Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới







ĐỨC PHÁP CHỦ GIỮA ĐỜI THƯỜNG





Trong ba ngày mồng 4 đến 6 tháng 11 Âm lịch, tại Tổ đình Kim Liên, chùa Đồng Đắc, xã Đồng Hướng, huyện Kim Sơn- tỉnh Ninh Bình, nơi xuất gia tu hành và trở thành sư Tổ Tổ đình Kim Liên của Đại lão Hòa thượng Thích Đức Nhuận, Đệ nhất Pháp chủ Giáo Hội Phật giáo Việt Nam, đã diễn ra Đại lễ tưởng niệm Ngài thành kính, trang nghiêm, thanh tịnh và thiết thực, lợi ích nhân sinh.
Sau các nghi lễ tôn nghiêm truyền thống Phật giáo, đã tổ chức Hội thảo Khoa học về sự nghiệp tu hành Đạo của Đức Đệ Nhất Pháp chủ GHPGVN.
Hội thảo với sự tham dự của Hòa thượng Thích Thanh Sam, phó Giáo chủ GHPGVN, Các chư Hòa Thượng ba miền Bắc, Trung, Nam, các nhà nghiên cứu Văn hóa, Phật học.
Hòa Thượng Thích Bảo Nghiêm, Thượng tọa Thích Thọ Lạc, Giáo sư Nguyễn Quốc Tuấn, Viện trưởng Viện nghiên cứu Phật giáo, GS Lê Mạnh Thát… chủ tọa Hội thảo.
Hơn ba mươi bản báo cáo Khoa học soi tỏ rạng rỡ ánh Đạo Vàng Việt Nam trong cuộc đời tu hành của Đức Đệ Nhất Pháp chủ Thích Đức Nhuận.
Nhà văn Mai Thục gửi đến Việt Văn Mới tham luận hội thảo của Thượng tọa Thích Thọ Lạc và Tỳ kheo Ni Thích Hương Nhũ.

Việt Văn Mới trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.


Cách đây vừa tròn 20 năm, vào lúc 5 giờ 5 phút, ngày 11 tháng 11 năm Quý Dậu, Phật giáo Việt Nam mất đi một bậc “long tượng khả đống” - Đức Đệ nhất Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam thượng Đức hạ Nhuận.

Sau hơn 20 năm biến đổi nương dâu, hôm nay, ngày 06 tháng 11 năm Quý Tỵ, toàn thể chư tôn giáo phẩm của Hội đồng Chứng minh và Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cùng môn nhân hiếu quyến vân tập về Tổ đình Kim Liên, nơi sơ tâm xuất gia học đạo và hành đạo của Hòa thượng Thích Đức Nhuận, trước là tưởng nhớ và ghi nhận về sự nghiệp cao dày của Ngài đối với Giáo hội, sau là học tập và chấn hưng đạo phong của Ngài đối với hậu bối. Thay lời môn nhân hiếu quyến, cho phép con được gửi lời vấn an sức khoẻ đến hiện tọa chư tôn thiền đức, cùng lời chúc an khang đến toàn thể quý liệt vị khách quý tham dự buổi hội thảo ngày hôm nay.

Kính bạch chư tôn thiền đức

Kính thưa liệt quý vị

Là một môn nhân được trực tiếp sớm hôm hầu cận bên Hòa thượng Thích Đức Nhuận, khi khoẻ mạnh cũng như khi bệnh duyên, tôi có may mắn được Ngài chỉ bảo tận tình, qua từng hành hoạt hàng ngày, lẫn được chứng kiến từng dấu chân mà Ngài đã từng đi qua. Qua từng lời dạy, qua từng hành động, qua từng dáng đi mà chúng tôi được tiếp nhận mỗi ngày, đó còn hơn cả là một kho tàng vô giá mà chúng tôi có được.

Tôi nhớ những ngày sơ tâm học đạo, với tập khí thế gian vẫn còn đọng lại ít nhiều, dạy người như uốn một mầm non, Ngài nhẹ nhàng chỉ bảo anh em chúng tôi trong từng lời nói, từng bước đi. Có lần, vì vội vàng cho kịp giờ tụng kinh, việc trải chiếu không được ngay hàng thẳng lối, Ngài vừa sắp lại chiếu, vừa dạy dỗ anh em chúng tôi: “Cách trải chiếu cũng thể hiện tính cách con người. Biết theo thứ lớp tôn ti thì trong cuộc sống mới biết mình, biết người, biết trên biết dưới”. Rồi khi vào mõ chuẩn bị thời khoá tụng kinh, Ngài cũng ân cần khuyên bảo: “Tập đánh mõ nhẹ nhàng như nước chảy, tiếng mõ dứt khoát nhưng thanh âm phải đều đặn. Nghe tiếng mõ của một người, cũng đủ biết tính khí người đó là trầm hay náo, nhẹ nhàng hay mạnh bạo, tỉnh giác hay bất an…”.

Trước những đại lễ hay khi chùa có đình đám giỗ chạp, bao giờ Ngài cũng nhóm họp đại chúng, sắp đặt công việc chỉnh chu. Ngài quan tâm đến từng chi tiết nhỏ nhất, như dọn mâm cơm phải theo luật đăng đối gọn gàng, rồi không vì khách đông mà quên những mảnh đời cơ nhỡ bất hạnh. Mặc dù trong những ngày đình đám bận rộn, Ngài vẫn bớt chút thời gian ghé ngang nhà bếp, dặn dò các bác làm bếp nhớ dành mâm riêng cho những người lỡ đường xin ăn.

Trong lao động chấp tác, cùng với những nhát cuốc Ngài đưa xuống là một lời dạy nhẹ nhàng Ngài dành cho thế hệ hậu học. Tôi nhớ những ngày còn nhỏ, vừa được lao động cùng Ngài, vừa được Ngài chỉ bảo cách trồng cây, cách gieo hạt, cách phân chia những luống ruộng, bởi với đời sống của người xuất gia, lao động không chỉ là lao động, phân chia luống vườn không chỉ là phân chia luống vườn, mà đó còn là những bài học về đạo đức làm người, về việc giữ gìn nhân cách người xuất gia. Cách dạy như không dạy của Ngài là một trong những cách giáo dục giá trị nhất vẫn còn hằn in trên trí nhớ của chúng tôi.

Ngoài thời gian lo công việc đa đoan của Giáo hội, với cương vị là Giám luật Phật giáo tỉnh Ninh Bình, rồi Phó Hội trưởng cho đến Hội trưởng Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam, Ngài vẫn luôn quan tâm đến đời sống của từng người học trò thân cận. Vào những đêm đông giá lạnh, Ngài âm thầm đưa cho anh em chúng tôi (Chính Tín và Thọ Lạc) hai chiếc bồ đoàn nhỏ mà Ngài vừa được tặng để anh em chúng tôi học cho đỡ rét. Khi đại chúng đau ốm, Ngài sốt sắng kêu bác sỹ tới khám, chăm lo cho anh em từng viên thuốc, từng bát cháo như người mẹ hiền chăm sóc con thơ. Tình cảm đó, hành động đó toát ra từ Ngài một cách rất tự nhiên, không gượng ép, không khiên cưỡng khiến anh em chúng tôi, dẫu xuất gia xa gia đình, vẫn cảm nhận được hơi ấm như từ chính cha mẹ của mình.

Trên bước đường tu hành, Ngài vẫn thường dạy đồ chúng phải biết lấy giới luật Phật làm thầy, làm kim chỉ nam trong từng ý niệm, lời nói cũng như hành động. Chỉ khi biết tôn thờ giới luật và tự khép mình vào khuôn khổ của giới luật thì chân trời giải thoát mới hé mở cho mỗi hành giả. Ngài từng dạy tôi rằng: “Người tu phải hướng tới cái nhìn như thật về cuộc sống, mà muốn có cái nhìn như thật về cuộc sống thì tâm phải định tĩnh, chính niệm. Muốn có chính niệm thì không gì hơn là phải biết tự khép mình vào giới luật”.

Những lúc nông nhàn hay anh em có đôi chút biếng trễ trong tu học, Ngài thường dạy “tĩnh toạ đương tư kỷ quá, nhàn đàm mạc thuyết nhân phi”. Ngài khuyến tấn anh em siêng năng tinh tiến tu hành, hạn chế tối đa những cuộc trò chuyện thị phi, một điều mà tuổi trẻ nào trong số anh em chúng tôi cũng ham vui và yêu thích. Ngài còn dạy anh em chúng tôi, khi nhìn người thì cố nhìn về điều thiện, điều tốt mà người đã làm, khi nói về người khác thì phải biết “ẩn ác dương thiện”, có như vậy đại chúng mới giữ được sự yêu thương, đoàn kết và kính trọng nhau.

Đối với việc học, Ngài thường yêu cầu anh em chúng tôi phải biết học đến đâu thì cố thực hành đến đó. “Hành giải phải tương ưng”, thế mới không uổng phí việc học, thế mới không tự biến mình thành con mọt sách. Trong cuộc sống, Ngài ví việc tu hành cũng như lội ngược dòng nước, không tiến ắt sẽ lùi. Như gà ấp trứng, phải liên tục bền bỉ thì mới có thành tựu.

Thời gian sau này, do công việc Phật sự của Ngài càng lúc càng bận rộn, Ngài gửi anh em chúng tôi đi tham học phương xa. Trước khi đi học, Ngài vẫn ân cần nhắc nhở anh em phải biết tự coi mình như cốc nước vơi, để lúc nào cũng thấy cần phải học, cần phải rót thêm. Trên lộ trình tu tập, việc học không bao giờ cho là đủ.

Mỗi lần đến Tết hay những dịp khánh tuế, Ngài vẫn không ngừng khuyến tấn anh em chúng tôi không ngừng học tập. Mỗi lần được gần Ngài là mỗi lần chúng tôi được chứng kiến một nhân chứng sống cho những bài học đạo đức “cao giả nguy, ty giả an”, “vị du cao như tâm dụ ty”, “học bất sỉ hạ vấn”… hiển bày trước mắt.

Suốt cuộc đời Ngài, với đủ mọi lĩnh vực đã trải qua, với đủ mọi cương vị đã hành hoá, có thể nói rằng, cuộc sống của Ngài như thế nào thì lời dạy của Ngài như vậy, lời dạy của Ngài như thế nào thì cuộc sống của Ngài như vậy. Uy phong của Ngài không đến từ cương vị Ngài phụ trách, mà đến từ chính nếp sống bình dân cùng những lời dạy đạo đức rõ ràng và chuẩn mực mà Ngài đã truyền trao. Hàng nghìn giới tử, từ trong Nam ra ngoài Bắc, ở trong nước cũng như ngoài nước, từ những vị đạo cao đức trọng đến những vị học giả uy tín lẫy lừng, đều tự tìm đến Ngài để cầu thỉnh giới pháp, đủ nói lên “hương giải thoát” đích thực của một vị “long tượng Thiền môn”.

Kính bạch chư tôn thiền đức

Kính thưa liệt quý vị

Hoà thượng Thích Đức Nghiệp từng viết: “Với đức độ siêu thoát và viên dung của Đức Pháp chủ, chúng ta không thể dùng bất cứ tiêu chuẩn giá trị nào, bằng danh lợi hay khen chê, mà đánh giá được. Bởi lẽ tự thân Ngài đã là một mực thước đầy đủ phúc tuệ, vượt ngoài những mực thước thường tình. Nghĩa là, không phải nhờ có sự ca ngợi của chúng ta mà Ngài mới được cao cả, và trái lại, cũng không phải vì sự chê bai của thế nhân mà Ngài bị thấp xuống. Nói cách khác, từ lúc bình sinh tới khi nhập diệt, Ngài đã, đang và sẽ mãi mãi là hiện thân của trí tuệ và từ bi, được thể hiện cụ thể bằng ý nghĩ, lời nói và việc làm trong sứ mạng hoằng pháp, lợi sinh để phụng sự Đạo pháp và Dân tộc”(1). Chính vì thế, hôm nay, Giáo hội Phật giáo Việt Nam long trọng tổ chức kỷ niệm 20 năm Ngài nhập diệt, không phải là để ca ngợi tán dương công hạnh của Ngài, một người đã vượt lên mọi khen chê đời thường, mà chính là để ôn lại công hạnh của Ngài, như một tấm gương sáng cho hậu thế soi mình và nương theo.

Trước khi dứt lời, thay mặt môn nhân hiếu quyến, một lần nữa cho phép con được dâng lên chư tôn thiền đức lời chúc pháp thể khinh an, tuệ đăng thường chiếu. Kính chúc chư vị đại biểu khách quý sức khoẻ và thành đạt. Kính chúc Hội thảo thành tựu viên mãn.

Nam Mô Kim Liên Tháp, Ma Ha Sa Môn, Tỷ Khiêu Bồ Tát Giới, pháp húy Thích Thanh Thiệu, pháp hiệu Đức Nhuận, pháp danh Đức Huy, thế danh Phạm Đức Hạp giác linh thiền tọa hạ - tác đại chứng minh./.


1. Giới tử Thích Đức Nghiệp (2010), “Truy niệm tôn sư”, trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Đức Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hòa thượng Thích Đức Nhuận (1897-1993), Nxb. Phương Đông.
Trụ trì Tổ đình Kim Liên
Trưởng ban Trị sự GHPGVN tỉnh Ninh Bình

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 14.12.2013.