Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




TRẦN TIẾN,

NGƯỜI SÁNG LẬP THỂ KÍ TỰ THUẬT

TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM TỪ NĂM 1764



      Trần Tiến người làng Điền Trì, nay là thôn Trực Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Ông sinh giờ Dần ngày 18 /11 / năm Kỉ Su ( 1709), tên chữ là Hậu Phủ, tên hiệu là Cát Xuyên, Khiêm Đường. Ông là con Tiến sĩ, Tham tụng Lễ bộ thượng t - Diệu Quận công Trần Cảnh, nhà nông học đầu tiên của Việt Nam, cháu nội Tiến sĩ, Tham tụng, Hình bộ thượng thư – Lễ bộ Tả thị lang, Phương Trì hầu Trần Thọ, nhà thơ và nhà ngoại giao thời Lê. Ông đỗ tiến sĩ năm Mậu Thìn (1748), làm quan Phó đô ngự sử, Công bộ Hữu thị lang, tước Sách Huân bá, là nhà sử học và nhà văn nổi tiếng thời Lê, tác giả các bộ sách: Đăng khoa lục sưu giảng ( sử) Cát Xuyên thi tập ( thơ) Cát Xuyên tiệp bút ( kí) Niên phả lục ( kí) Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi ( kí)…
      Niên phả lục (1764) là tập kí nổi bật trong các tác phẩm của Trần Tiến. PGS – TS Nguyễn Đăng Na đánh giá: đây là bộ sách có giá trị lớn, nó đánh dấu một mốc quan trọng trên con đường phát triển văn xuôi tự sự Việt Nam, đặc biệt về thể kí …” Với thành tựu quan trọng đó, Trần Tiến đã “mở ra cho mình một lối viết riêng, không giống bất cứ một ai trước đó, đồng thời đặt nền móng cho những người đi sau noi theo, như Lê Hữu Trác, Phạm Đình Hổ…” ( Lời giới thiệu Niên phả lục, Nxb Văn học, 2003).
      Niên phả lục gồm 2 tập kí riêng biệt. Tập đầu là Tiên tướng công niên phả lục, viết về cha mình, Tham tụng - Thượng thư Trần Cảnh. Tập sau là Trần Khiêm Đường niên phả lục, viết về bản thân mình, khi ông 55 tuổi, hoàn thành vào một ngày mùa đông, năm Long Tập, Giáp Thân, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 25 (1764) tại lị sở xứ Thanh Hoa ( nay là Thanh Hóa) khi ông làm quan ở đó, với chức danh đầy đủ là “Triều liệt đại phu, Tán trị thừa chánh sứ ti, Tham chính xứ Thanh Hoa”, mà ông đã ghi ở Lời Tựa, đầu sách. Theo GS – TS Nguyễn Đăng Na, với Trần Khiêm Đường niên phả lục, Trần Tiến đã sáng tạo ra một thể lọai mới trong văn xuôi Việt Nam là kí tự thuật, từ năm 1764. Nguyễn Đăng Na viết, với tác phẩm này, “lần đầu tiên trong văn xuôi tự sự Việt Nam có một tác phẩm kí tự thuật. Chỉ khi con người ý thức được về mình, ý thức về vai trò và vị trí của mình, thì loại hình tự thuật mới ra đời. Ở thời trung đại, mấy ai dám làm như vậy”. Nguyễn Đăng Na nhận xét: “Khi thuật lại cuộc đời mình, tác giả luôn giữ thái độ trung thực, thật thà, kể cả khi nói về sự “quanh co” của mình”. Ở đây, lần đầu tiên, cái Tôi “ trở thành nhân vật trung tâm trong tác phẩm, để từ đó, mọi sự kiện được quan sát, đánh giá, miêu tả dưới điểm nhìn trực diện của anh ta. Điều này, tất cả các tác giả trước đây, chưa một ai làm được”.
Mở đầu tác phẩm tự thuật, Trần Tiến viết: “ Tôi họ Trần, thu bé tên là Tân, lớn lên tên là Kính, lại có tên là Tiến, tự là Khiêm Đường, con của Thừa tướng Trần công, do bà Quận phu nhân họ Nguyễn sinh ra. Nghiêm quân tôi từng nói rằng, ngài có số ẩn tướng, sẽ sinh quí tử, đến năm 26 tuổi thì sinh ra tôi. Thuở bé, tôi ngỗ ngược, khó dậy dỗ, người nhà đều lấy làm lo ngại…” Ông tự nhận xét: “ Lại nữa, tôi bẩm tính ngu độn và không được mẫn tiệp, lại không biết nghề gì, tuy có nhã nhặn, thực thà, nhưng không tài hoa, ngoài ra chẳng có gì hơn người”.
      Lời văn tự thuật chân tình, thành thật, ấm áp, mà rất già giặn, đầy sự tin cậy và chia sẻ, được viết xong t năm 1764, mới thấy cái giá trị mở đầu vẻ vang của nó cho một thể loại văn học tự sự, do chính ông khai mở. Với lối viết điềm đạm, khiêm nhường, thân mật và thấm thía như thế, Trần Tiến thuật lại toàn bộ cuộc đời mình, từ khi sinh ra, lớn lên, rồi đi học ở An Quảng ( nay là Quảng Ninh). Năm Tân Sửu (1721), “thân phụ đến nhậm chức Đốc đồng xứ An Quảng. Tôi đi theo để học”. Năm Nhâm Dần (1722) “ tôi theo thân phụ, học tập tại xứ An Quảng, và làm thơ phú rất có khả quan, có câu luận như sau:
Cổ giả Quản Y phi dị ngộ
Dụng chi công hóa khởi nan thành
( Người xưa như Quản Trọng, Y Doãn không dễ gặp
Dùng họ, công hóa há khó thành)
      Và một số câu đối na. Thân phụ hết sức khen ngợi”.

      Như vậy, Trần Tiến viết bài thơ đầu tiên ở Quảng Ninh ngày nay, khi ông mới 13 tuổi. Trong tác phẩm, ông thuật lại nhiều việc diễn ra, từ kinh đô đến các xứ Hải Dương, An Quảng, Sơn Tây, Sơn Nam, Thanh Hoa, Kinh Bắc…, chủ yếu xoay quanh hai việc lớn, một là nông dân khởi nghĩa mà ông chứng kiến, hai là học hành thi cử mà ông trực tiếp tham gia, khi là thí sinh, khi là quan giám khảo, với rất nhiều chi tiết sinh động.
Ông thuật lại năm đi thi đầu tiên (1726):
      Năm 18 tuổi, khoa Hương thí năm Bính Ngọ, phụ thân muốn tôi đi thi. Tôi cho rằng, lực học của mình chưa tới độ, nên không đi thi. Tiên quân tôi cũng không cưỡng.
      Năm 19 tuổi, tôi mới vào trường Giám tập văn bài. Bấy giờ văn học đang thịnh hành, sĩ tử tới học đông như mây tụ, người trúng bảng tới gần 300, tôi trúng thứ 15. Khi đến lĩnh quyển, quan Tri giám người Thiên Kiệm, Thanh Liêm là Thượng thư họ Trương, lấy quyển của tôi xem, khen “được” đến hai ba lần và nói rằng: “Ta đỗ đại khoa năm 21 tuổi mà văn chương chưa được như thế này. Cố lên! Cố lên!”.
      Và đây là sự việc diễn ra sau cuộc thi cuối cùng (thi Tiến sĩ năm 1748):
      " Xem xướng danh xong, tôi ra về, giữa đường gặp con trai quan Thượng thư người Hoạch Trạch là Nhữ công, dừng lại nói chuyện. Bấy giờ, ông ta không được thủ khoa, hơi phật ý. Tôi an ủi. Ông bỗng nhiên nói: “ Khoa này trúng đại danh chỉ có huynh và tôi. Người khác tuy đỗ đứng trên, nhưng không đáng ngại”. Lúc đó, tôi cũng hơi biết, tự nghĩ rằng, tuy ông nói vậy, nhưng thực ra là tự nói về bản thân, bèn đưa đẩy: “ Huynh là bậc kì tài trong thiên hạ, chứ không phải của riêng xứ ta. Còn như danh sĩ trường ta, cũng rất nhiều người như đệ đây, sao so được với huynh”. Ông nói: “Không đúng! Tôi không phải là kẻ nịnh đời, nhưng đã từng bàn luận với các quan huyện, phủ, xin kể qua các danh sĩ đỗ cao các huyện, quyển trúng chỉ có một hai câu hay. Nhưng xem bài của huynh, không phải lọai bình thường. Đại thành khoa này là huynh và đệ, không khác được”.
      Về nguyên nhân thi trượt các khoa trước, tác giả cũng thành thật nhận ra:
      " Bấy giờ, tôi có một người bạn ở Nhuế Đông, thường xuyên đi lại, nói rằng: “Học vấn của huynh toàn những thứ đâu đâu, thực không thể có kết quả. Cần phải theo thời thế mới được”. Nhờ đó, tôi bỗng nhiên tỉnh ngộ, bèn khổ luyện văn bài, trước tác toàn thứ văn khoa cử, rất biết cần phải chuẩn bị như thế nào cho cuộc ứng thí… (Nguyễn Đăng Na dịch).

       Theo Nguyễn Đăng Na, kí tự thuật của Trần Tiến, được ông “ viết rất hay. Ý tứ thì sâu kín nhưng rõ ràng, mạch lạc. Nội dung tác phẩm lại phong phú và hấp dẫn. Đúng như người đời thường nói, văn của đại gia, ý tại ngôn ngoại”… ( Lời giới thiệu Niên phả lục, sách đã dẫn).

       Ông mất giờ Mão ngày 7 / 5 năm Canh Dần ( 1770) tại nơi làm việc, các quan đưa về mai táng tại quê nhà. Vua Lê Hiển Tông ban tên thụy cho ông là Trung Cẩn, sau truy thăng ông tới chức Lễ bộ thượng thư. Bộ Lại và bộ Lễ là hai bộ cao nhất trong triều đình, tể tướng ( tham tụng) thường kiêm bộ trưởng ( thượng thư) một trong hai bộ trên.


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 20.12.2013.