchaikovsky viết: “Hỡi bậc thiên tài sáng lạn như ánh mặt trời, âm nhạc của ông, cho dù chỉ là hồi ức thôi, cũng đã làm cho tôi vô cùng cảm động đến roi lệ”. Còn với thiên tài Schumann, với Tchaikovsky thì quả là “một sức sáng tạo kiên cường và vĩ đại”.
Tiếng tăm của ông vang lừng khắp nơi kể từ đó. Ngay sau đó, nhiều đại ban ca kịch Nga đã điều đình với Tchaikosky để trình diễn huy hoàng trên những sân khấu của thủ đô.
Ðiều quan trọng nhất là không khí sinh hoạt mọi ngành nghệ thuật Nga trong giai đoạn nầy đã nở rộ, với những thiên tài như Tolstoi, Tourguéniev, Chekhov trong văn chương, cũng như Lépine trong âm nhạc, Ostrovsky trong kịch nghệ, những nhà soạn nhạc trong nhóm “Nhạc phái năm người” (The Five). Năm nhạc sĩ trứ danh nầy gồm có: Mily Balakirev, Modest, Mussorgsky, Borodin, Cesar Cui. Thoạt đầu, có những hiểu lầm giữa Tchaikovsky với Nhạc phái năm người. Nhưng về sau, qua thông cảm và trân trọng tài của nhau, họ tìm lại gần nhau và thúc đẩy nhau sáng tác. Nhờ hấp thu những đặc điểm sáng tác của nhóm nầy, Tchaikovsky đã viết nên những bản “Mưa Bão” (The Storm); “Quan Cận Vệ” (Oprichnik) và nhất là “Romeo & Juliette”.
Tchaikovsky ở khung cảnh nầy thường tự nhủ phải “làm một điều gì” xứng với sự đóng góp của mình, dù là nhỏ nhặt nhất.
Người ta thường nói đến tốc độ sáng tác của Tchaikovsky ít ai bì kịp, một khi ông đã say sưa trong biểu cảm với đề tài của mình. Chẳng hạn như những ban “Thiếu Nữ Ðại Dương” (The Maid of Orlrans) (1881) chỉ viết trong một buổi sáng; vở “Nazepa” (1884) viết trong khi ngồi trên một toa xe lửa; vở “Vũ Hài bạc” (1887) viết trong khi đi dạo ở bờ sông...
Tất cả đều trở thành những sáng tác phẩm vô giá, với những xúc động vô cùng mãnh liệt của thiên tài nầy.
Vốn sở trường sử dụng nhiều loại nhạc khí khác nhau, nhất là đàn piano, Tchaikovsky lại thành công xuất sắc trong bản “Bản Concerto cung SI giáng trưởng cho đàn piano” (1875) . Với nhạc phẩm nầy, báo chí đã đặt Tchaikovsky ngang hàng với Mozart và Beethoven về tinh thần sáng tạo và ngẫu hứng trong trình diễn.
Nói đến thiên tài Tchaikovsky thì không thể nói đến loại ca kịch vốn là cách thể hiện âm nhạc trong kịch bản tài tình của ông. Theo các nhà phân tích nghệ thuật, thì trong những ca kịch nầy, ngoài sự hấp dẫn của âm nhạc, điều không thể bỏ qua là ông rất chú trọng đến sự cảm thông về mặt tâm lý khán thính giản, cũng như chính bản thân của mình khi nhập cuộc.
Người ta thường nói đến những người đàn bà đến với ông, khi danh tiếng vang lừng, nhưng kinh qua hai chuyện tình “không đâu vào đâu”, Tchaikovsky chỉ còn biết tìm nguồn sống đáng giá trong sáng tác. Năm sau đó (1876) Tchaikovsky đã cho công diễn tác phẩm nổi tiếng “Hồ Thiên Nga” và “Thơ Giao hưởng Francesca da Rimini”. Khi được mời sang trình diễn tại Thụy Sĩ, với tiếng hoan hô dậy trời, ông đã sáng tác “Bản Giao Hưởng số 4” mà sau nầy được giới âm nhạc xem là mẫu mực đáng kính trọng nhất của thể loại âm nhạc nầy,
Những nhà tổ chức trình diễn lớn tại Châu Âu đã mơi ông sang biểu diễn trên các đại hí viện và những chuyến đi nầy được thực hiện trong nhiều năm từ 1879 đến 1889. Hoa Kỳ là trạm cuối cùng của Tchaikovsky trong chuyến đi dài nầy và cũng là nơi ghi lại cho ông dấu ấn của một chân trời sáng tác mới.
Qua những thành tựu vẽ vang nầy, Tchaikovsky đã là thiên tài mở cửa cho nền âm nhạc của Nga vươn ra thế giới.
Tháng 10 năm 1893, tuy sức khoẻ của ông ngày càng suy thoái nhiều do sự tận lực vì nghệ thuật, Tchaikovsky vẫn còn viết thêm được nhạc phẩm cuối cùng trong đời mình, nhan đề “Bản Giao hưởng số 6: Xúc động” tại St Petresburg.
Tuy không được dân chúng nơi đây hoan nghênh, nhưng trong khi đó thì khắp nơi trên thế giới say sưa đón nhận, như là kết quả hùng hậu nhất và trân quý nhất của một thiên tài.
Ông qua đời vào lúc 6 giờ sáng ngày 26 tháng 10 năm 1893 do bị bệnh thổ tả. (cũng có thuyết cho rằng ông bị đầu độc do những phát biểu đả kích chế độc cai trị của Sa Hoàng). Ông được mai táng tại nghĩa trang danh dự Alexader Nesii. Có hàng nghìn người sùng bái ông đã đi tiễn ông đến nơi an nghĩ sau cùng. Sinh mệnh của ông chấm dứt một cách đột ngột, tuy nhiên, những công trình sáng tác âm nhạc của ông, cho tối nay, vẫn được truyền rộng ra thế giới với một sức sống mạnh mẽ nhất
Ông là nhà soạn nhạc Nga đầu tiên được nước ngoài yêu chuộng và phổ biến sâu rộng nhất. Tên ông được đặt cho một đại nhạc viện nởi tiếng của Nga. Ngoài ra, tại Nga hàng năm có cuộc thi âm nhạc, mang tên ông trong hơn một thế kỷ nay. Ngôi nhà của ông tại Votkinst trở thành Nhà Bảo Tàng Nghệ Thuật của Thiên tài Tchaikovsky.
Ngôi nhà nhỏ hai tầng ở vùng ngoại ô Clin, nơi nhạc sĩ sống những ngày cuối cùng đời mình cũng trở thành Bảo Tàng mang tên ông.



. Cập nhật theo nguyên bản chuyển từ HoaKỳ ngày 20.12.2013.