Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới







Bậc Danh Tăng Đạo Hạnh






B ậc danh tăng đạo hạnh cuối thế kỷ XX, Đệ nhất Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Hoà thượng Thích Đức Nhuận (1897- 1993) đã để lại Ánh Sáng Đạo Vàng thống nhất Phật giáo ba miền Bắc- Trung- Nam, giúp Phật giáo Dân tộc phát triển, nhân sinh an lạc.

     Ngày 8- 12- 2013 (Mồng 6- 11- Âm lịch). Tại các chùa Đồng Đắc- Ninh Bình, chùa Hòe Nhai- Hà Nội, chùa Yên Phú- Hà Nội, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, chư Hòa Thượng, chư Tăng Ni, Phật tử cả nước tôn kính, trang nghiêm tổ chức Lễ tưởng niệm hai mươi năm Đức Đệ nhất Pháp chủ, Hòa thượng Thích Đức Nhuận viên tịch.
     Kỷ yếu Đức Pháp chủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam- Hoà Thượng Thích Đức Nhuận 1897- 1993 ghi:
     “ Đức Đệ nhất Pháp Chủ Thích Đức Nhuận là một trong những bậc cao tăng thạc đức của thế kỷ XX. Trong Đạo, ngài là bậc long trượng rừng Thiền, đầy đủ Đạo, Học, Hạnh, Nghị.
     Đạo đức của Ngài thể hiện nơi chuyên trì giới luật, suốt đời Ngài sống trung thành với di ngôn của đức Từ Phụ: “Lấy giới luật làm thầy” và lấy giới luật để chuyển mê khai ngộ, đức hoá quần sinh.
     Học vấn của Ngài bao hàm Nho, Phật. Ngài tinh thông cửu kinh Nho giáo, làu thông Tam tạng Phật giáo.
     Đạo hạnh của Ngài thì khiêm cung, giản dị, động tỉnh tôn nghiêm, đi đứng, nằm, ngồi đều sống trong chánh pháp, năng nhân tịch mặc. Ngài chỉ nói những lúc cần nói.
     Ba lời đề nghị của Ngài trong buổi lễ nhận ngôi vị Pháp Chủ đã nói lên nghị lực phi thường của Ngài.
     Đó là tiếng rống của con sư tử chúa, tiếng rống của tinh thần đại hùng, đại lực.
     Ngoài đời, Ngài là vị được Trời, người tôn kính. Ngài có cả ba điều mà thiên hạ tôn kính nhất. Với ngôi vị Pháp Chủ, Ngài được tôn kính là có chức tước cao nhất; với 97 năm thác tích trần hoàn, Ngài được tôn kính là một trong những người có tuổi thọ cao nhất; với giới hạnh thanh tịnh Ngài được tôn kính là vị có đạo đức trong sáng nhất.
     Ngài thật xứng đáng với ngôi vị Pháp chủ đầu tiên của Giáo Hội Phật giáo Việt Nam.”

     Công đức cao cả

     Trên ngôi vị Pháp chủ Giáo Hội Phật giáo Việt Nam, Đại lão Hoà Thượng Thích Đức Nhuận là một vị cao tăng, đã trọn đời hiến dâng cho lý tưởng hoằng pháp lợi sinh. Ngài đã nhiệt tâm góp phần to lớn vào sự nghiệp làm sáng danh đạo Phật và dân tộc Việt Nam.
     Đời Ngài từ buổi sơ tâm cho đến lúc hoá duyên đã mãn là tấm gương chiếu sáng trong công phu tu thân, hành đạo cho cả giới xuất gia lẫn tại gia. Ngài luôn lấy giới hạnh làm tinh nghiêm, làm thân giáo để răn dạy kẻ hậu lai. Ngài đã thể hiện tinh thần bi, trí, dũng, trong công hạnh vô ngã vị tha, tận lực chuyên tâm vào sự nghiệp hoằng dương chính pháp, phục vụ nhân gian.
     Đại lão Hoà thượng Thích Đức Nhuận, Pháp hiệu Thanh Thiệu, Pháp danh Đức Huy, thế danh Phạm Đức Hạp, sinh năm Đinh Dậu (1897) tại thôn Quần Phương, xã Hải Phương, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thân phụ là cụ Phạm Công Toán hiệu Thành Phủ. Thân mẫu là cụ Lê Thị Vụ. Ngài là con thứ sáu trong gia đình có tám anh chị em.
     Sinh trưởng trong một gia đình nề nếp Nho phong. Ngài đi học năm lên bảy. Thân phụ Ngài vốn là một danh y Đông dược, được sư Tổ chùa Đồng Đắc (Ninh Bình) mời sang để chế thuốc phong cứu dân làng. Ngài được theo hầu thân phụ, dần dần mến mộ cảnh yên tịnh chốn Thiền môn. Năm mười lăm tuổi (Nhâm Tý- 1912), một thời điểm chuyển mình thoát tục, Ngài nhận chân: cuộc đời là vô thường; thân người là giả tạm, nên Ngài xin phép song thân xuất gia đầu Phật.
     Ngài sơ tâm cầu pháp với Sư Tổ Thích Thanh Nghĩa, (thuộc dòng Tào Động, chùa Quảng Bá- Hà Nội), trụ trì chùa Đồng Đắc, xã Đồng Hướng, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
     Sau khi qui y, Ngài được nghiệp sư gửi đến chùa Thanh Nộn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam học Đạo với Sư Tổ Thích Thanh Ninh. Với đức hạnh khiêm cung, siêng năng, hiếu học, Ngài luôn được Sư Tổ thương yêu và kỳ vọng là pháp khí của tùng lâm.
     Năm hai mươi tuổi (1917) xuân đạo lý đã sớm đơm bông trí tuệ, tâm Bồ Đề thơm ngát toả giới hương, Ngài được tôn sư cho thụ giới Cụ Túc tại chùa Phúc Nhạc (Già Lê tự) tỉnh Ninh Bình. Giới đàn này gồm các bậc cao tăng thạc đức như: Sư Tổ Thích Thanh Khiết làm Hoà thượng Đàn Đầu, Sư Tổ Thích Trung Định làm Yết Ma, Sư Tổ Thích Thanh Phúc Làm giáo thọ, Sư Tổ Thích Khang Thượng, Sư Tổ Thích Thanh Nghĩa làm Tôn Chứng. Từ đây, Ngài thực sự dự vào hàng Tăng bảo với trọng trách: “Thượng cầu Phật đạo, hạ hoá quần sinh”.
     Sau khi đắc Pháp, Ngài tiếp tục hành cước, tham học ở các chốn Tổ lớn như: chốn Tổ Đào Xuyên (huyện Gia Lâm- Hà Nội) do Tổ Giám Thông Mệnh giảng dạy; chốn Tổ Bằng (huyện Thường Tín- Hà Tây) và chốn Tổ Sở (Đống Đa- Hà Nội) do Sư Tổ Phan Trung Thứ thuyết pháp.
     Trải nhiều năm tu học tại các chốn Tổ này, Đức Pháp chủ trở thành một bậc đạo hạnh trong sáng, không những uyên thâm Phật học mà còn thông cả Khổng giáo và Lão giáo, trở thành tiêu đích cho Tăng, Ni, Phật tử ngưỡng mộ, qui tâm.

     Sự nghiệp lợi lạc quần sinh

     Năm 1940. Sau khi nghiệp sư viên tịch, Ngài trở về thừa kế, trụ trì chùa Đồng Đắc huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
     Phật sự đầu tiên được đặt ra trong tâm trí Ngài là đào tạo tăng tài, tổ chức giáo hội hành Pháp. Ngài thành lập hai trường Phật học ở chùa Đồng Đắc (xã Đồng Hướng- Kim Sơn- Ninh Bình) và chùa Kỳ Lân (xã Văn Bồng- huyện Gia Viễn- Ninh Bình).
     Ngài luôn được chư Tăng, Ni, Phật tử cung thỉnh làm chủ hạ các trường Hạ như: Trường Hạ chùa Phúc Nhạc (Già Lê Tự), chùa Đại Hữu, chùa Sơn Thuỷ (Ninh Bình), chùa Lê Xá (Gia Viễn), chùa Bà Đá (Hà Nội)…
     Với đức độ tu hành, giới luật tinh nghiêm, khoảng năm 1950, Hội Phật giáo tỉnh Ninh Bình cung thỉnh ngài giữ chức Giám luật Phật giáo Ninh Bình.
     Năm 1955, sau hoà bình, Ngài được mời lên Thủ đô Hà Nội để cùng Chư Tôn đức tổ chức Giáo Hội, hoằng dương Phật Pháp. Ngài được thỉnh về trụ trì chùa Tàu (Phổ Giác Tự) Đống Đa- Hà Nội. Ngài thường xuyên sang trụ sở Trung ương Hội- chùa Quán Sứ làm việc, sau được bổ nhiệm ngôi vị trụ trì chùa Quán Sứ.
     Tháng 3 năm 1958, Hội Phật Giáo Thống Nhất Việt Nam (miền Bắc) được thành lập, Ngài được bầu làm phó Hội trưởng. Ngài đảm nhiệm ngôi vị này cho tới năm 1979.
     Năm 1969, Ngài về trụ trì chùa Quảng Bá (Hoằng Ân tự, xã Quảng An- huyện Từ Liêm- Hà Nội. Hội Phật Giáo Thống Nhất Việt Nam mở trường tu học Phật Pháp Trung ương tại đây và thỉnh Ngài làm hiệu trưởng. Ngài trụ trì và giáo hoá nhân dân ở Quảng Bá hơn hai mươi năm, trước khi về chùa Hoè Nhai (Hà Nội).
     Để có nơi an táng sắc thân tứ đại của Tăng, Ni toàn Thành phố Hà Nội, năm 1980, Ngài đứng ra xin phép Nhà nước thành lập nghĩa trang tại chùa Huỳnh Cung, xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì- Hà Nội. Ngài nhận lãnh Tổ đình Hồng Phúc (Hoè Nhai), chốn tổ của Thiền phái Tào Động. Năm 1986, Ngài về Hoà Nhai trụ trì cho đến khi viên tịch. Ngài nhận chùa Yên Phú- Thanh Trì- Hà Nội và trao cho Thượng tọa Thích Thọ Lạc, đệ tử xuất sắc được ngài dạy từ năm tám tuổi tại chùa Đồng Đắc- Ninh Bình.
     Năm 1980. Nước nhà Thống Nhất. Tăng, Ni, Phật tử cả nước mong muốn thực hiện ý nguyện bao đời của các bậc tiền nhân là thống nhất, hoà hợp Phật giáo Việt Nam trong dải đất hình chữ S.
     Ban vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam ra đời, đã cung thỉnh Ngài làm Chứng minh Ban vận động. Ngài đã vào lưu trú tại Tổ Đình Vĩnh Nghiêm (Thành phố Hồ Chí Minh) một năm để cùng với Ban vận động đi thăm hỏi, trao đổi, bàn bạc với Chư vị Tôn túc lãnh đạo các giáo phái, hệ phái, hội đoàn Phật giáo tại các tỉnh phía Nam để thực hiện ý nguyện Thống nhất Phật giáo.
     Tháng 11 năm 1981. Hội nghị đại biểu Thống nhất Phật giáo Việt Nam diễn ra tại chùa Quán Sứ, để thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
     Trong Hội nghị, toàn thể đại biểu nhất tâm cung thỉnh Ngài đảm nhận ngôi Pháp chủ. Ngài từ chối đến ba lần.
     Cuối cùng, với sự thành tâm tha thiết của Hội nghị, Ngài nhận lãnh ngôi vị Pháp chủ, nhưng yêu cầu Hội nghị chấp thuận Đề nghị của Ngài và đề đạt lên Chính phủ.
     Đề nghị của Ngài gồm ba vấn đề:
        . 1- Dựng trường Phật học
         . 2- Người thừa kế
        . 3- Tôn trọng tín ngưỡng của tín đồ
     Ngài dứt lời trong tiếng vỗ tay hân hoan bất tận của Hội nghị.
     Từ Hội nghị đại biểu Thống nhất Phật giáo 1981 cho đến Đại hội Phật giáo kỳ ba (1993), Ngài luôn được Tăng, Ni, Phật tử cả nước tín nhiệm, suy tôn đảm nhiệm ngôi vị Pháp chủ đến ngày Ngài thị tịch.
     Là một vị cao tăng cống hiến trọn đời cho lý tưởng hoằng pháp lợi sinh, Ngài đã đóng góp nhiều công đức trong công cuộc chấn hưng, thống nhất và hoà hợp Phật giáo, góp phần đoàn kết và phụng sự dân tộc. Đức Pháp chủ là một vị Tôn sư đã dày công dìu dắt hàng ngàn môn đồ đệ tử trong và ngoài nước, trong đó có nhiều vị Tăng, Ni, cư sĩ đã trưởng thành, noi theo gương sáng của Ngài, bền vững Đạo tâm, trang nghiêm Giáo hội.
     Trong chốn Thiền môn, Ngài là một vị đức độ khoan dung, đã hướng dẫn Tăng, Ni, tín đồ đi theo con đường Đạo Pháp chân chính, phát huy chính tín, bài trừ mê tín dị đoan, giáo hoá tinh thần phụng Đạo yêu nước.

     Đạo Từ của Đức Pháp chủ

     Đạo từ Đức Pháp chủ đọc trong lễ bế giảng khoá đầu tiên (1985), nhắn nhủ Tăng, Ni sinh:
     “Muốn thực hành từ bi phải có trí tuệ. Mà trí tuệ thì vô biên và bể học thì vô bờ. Vì thế phải tiếp tục học tập. Việc học tập phải được thường xuyên hàng ngày, không nên sao nhãng, không vì đã tốt nghiệp mà tự mãn, lãng quên việc học hành, trau dồi trí tuệ. Học và tu phải gắn chặt. Trí tuệ càng nâng cao thì đức hạnh càng phải trau dồi. Cho nên cần phải tu tập đức hạnh để thực sự là người thừa kế xứng đáng của Phật Pháp, và là người hữu ích trong xã hội”.

     Vài lời để lại

     Đã có sinh thời có diệt, mọi duyên hành chuyển đều thuộc vô thường, sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt là vui. Nay tôi tuổi đời vừa tròn chín chục, tâm trí vẫn minh mẫn, nhưng theo thời gian thấy mỗi sát na, mỗi sát na, cái già cứ đi qua nhanh, nên tôi tạm có vài lời để lại.
     Trước tiên là ơn đảng và Chính phủ đã ban hành chính sách “Tự do tín ngưỡng”, tạo nhiều phương tiện giúp tôi tiến tu Đạo nghiệp, và ơn các bác sĩ, y tá, hộ lý các lương y đã tận tình chăm sóc tôi những khi thân tứ đại bất hoà; ơn đại hội chư Hoà thượng, Tăng Ni toàn quốc ngày 7 tháng11 năm 1981 đã suy tôn tôi làm Pháp chủ Giáo hội Tăng già cả nước; ơn Tăng Ni, Thiện tín Bắc- Trung- Nam đã có nhiều nghĩ đến tôi. Vậy xin quí ngài nhớ những lời tôi đã dặn mà giữ gìn thân ý cho thanh tịnh, lấy giới luật của Phật làm thầy, luôn luôn giữ Lục hoà, Chấp hành nghiêm chỉnh các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đề ra, ủng hộ lập trường hoà bình thế giới, thân thiện đoàn kết với tôn giáo bạn, quyết tâm tu học vượt mọi khó khăn, duy trì Phật Pháp, hướng lên Tam Bảo, nêu gương chính- tín, bài trừ mê ín, không đồng bóng, đốt vàng mã, không sóc thẻ xin âm dương… là những thứ của đạo khác xen lẫn vào đạo Phật.
     Chú ý: Khi mà tôi sắp xả báo thân này, dù sao sở kiến cũng thấy rõ phần nào, nhưng muốn được có thêm trợ duyên để chư căn duyệt dự, thế tính khinh an, vậy xin chớ hỏi han, ép thụ quế sâm, ép dùng cơm cháo, xin chớ phiền các thầy thuốc cầm tay án mạch, dùng cách nghe tim, di chuyển nơi này đến nơi khác, mà làm tôi mất cánh “lâm chung chính niệm, tịch diệt vi lạc”.
     Sau khi tôi xả báo thân này về nơi an dưỡng, tang lễ cần đơn giản tiết kiệm, tuyệt đối không nhận tiền bạc của chư Tăng Ni, các tuần tiết và ngày giỗ hằng năm cũng vậy. Có lòng nghĩ đến tôi, chỉ nên tụng niệm kinh Phật, cầu cho quốc thái, dân an, hồi hướng các tiên Tổ và tứ ân, lục đạo, tin sâu, hành đúng, nguyện thiết, cầu vãng sinh Cực Lạc thời sẽ được cùng tôi và các Thượng thiện nhân cùng ở một nơi.
     Pháp môn tu trì có hàng 8 vạn 4 nghìn như Pháp môn “Phản văn tự tính” (nghe cái tính nghe của mình)… Pháp môn nào cũng chỉ là tịnh trừ hiện nghiệp lưu thức mới xong. Riêng pháp môn “Tịnh Độ” cũng là Pháp môn Thượng thượng thừa tin thực sâu, hành thực đúng, nguyện thực thiết, cầu vãng sinh Cực Lạc rất là tiệp kính, cũng là Pháp môn viên dung đủ: Ngũ- đình- tâm, Tứ- niệm- xứ, Thất- giác- chi, Bát- chính- đạo, Vô- ngã- vị- tha…Nếu không tu theo Pháp môn này thời phải tu theo “Hàng- Bá” lần lượt như sau:
         10 Ngôi Thập- tín
         10 Ngôi Thập- trụ
        10 Ngôi Thập- hành
         10 Ngôi Thập- hồi hướng
         10 Ngôi Thập- địa cho chí Đẳng- giác, mới thành
     Diệu giác.
     Nói chung, tất cả đều là phương tiện, cũng như “Do chỉ kiến nguyệt” để minh tâm kiến tính.
     Phần an táng, nên ở vườn chùa Quảng Bá. Khi tiễn đưa, xin miễn có những vòng hoa. Vì rằng: nào vun trồng, nào tưới bón, nào ngắt hái, nào vận chuyển nào uốn kết thành vòng trang sức tinh nghiêm, chưa kể vai mang, tay xách, biết bao nhiêu là công sức, rồi chỉ sớm chiều, mưa thì hủ cát, nắng thì héo khô, lại làm phiền cho người thu dọn xúc đi. Tôi tu hành chưa được là bao; muốn kiệm đức, xin vô cùng cảm tạ những tấm lòng quí mến thương tiếc tôi khi vĩnh biệt.
     Theo cổ truyền, mai sau muốn xây tháp, thì xây ở vườn tháp chùa Hồng Phúc (Hoè Nhai) là nơi tôi hiện trụ trì.

     Viết tại chùa Hoè Nhai- Hà Nội
    P.L 2531, Ngày Canh Thìn 15-2 năm Đinh Mão (1987)

     Sa Môn Thích Đức Nhuận


.@ Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 07.12.2013.