Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




LỄ HỘI BÀ CHÚA XỨ

NÚI SAM CHÂU ĐỐC




Lễ vía Bà Chúa Xứ hằng năm được tổ chức tại làng Vĩnh Tế, quận Châu Phú, tỉnh Châu Đốc. Làng Vĩnh Tế nằm dưới chân núi Sam, còn có tên là Vĩnh Tế Sơn, một ngọn núi các tỉnh lỵ Châu Đốc chừng 5 km, trên đường đi đến Tịnh Biên. Miếu Bà ở ngay chân núi, mặt tiền nhìn về phía đồng ruộng, lưng quay về phía mặt đường. Hằng năm ngày lễ vía Bà Chúa Xứ được cử hành vào ngày 26 tháng 4 âm lịch, nhưng được chuẩn bị từ mấy tuần lễ trước đó.

Trong mỗi kỳ lễ, dân chúng khắp các vùng Châu Đốc, An Giang, Kiến Phong, Sa Đéc, Vĩnh Long, Cần Thơ, hết đoàn nầy sang đoàn khác kéo nhau về chuẩn bị dự lễ đông như kiến. Sự tích: Sự tích Bà Chúa Xứ của núi Sam được ghi chép qua nhiều tài liệu trong vùng. Bà cũng được dân chúng tôn là Thánh Mẫu Nương Nương, với những sự tích và pháp thuật rất huyền bí và mầu nhiệm, được truyền tụng qua nhiều huyền thoại khác nhau, tùy ứng nghiệm của mỗi người.

(a) Vết tích : Theo những chứng liệu của làng Vĩnh Tế thì: Tượng của Bà Chúa Xứ trước kia được ngự trị ngay trên đỉnh của núi Sam, nhưng không biết từ đâu lại. Ngày nay vị trí nầy chỉ còn lưu lại hai vết lõm lớn,trên một chiếc bệ xanh.

(b) Về tượng Bà Chúa Xứ: Cũng theo nhiều chứng liệu đáng tin cậy thì pho tượng Bà Chuá Xứ nguyên là của người Thủy Chân Lạp. Khi những quân cướp trong vùng trông thấy bức tượng Bà Chúa Xứ mưu toan đánh cắp mang về bán, nhưng không thể nào khiêng nổi dù pho tượng chưa đầy một thước. Khi người Việt đến định cư, lập nghiệp tại vùng quanh, thôn xóm được dựng lên chung quanh ngọn núi Sam. Họ được nhiều tin đồn về sự linh ứng của Bà Chúa Xứ, bèn họp nhau lại toan mang tượng Bà về xây am miếu để thờ phụng, nhưng không thể nào khiêng về nổi.

Dân làng tổ chức cuộc cúng tế cầu khẩn, mong được toại nguyện. Hồn của Bà Chúa Xứ được nhập đồng vào một vị nữ tu đạo hạnh cao thâm trong vùng nầy, và hồn xưng danh là Bà Chuá Xứ.Bà truyền dân chúng chọn 40 nữ đồng trinh trong làng, ăn chay, nằm đất, tắm rửa sạch sẽ, sẽ có thể cung thỉnh pho tượng của Bà về thờ phụng. Dân chúng trong làng đã làm theo đúng lời của đồng cốt ban cho. Quả nhiên những nữ đồng trinh nầy có thể đưa pho tượng của Bà về làng Vĩnh Tế không mấy khó khăn. Khi pho tượng đến vùng trung tâm của làng, thì bỗng nhiên sức nặng đè lên khủng khiếp và không thể khiêng đi thêm nữa. Mọi người hiểu rằng đây chính là nơi lập đền thờ và dựng tượng an ngự. Ngôi miếu Bà Chúa Xứ được dụng lên từ đó. Theo nhiều nhà nghiên cứu di chỉ trong làng nầy thì đó là ngày 23 tháng tư âm lịch (1812).

(c) Hiễn linh, trừ cướp: Nhiều truyền thuyết nói về sự linh ứng của Bà Chúa Xứ. Một trong những thuyết đó cho biết: Khi Thoại Ngọc Hầu (Nguyễn Văn Thoại) được vua Minh Mạng (1820 - 1840) được cử đến trấn giữ vùng nầy, thì thường hay bị quân cướp người Cao Miên sang quấy rối không ngừng, khiến dân chúng ta thán khắp nơi. Nhưng lực lượng của Thoại Ngọc Hầu cũng không chống giữ được. Phu nhân của Thoại Ngọc Hầu thường đến cúng bái lể Bà Chúa Xứ, để xin Ngài phù hộ cho chồng mình dẹp yên được bọn giặc cướp nầy, tái lập cảnh an cư, lạc nghiệp cho dân chúng trong vùng nầy. Lời nguyện cầu của Phu nhân được toại nguyện. Bà Chúa Xứ đã giúp cho binh sĩ của Thoại Ngọc Hầu tìm kế để thanh toán sạch bọn giặc rất dễ dàng. Và cũng để cảm tạ công ơn của Bà Chúa Xứ, Thoại Ngọc Hầu Phu nhân đã xuất tiền cho xây cất lại miếu thờ Bà Chúa Xứ rất trang nghiêm. Nhân dịp khánh thành, dân chúng trong vùng nầy đã mở hội tế rất long trọng, linh đình suốt trong ba ngày của hạ tuần tháng tư âm lịch. Kể từ đó về sau, hằng năm đến dịp nầy lại tổ chức lễ hội Bà Chúa Xứ.

(d) Linh ứng: Theo lời đồn của các vị bô lão trong làng nầy, thì sự linh ứng của Bà Chúa Xứ rất cao. Chẳng hạn như vào tháng 5 năm 1912, một tên tướng cướp khét tiếng của người Cao Miên tên là Nặc Phu Nông nghe tin tượng Bà Chúa Xứ có nhiều ngọc ngà châu báu, nên đem thủ hạ đến cướp mang về. Nhưng khi vừa vào miếu thờ, thì bỗng nhiên trời sấm sét, bão tố nổi lên khủng khiếp. Bọn cướp đều bị đứt tay, đứt chân, thương tích đầy mình, phần đông đều bỏ mạng, kể cả tên đầu nậu. Xác của chúng cũng bị cuốn phăng xuống con kinh gần đó, để nước cuốn phăng đi. Nhiều lời đồn về những âm mưu cướp giật, phá hoại khác cũng đều bị sự linh ứng của Bà Chúa Xứ trừ khử được chúng.

(e) Về vị trí của ngôi miếu, được kể như sau: trước kia tượng của Bà Chúa Xứ nhìn thẳng ra mặt đường. Một số dân chúng qua lại trước miếu đã không ngả nón chào. Bà cho là vô lễ. Sau đó thì Bà nhập đồng cho một nữ tu trong làng báo cho biết tình trạng nầy và khuyên dân làng nên chuyển hướng tượng Bà quay về hướng khác, nhìn về phía trong còn lưng thì quay ra hướng ngoài. Sự linh ứng của Bà Chúa Xứ là thường nhập đồng chữa bệnh cho dân chúng trong làng, kể cả những chứng bệnh nan y nữa. Cho nên hằng ngày số người khắp nơi đến lễ bái, cầu khẩn Bà Chúa Xứ rất đông đảo. Ngày lễ vía Bà hằng năm cũng là dịp để thập phương đến cầu đảo. Nhiều cuộc lên đồng bóng để thỉnh ý Bà Chúa Xứ khi muốn dâng xin một việc gì, tránh tai họa gì, chữa trị căn bệnh gì. Đông đảo nhất là trong những ngày 24, 25 và 25 tháng Tư âm lịch trong mỗi năm.

Nguồn gốc của pho tượng núi Sam

Nhiều ý kiến khác nhau về pho tượng Bà ở núi Sam. Một truyền thuyết cho rằng: Pho tượng hiện tại là cốt tượng Phật được Thọai Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại trong thời gian vào bình định vùng nầy và Xiêm La đã cho quân sĩ chuyển từ thành Trấn Tây về thờ phượng. Tuy nhiên một số sử liệu liên quan đến việc xây dựng trong thờikỳ nầy thì không thấy nhắc đến.

Một số tài liệu khác đưa nhận định: Cột tượng Bà Chúa Xứ vốn là một pho tượng người đàn ông được tạc ở tư thế ngồi. Tuy nhiên tác giả là ai, thì ý kiến cũng không giống nhau. Phần đông các tác giả dựa vào truyền thuyết để khẳng định pho tượng đó vốn có từ trên đỉnh núi Sam trước đây. Về sau được thay đổi, tô màu, thay y trang thành đàn Bà. Đây cũng là giả thuyết. Muốn chứng minh rõ hơn, họ nói đến một bệ đá trên đỉnh núi Sam để đặt pho tượng vì hai dấu chân so ra vừa ăn khớp.

Một số nhà nghiên cứu khác sau khi nêu ra những điều trùng hợp giữa chất đá chế tác về tượng và bệ đá, và chính sự trùng khít nầy có thể lắp được phần chân pho tượng với lỗ mộng hình vuông giữa bệ đá. Tượng Bà được chế tác để đặt trên phiến đáở đỉnh Sam.Về hướng đặt pho tượng các tác giả đều đưa nhận định giống nhau. Trước đây tượng Bà được đặt quay mặt ra đường cái quan, nghĩa là mặt kia úp về phía núi. Do đó nhiều người đi ngang qua không chào. Bà nổi giận và báo mộng cho viên chức trong làng nên quay tượng lại hướng về phía cánh đồng như hướng hiện nay. Theo hướng đó, cách nơi Bà toạ không xa là đường biên giới.Về nhận diện nguồn gốc chế tác, những nhà nghiên cứu chỉ có thể nhận diện được vền phía bên ngoài như kiểu mũ đội, khoác áo xiêm máy lớp, mặt được sơn lại...

Không ai dám ngang nhiên tự tiện lật mũ hay cởi áo Bà,vì trước đây không biết bao nhiêu chuyện kể về những người ngang nhiên động chạm đến đã chết bắt đắc kỳ tử. Việc nghiên cứu cốt tượng cũng có thể thêm được vài tia sáng mới. Tượng cao khoảng 1,2 mét, được đúc liền với một thớt đá cùng loại, hình tương đối tròn, có vành rộng hơn điểm tiếp giáp các phần của tượng và thớt các phần của tượng với chốt chừng 10cm. Tác giả bức tượng đã dùng thớt đá làm bệ tượng, vì vậy, nếu đặt tượng riêng, không cần xây thêm bệ đỡ, tượng vẫn được ngồi vững chãi. Chân trái của tượng được xếp bằng tròn, bàn chân trái để giáp bàn chân phải. Chân phải đặt trong tư thế co lại, chống thẳng. Tay trái để ở tư thế chống nẹ (nạnh), bàn tay soãi chống xuống bệ đá, phía sau đùi trái. Tóc quắn thành những búp xoăn kiểu "sumi" của thổ dân Jamaica, xoả xuống trùm trán, có những búp đến ngang bả vai. Có một vành đai như vành đai vương miện đội trên đầu phía trên vành tai. Vành nầy có hoa văn hình móc câu; trên vành đó, trước phía trán, nổi lên những hình hoa văn hình ngọn lửa xung quanh một hình tròn ở giữa.

Dựa trên những chi tiết vừa nói, một số tác giả đã đưa nhận định: Phong cách, kiểu dáng của pho tượng có một số điểm khác với những hình tượng thời cổ. Theo dáng ngồi, có một số điểm trông giống như tượng tại chùa Tây Phương. Nếu so sánh với tượng của những Thánh Mẫu khác, có một số điểm khác về tư thế ngồi, cách để tay,cách xếp chân, trang phục, phong thái.

Điện thờ Thần Tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ ở Châu Đốc - An Giang cũng như cách thờ Mẫu ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long có nguồn gốc sâu xabắt nguồn từ tín ngưỡng thờ Mẹ (Mẫu) của người Việt vùng đất nầy. Ở miếu Bà Chúa Xứ, ta không thấy hình ảnh nguyên vẹn của những điện thờ Tam Toà Thánh Mẫu . Tại đây không có những đan xen chồng chéovề các pho tượng cùng chư vị Thần. Miếu Bà cũng không có nhiều bàn và hình thức đơn giản hơn các bàn thờ Thánh Mẫu ở Bắc và ở Trung. Nếu nhìn theo một trục thẳng hướng chính diện, phía trong cùng,nơi đặt trọng tâm của điện thờ là tượng Bà uy nghi ngự trên bệ cao nhất của điện. Hai bên Bà có hai con hạc trắng đứng chầu; hạc đặt trên lưng ruà. Hạc biểu trưng tánh Dương. Rùa biểu trưng tánh Âm. Ngang với bệ đặt tượng Bà là bệ thờ Linga bằng đá xám, cao khoảng 70cm, đường kính khoảng 40cm. Phần thân Linga có tám cạnh, đầu tròn và nhẵn. Bàn thờ Linga được gọi là bàn thờ Cậu. Bên trái bệ thờ trên có đặt một tượng nữ nhỏ, gọi là bàn thờ Cô. Lối thờ nầy theo tín ngưỡng phồn thực. Phía ngoài, ngay trước tượng Bà là nơi thờ những Hội đồng. Đây là nơi thờ những nhân vật lịch sử trong vùng.

Lễ hội:

Những lễ hội và diễn xuớng về thờ Bà Chúa Xứ hàng năm được ấn định như sau: - Ngày 15, 16 tháng giêng: Lễ Âm Hồn nhân ngày Xuân.- Ngày 24, 25 và 26 tháng 4: lễ vía (Chính thức) bà Chúa Xứ. - Ngày 25 tháng 5: Cúng ông Tín. - Ngày 5 tháng 6: lễ cúng ông (và bà) Thoại Ngọc Hầu Nguyễn văn Thọai. - Ngày 14, 15 16 tháng 8: Cúng đình thần. - Ngày 25 tháng 12: Cúng Lạp Miếu. Cứ mỗi ngày lễ đều được sửa soạn trước trong nhiều ngày cho thật chu đáo, huy động nhiều nhân lực, vật lực, cho nên dường như quanh năm suốt tháng những thành viên trong ban Trị Sự đều bận rộn hết lễ nầy đến lễ khác. Đó là chưa kể đến những người hữu sự trong vùng hay từ nhiều nơi khác đến xin tổ chức lễ cho gia đình thân thuộc của mình. Ngày lễ quan trọng nhất thì vẫn là ngày kỵ của bà Chúa Xứ.

Hàng năm vào tháng tư trong những ngày từ 23 đến 27 (âm lịch) lễ hội được tổ chức. Ngày vía chính là 25 (âm lịch). Đây cũng là thời điểm mà người nông dân trong vùng đã sạ lúa xong. Lễ hội Bà Chúa Xứ đồng thời cũng là lễ cầu mưa của những nông dân trong vùng. Trình tự và nghi thức tiến hành lễ Vía Bà được tổ chức như sau: Lễ tắm Bà (mộc dục): Lễ nầy được tổ chức vào lúc 24 giờ khuya của đêm 23 rạng ngày 24. Đây là lễ lau chùi bụi bặm trên tượng Bà và thay áo mão cho Bà.vào 23 giờ 30, vị chánh bái, Hội đồng quản trị cùng những bô lão trong làng có mặt ở chánh điện. Những người dâng áo mão cho Bà được vinh dự được đựng trong khu vực chánh điện. Đúng 24 giờ lễ tắm Bà chính thức cử hành. Nghi thức đầu tiên là thắp nhang, đốt đèn, đốt trầm hương. Ông chánh bái và hai vị bô lão niệm hương, dâng rượu, trà. Kế đến ban Quản trị lần lượt niệm hương và cầu nguyện. Bức màn vải có viền ren thêu chữ, hoa nhiều màu sặcsỡ được kéo ngang bệ thờ che khuất khu vực đặt tượng. Bốn thiếu nữ (đồng trinh) được chọn lựa, phân công từ trước vén màn bước vào trong lo việc tắm rửa. Họ cởi áo mão, khăn đội trên tượng, rồi lần lượt đến đai áo, áo ngoài, áo trong, để lộ toàn thân bằng đá sa thạch ở tư thế ngồi.

Dưới chân tượng có đặt một chậu nhỏ đựng nước hoa xông lên thơm ngào ngạt. Hàng chục chiếc khăn đỏ được nhúng vào chậu, vắt khô rồi lau lên cốt tượng. Số lượng khăn bông của du khách mang đến hàng trăm, hàng ngàn, nên để vừa lòng mọi người, những thiếu nữ thay đổi khăn không ngừng. Sau đó, một mâm đầy lọ nước hoa đắt tiền được dâng lên, mỗi lọ đều được xịt một ít vào tượng cốt,xong trả lại cho chủ. Người dâng cúng kính cẩn mang về nhà, xem như một vật gia bảo. Kế đến một bộ áo đẹp nhất dâng cúng trong kỳ lễ hội được khoác lên tượng, thắt dây đai áo rộng và các bộ phận khác.

Sau cùng đội mão lên. Khi lễ tắm Bà đã xong, bức màn được kéo qua một bên, mọi người chen nhau đến gần để chiêm ngưỡng và lễ bái; ai cũng có đến sát để xin lộc Bà. Lộc Bà bây giờ chỉ là một vài cành hoa, một vài trái cây để trên bàn; ngày trước thì người ta dùng nước tắm xem như nước Thánh để chữa bệnh; khăn lau thì được mang về để trừ ma tà.

Lễ thỉnh sắc: Đây là lễ thỉnh sắc từ lăng Thoại Ngọc Hầu về miếu thờ bà. Lễ nầy được tổ chức vào lúc 15 giờ ngày 24. Tại miếu Bà, các bô lão trong làng và Hội đồng quản trị lễ phục chỉnh tề sang thỉnh sắc ở lăng Thoại Ngọc Hầu nằm đối diện với miếu Bà. Đoàn thỉnh sắc rất đông đúc từ viên chức, bô lão, quan khách đến dân chúng. Đội múa lân của miếu Bà đi trước dẫn lộ. Kế đến là vị chánh bái, hai bô lão đại diện và các chức sắc. Những người đi dự đều cầm cờ phướn theo hầu trước và sau long đình. Khi đến trước điện thờ Thoại Ngọc Hầu, mọi người dâng hoa, niệm hương tế lễ. Sau phần nghi lễ, đoàn cung thỉnh bốn bài vị lên long đình về miếu. Bốn bài vị đó là: bài vị của Thoại Ngọc Hầu, bên trái là bài vị Bà chánh phẩm Châu Thị Tế, bên phải là bài vị bà nhị phẩm Trương Thị Miệt, cuối cùng là bài vị Hội đồng.

Khi về đến miếu, các bài vị đều được an vị ngôi chính điện. Ban Quản trị làm lễ dâng hương thỉnh an. Buổi lễ thỉnh sắc chấm dứt. Lễ túc yết: Lễ nầy được tổ chức vào lúc 0 giờ ngày 26 tháng tư (âm lịch).Những người tham gia chủ lễ có: chánh bái, các bô lão, ban quản trị; phía sau có 4 học trò và 4 đạo thầy. Vật cúng là: heo trắng,mâm xôi, mâm trái cây, mâm trầu cao, một đĩa gạo muối. Vào lễ, vịchánh bái niêm hương. Hai người xướng lễ thay phiên nhau điều hành toàn thể buổi lễ theo trình tự sắp đặt sẵn. Kế đến là phần khởi cổ: nhạc trỗi lên, chuông trống bát nhã, dâng hương, chúc tửu, hiến trà. Dâng hoa rồi cúng rượu ba tuần, cúng trà ba lần. Người chủ sớ đọc văn tế. Heo cúng được lật ngữa trước khi khiêng đi. Lễ cáo chung.

Lễ xây chầu:

Xây chầu đây có nghĩa là diễn xướng (hát bội) kể lại sự tích và công đức Bà Chúa Xứ và Thoại Ngọc Hầu. Cũng có khi diễn những vỡ tuồng anh hùng liệt sĩ khác như: Trần Hưng Đạo, Hai Bà Trưng, Trần Bình Trọng, Sát Thát. Bài bản đã được biên dựng từ trước. Mỗi năm có thêm phần bổ sung trong trường hợp những phần nào cần được cập nhật hoá. Lễ xây chầu được tổ chức trước chánh điện. Vị chánh bái khấn vái, dâng lễ và trình tấu về ý nghĩa của lễ. Trước khi xây chầu, vịchánh bái làm lễ Tam sái. Tam sái là 3 lượt rãi nước bằng nhành dương liễu. Nước rải tượng trưng cho mưa rơi xuống, cây cối mùa màng tốt tươi.

Lễ chánh tế: Lễ nầy được tổ chức vào 4 giờ sáng ngày 26 tháng tư (âm lịch). Nghi thức cúng tế đại cương gần giống như lễ túc yết. Lễ nầy là phần quan trọng nhất cũng là phần hoàn mãn cho lễ tế. Sau đó thì thỉnh những bài vị trở về lăng Thoại Ngọc Hầu.

Lễ hậu tế: Lễ nầy cũng được gọi là lễ hậu tạ là phần sau cùng của buổi lễ hội và diễn xướng; lễ nầy được tổ chức rất công phu vào buổi chiều ngày 26 có thể kéo dài đến sáng 27 tháng tư. Quan những điều trình bày trên đây, tại quần thể những đền miếu bà Chúa Xứ, một trong những trung tâm thờ Thánh Mẫu nổi tiếng nhất ở miền Nam, lễ hội và diễn xướng được tổ chức, trên cơ bản thì cũng giống như các lễ hội thường gặp ở những đình làng miền Nam. Cũng lễ thỉnh sắc, lễ túc yết, lễ xây chầu hát bộ, lễ hậu tế, lễ hồi sắc. Riêng vế tiết mục "Tắm Bà", thực chất vẫn là lễ "Mộc Dục", mang tính chất cầu nước, ơn nước, nhưng nó được tôn lên thiêng liêng khác thường. Vì mang ý nghĩa thay cũ đổi mới, tống cựu nghinh tân theo nhịp của từng chu kỳ thời gian vụ mùa làm ăn của người nông dân, cũng là một chu kỳ buôn bán theo vòng thời tiết một năm.

Cùng với những trung tâm thờ Mẫu trong phạm vi vùng, tại những nơi thờ cúng tại miền Nam Việt Nam, một trong những đặc tính chung là: Việc thờ cúng Mẫu rất phổ biến, lan rộng đến chùa chiền và đình làng, khắp xóm ấp nơi nào cũng tổ chức phạm vi lớn nhỏ khác nhau. Thành thử, những dịp vía Bà được tổ chức rộng khắp ở mọi đình miếu; hằng năm vào đầu Xuân thường gắn liền với lễ Kỳ Yên để cầu mong cho một năm mưa thuận giá hoà, đời sống vững vàng hơn. Đây cũng là lễ cầu mưa của nông dân, đồng thời cũng là lễ mừng năm mới, chuẩn bị cho mùa màng mới.

Nguồn Gốc

Qua những cuộc nghiên cứu hiện nay, đạo Thiên Tiên Thánh Mẫu trở thành một thứ tín ngưỡng phức hợp, bao gồm việc thờ cúng Mẫu từbắc, tín ngưỡng có nguồn gốc địa phương, lại cộng thêm việc thần thánh hoá của vua Đồng Khánh và các vua sau. hàng năm có những ngày lễ "Tháng tám lễ cha, tháng ba lễ mẹ".Một số nhà nghiên cứu khác cho rằng; Thờ Mẫu ở Huế có những hình thức tín ngưỡng của người Chăm Pa, nhất là việc thờ cúng Thiên Ya Na. Hiện nay, lễ nầy vẫn còn như lối "múa bóng" của người ChămPa tại Phan Rang, trong hội Chà Căn (Rija Nugar) hội Chà Rây(Rija Harey) hội Chà Pròong (Rija Prăng) hội Chà Dậu (Rija Tadau) ở các tỉnh phía Nam.Về tín ngưỡng đồng bóng tại Huế thì lại thường lấy các thần thánh được thờ ở điện Hòn Chén và tục "tháng bảy lễ cha, tháng ba lễmẹ", trùng hợp với ngày giỗ đức Trần Hưng Đạo ở đền Kiếp Bạc (Hải Hưng) và ngày giỗ Liễu Hạnh Công Chúa thờ ở Phủ Giầy (Núi Gôi thuộc hà Nam Ninh). Trong những ngày lễ kễ trên tại điện Hòn Chén, việc lên đồng bóng, đàn hát chầu văn được coi là nghi lễ chính của đạo Tiên Thiên Thánh Giáo.

Nguồn gốc đồng bóng: Về những nghi thức và thể điệu đồng bóng, không phải chỉ phát triển tại nước ta, mà nhiều nước trên thế giới, nhất là trong vùng Đông Nam Á đều có. Tục nầy bắt nguồn từ tín ngưỡng cho rằng: ngoài thế giói con người, lại còn có một thế giới siêu nhiên khác. Tại đó, cuộc sống vĩnh hằng của những vị Thần, vị Tiên, vị Thánh, đồng thời những vĩ nhân từng có những công trạng hiễn hách khi còn ở cõi trần. Họ được đức Ngọc Hoàng Thượng Đế phong cho làm Thần, làm Thánh. Vùng ngự trị chính của những vị nầy ở khắp nơi trong vùng Thiên Phủ, Âm Phủ, Địa Phủ.

Lễ thức: hầu hết những đền thờ Mẫu được tổ chức vào khoảng thượng tuần đến trung tuần tháng ba âm lịch, như lại những miễu thờ tại tỉnh Bến Tre hay tại Sông Bé. Chọn lựa thời điểm nầy, một phần theo những nghi lễ truyền thống của các Mẫu khác nhau; phần khác thì theo thời vụ của những nông dân chuẩn bị trước khi bước vào vụ cày cấy mới. Điều nầy thường được giải thích như chu kỳ của vòng quay thiên nhiên, và cầu khẩn cho một mùa bội thu tương lai. Tuy nhiên, tại những đền miếu có sự phối tự giữa việc thờ Phật và thờ Mẫu, thì thời điểm cúng tế không theo hạn kỳ nhất định.

Chẳng hạn: những ngày lễ chính trong năm vẫn là lễ Nguyên Đán, vía Di Lặc, ngày lễ Phật Đản, lễ Xá Tội Vong Nhân. Sự phối hợp thờ cúng nầy đã lôi cuốn nhiều tín đồ tin tưởng khác nhau và trở nên đa dạng. Có trường hợp khác biệt theo định kỳ hàng tháng; chẳng hạn như tại chùa Nam Nhã (Cần Thơ), đền thờ Mẫu tổ chức cúng tế mỗi tháng ba lần: ngày mồng 1, ngày 11 và ngày 21 âm lịch. Nhưng tại những chùa người Hoa, có thờ bà Thiên Hậu, thì ngày lễ vía lớn nhất trong năm nhằm ngày 23 tháng 3 âm lịch. Ở những đền miếu khác, như ở Dinh Cô (Long Hải, Bà Rịa), ngày hành lễ chính thức trong năm kéo dài từ 10 đến 12 tháng hai âm lịch.

Trình tự tổ chức: Cũng như cách thờ cúng khác nhau của mỗi chùa, trình tự tổ chức các buổi lễ cũng không gióng nhau hoàn toàn. tại nhiều đền thờ ở Bến Tre, những nghi thức lễ lượt không khác gì với những lễ cúng khác, nhưng bao giờ cũng có "hát bóng rỗi" kế tiếp thao.Tại Long An, thông thường những lễ cúng đền miếu có thờ Mẫu (chính hay phụ) hay tại nhà riêng, sau nghi lễ chính thức, thường kèm theo hai lễ tục khác: hát bóng rỗi và diễn chặp Địa Nàng. Tại tỉnh Định Tường, lễ tục tiếp theo là đồng bóng. (Theo Đại Nam Nhất Thống Chí). Nhìn chung lại, nếu thờ Mẫu ở một đền miếu riêng biệt, bao giờ cũng có hát bóng rỗi. Còn nếu thờ Mẫu chung với Phật hay Thần khác, không có hát bóng rỗi. Những loại nhạc cụ được dùng trong việc hát bóng rỗi là: chiêng, trống cái, trống con, đàn nhị, kèn thau, sánh cái. Theo tài lịêu được ghi chép trong cuốn "Địa chí tỉnh Long An" (in lại năm 1988) thì: Những nhạc cụ thông thường là: đàn kìm, đàn nhị, trống cái và trống cơm.

Hát bóng rỗi: Tổ chức hát bóng rỗi đúng theo nghi thức khá phức tạp; thông thường, phải qua nhiều phần. Phần đầu là Lễ Khai Tràng. Lễ nầy do dàn nhạc bóng rỗ diễn tấu qua 3 khúc nhạc và hát chính thức. Phần 2: lễ Chầu Mời và lễ Thỉnh Tổ. Những bài "chầu mời" gồm: Bài Bà, Bài Ông, bài Cô, Bài Cậu. Những bài chầu mời chỉ cần theo đúng âm giai. Nội dùng thì tùy theo linh vị chính và người tổ chức, tham gia để ứng biến theo cho thích hợp. 3 điều kiện căn bản trong bài chầu mời là: hợp với nơi diễn xướng, hợp với chủ miếu, hợp với từng người trong Hội. Giọng hát phải truyền cảm, ăn khớp nhạc điệu. Phần mở đầu của chầu mời bao giờ cũng có những lời chúc tụng. Chúc tụng phục, lộc, khang, ninh. Chúc tụng quốc tái, dân an. Lời ca phổ thông nhất như sau: "Con rước bà về, "Xin bà chứng lễ: "Bà chứng lễ nầy; phù hộ chủ gia. "Cầu chúc chủ gia: "Vợ chồng, con cái, "An cửa, an nhà, "Tài vô, lộc tới, "Con cái giàu sang. "Bà ban giàu sang chốn nầy, "Bà ban gia chủ vui vầy (...)"

Lễ Diễn Xướng Mời Tiên: Sau những nghi thức về Thỉnh Tổ và về Chầu Mời, nghi lễ kế tiếp là Diễn Xướng Mời Tiên. Lễ nầy giống hệt như nghi thức "Xây chầu đại bội" trong lễ Kỳ Yên. Những nghi thức gồm có: Khai chiếu gió, nhật nguyệt, tam hiền, gia quan, Ông Đông, Thanh Đường hạ san, Hội Năm Bà, Bá Trạo nghinh bà. Bốn nghi thức đầu là lễ Kỳ Yên. Kể từ Ông Đông trở đi là lễ Cúng Miễu. Ông Đông là người chủ trì cuộc lễ. Thanh Đường Hạ San là cung thỉnh vị Thanh Đường xuống chứng minh cho buổi lễ. Hội Năm Bà là nghi lễ mời chư Bà hiễn linh trong buổi lễ. Bá Trạo là nghilễ của người dân làm nghề ngư phủ, theo triều nước lên, nước xuống, để nghinh đón Mẫu hiện ra (thường tổ chức vùng duyên hải). Trường hợp Thánh Mẫu Thiên Y A Na được thờ tại đền Pô Nagar của Chăm - Pa cũng chứa nhiều huyền thoại không kém. Nội dung thần phả của bà chứa đựng những giá trị hoà hợp hai lớp văn hoá Việt Chiêm. Sự tích của Thánh Mẫu nầy pha trộn lẫn lộn tính chất thần và người. Thiên Y A Na vốn là vị Thần Mẫu của người Chăm - Pa Pô Inư Nagar. Thần phả ghi đại cương: Bà là người được trời sai xuống trần gian, để tạo ra vạn vật, lúa gạo. Chính bà đã sinh ra loại hoa Chăm - Pa, có nghĩa là gỗ trầm hương. Theo tín ngưỡng của Chăm - Pa thì Thánh Mẫu Thiên Y A Na là hoá thân của ánh mây trời và cũng là bọt biển trôi khắp mọi nơi. Bà cai quản tất cả mọi nơi, mọi trường hợp, được xem là "Mẹ lớn của tất cá các mẹ". Bà thường hay cưỡi con voi trắng (như phù điêu tại đền Pô Nagar - Nha Trang) thường đi mây về gió để ban phước cho mọi người khi niệm đến danh hiệu của bà. Bà ngự trong những toà tháp cổ của người Chăm - Pa, được xây dựng từ ngàn năm trước đây, để người dân trong vùng bất cứ thuộc tộc hệ nào cần đến bà.



. Cập nhật theo nguyên bản chuyển từ HoaKỳ ngày 14.12.2013.