Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




VĂN HỌC NAM HÀ

文 學 南 河





KỲ THỨ 12.

Nhà Thơ của Quê Hương và Bằng Hữu

Trịnh Hoài Đức




Người Minh Hương đã ba đời ở Việt Nam, Trịnh Hoài Đức cùng với Lê Quang Định và Ngô Nhân Tịnh đều là học trò của Võ Trường Toản được người đồng thời gọi bằng biệt hiệu “Gia Định tam gia 嘉 定 三 家.
Tổ tiên ông là người huyện Trường Lạc, tỉnh Phước Kiến chạy loạn Mãn Thanh ở Trấn Biên (Biên Hoà). Ông tên tự là Chỉ Sơn, hiệu Cấn Trai, sanh năm 1765, lớn lên không theo Tây Sơn nên khi Chúa Nguyễn mất Gia Định ông tránh loạn qua Cao Miên, về sau ra giúp Nguyễn Ánh (đỗ khoa thi đầu tiên ở Gia Định năm 1788). Khi Gia Long lên ngôi Trịnh Hoài Đức được phong làm Hộ Bộ thượng thơ cử sang sứ Trung Hoa (1802 - 1803) để cầu phong.
Sau khi đi sứ về, ông được cử làm việc ở Gia Định thành (1805). Từ măm 1812 ông giữ chức Lễ Bộ Thượng Thơ rồi Lại Bộ Thượng Thơ (1813 - 1816). Sau đó lại làm việc ở Gia Định1 (1816 - 1820).
Minh Mạng lên ngôi (1820) ông được triệu về Huế giữ lại chức vụ Lại Bộ Thượng Thơ, năm sau, 1821, được thăng lên Hiệp Biện Đại Học Sĩ coi cả hai bộ Lại và Binh.
Ông từ trần năm 1825.
Tác phẩm:
* Gia Định thành thông chí 嘉定城通誌2.
* Cấn Trai thi tập 艮齋詩集.
* Gia Định tam gia tập 嘉定三家集.
Cũng nên nhắc lại “Gia Định tam gia tập” gồm 6 phần trong 6 quyển:
Quyển I: Tinh dã chí
Quyển II: Sơn xuyên chí
Quyển III: Cương vực chí.
Quyển IV: Phong tục chí.
Quyển V: Sản vật chí.
Quyển VI: Thành trì chí.
Với bộ sách nầy, Trịnh Hoài Đức đã cho chúng ta biết được rất nhiều điều về đời sống, phong tục, di tích ở Gia Định cách đây gần 200 năm mà ngày nay hoặc đã mất, hoặc thay đổi nhiều.

Tư tưởng của Trịnh Hoài Đức nằm trong các tác phẩm3 :
* “Gia Định tam gia tập” gồm những bài thơ của ông và của hai người bạn: Lê Quang Định và Ngô Nhân Tịnh (cũng đều là người Minh Hương).
* “Cấn trai thi tập” là quyển thơ gom góp những bài ông sáng tác trong khoảng 1782 - 1818. Tập nầy đã được khắc in; gần đây Sở Nghiên Cứu Tân Á, (thuộc Viện Nghiên Cứu Đông Nam Á) dưới sự điều khiển của Giáo Sư Trần Kinh Hòa, đã cho in lại. Theo đó, Cấn Trai thi tập gồm 5 phần:
1. Tựa và bạt của tác giả và 3 người đồng triều: Nguyễn Địch Cát, Ngô Thời Vị, Cao Huy Dược.
2. Thối thực truy biên tập退 食 追 編 集 : gồm 127 bài thơ sáng tác từ 1782 đến 1801.
3. Quan Quang tập 觀 光 集 : gồm 152 bài thơ sáng tác từ 1802 đến 1803 khi tác giả đi sứ4.
4. Khả dĩ tập 可 以 集 : gồm 48 bài thơ và văn xuôi, sáng tác từ 1804 đến 1818.
5. Tự truyện: ghi về gia đình, hoạn lộ, cuộc đi sứ, và lý do ấn hành tập thơ nầy, đề năm thứ 18 đời Gia Long (1819).
Trong chiều hướng tìm hiểu văn học Nam Hà, chúng tôi chỉ nói về “Thối thực truy biên tập” và tìm hiểu tư tưởng của Trịnh Hoài Đức trong gia đoạn 1782 - 1801 mà thôi. Phần còn lại của tư tưởng ông, nếu có thể chúng tôi sẽ viết tiếp khi nói về văn học Nam Kỳ Lục tỉnh.
Thối thực truy biên tập” gồm 127 bài thơ chia ra như sau:
- Ngũ ngôn tuyệt cú: 3 bài.
- Ngũ ngôn luật: 15 bài.
- Thất ngôn tuyệt cú: 10 bài.
- Thất ngôn luật: 99 bài.
Qua số thi phẩm Trịnh Hoài Đức sáng tác trước năm 1802 ta ghi nhận được phần nào con người của ông, một con người nhiều tình cảm:
- Yêu mến thiên nhiên, thân thuộc với sinh hoạt của đồng quê Việt Nam.
- Bộc lộ tình thương với nhân dân, với bạn hữu, với người chung quanh.
A. Trịnh Hoài Đức, người mô tả sinh hoạt thôn quê.
Mặc dầu là người Minh Hương, Trịnh Hoài Đức rất gắn bó với vùng đất Nam Hà nói riêng, đất nước Việt Nam nói chung, miền quê hương đã nuôi dưỡng ông.
Tình cảm của ông bộc lộ bằng nhiều bài thơ, trong đó nếp sống người dân miền thôn dã đã được quan sát tỷ mỷ và ghi nhận một cách tinh tế. Có thể nói ông đã hòa đồng tâm hồn mình với sinh hoạt miền quê bởi vì nó yêu mến, có cảm thấy thân thuộc với những hoạt cảnh chung quanh mới ghi lại được những hình ảnh tế vi, những công việc tầm thường, không tên của người dân vùng rẫy bái. Trong thơ ông, người đọc gần như không thấy cảnh mùa thu bên Trung Quốc, cảnh tuyết rơi, cành liễu rủ những cảnh nhà thơ không thấy mà tả, trái lại thơ ông là một bức ảnh chụp đời sống, công việc của đồng quê với những cố gắng tranh thủ cùng thiên nhiên để tự tồn của những người dân đi khai phá vùng đất mới.
Bài thơ “Chu thổ sừ vân” ông ghi lại cảnh tận lực của người dân trong việc phá rừng, tưới nước, cày bừa để khai thác vùng đất hoang phế mà những người trước ở đây đã không biết tận dụng:
Nguyên văn:
鎮 邊 朱 土 海 之 陬
破 曉 鋤 雲 牧 子 儔
赤 縣 昏 霾 犁 殆 盡
黑 壚 蕪 穢 闢 將 周
雨 饒 山 澗 晨 開 堰
草 裕 春 堤 晚 放 牛
萬 頃 胭 霞 收 拾 足
歸 來 初 月 荷 肩 頭
Phiên Âm:
Trấn Biên chu thổ hải chi tưu?
Phá hiểu sừ vân mục tử trù.
Xích huyện hôn mai lê đãi tận,
Hắc lô vu uế tịch tương chu.
Vũ nhiêu sơn giản thần khai yển.
Thảo dụ xuân đê vãn phóng ngưu.
Vạn khoảnh yên hà thu thập túc,
Qui lai sơ nguyệt hạ kiên đầu.
(Chu thổ sừ vân)
Tạm dịch:
Nơi Trấn Biên có miền đất đỏ.
Liền biển xanh một dải mênh mông.
Trời hôm vừa lóe rạng đông,
Từng đàn lũ lượt ra công dựng làng.
Gần đô thị cây hoang phá rạp,
Đất đen xì vỡ nát dưới tay.
Nhờ mưa khe núi nước đầy,
Sáng đi tháo đập nuôi cây tốt vườn.
Mùa xuân tới bờ đê cỏ mượt,
Chiều trẻ con mặc sức chăn trâu.
Muôn vườn sương khói một màu.
Người người ra sức cùng nhau cấy cày.
Trăng non vừa gác mái tây,
Nông phu vác cuốc khoan thai đi về.
(Đất đỏ bừa trong mây)
Trong thơ của Trịnh Hoài Đức ta còn thấy cả hoạt cảnh của nông thôn như nhóm chợ dưới bóng đa, tiều phu ra quán mua rượu, nông phu đi xem bói, trai tráng giữ gìn làng xóm. Sản phẩm căn bản của miền quê như thịt thú rừng, tôm cá ... cũng được ông nói đến. Tất cả những chi tiết đó họp lại trong một bài thơ Đường có thể làm mất thi vị phần nào nhưng bù lại bộc lộ được một tình yêu bao la, vô bờ của tác giả đối với miền đất ông đang sống, bởi vì chính những thứ đó đã tạo cho ông niềm rung cảm, ông yêu thích những sinh hoạt, những tình tiết mà người khác có thể bảo là tầm thường. Bài “Ngư tân sơn thị” được tạo bằng những yếu tố rất “tầm thường” đó:
Nguyên Văn:
翠 藹 山 屏 障 水
榕 陰 蔽 芾 市 廛 涼
田 禽 獵 獸 充 松 肆
篦 蜆 罾 魚 滿 竹 坊
買 酒 樵 歸 酤 店 寂
占 年 農 返 卜 亭 荒
舟 車 幸 免 憂 強 盗
林 藪 英 雄 任 職 方
Phiên Âm:
Thúy ái sơn bình chướng thủy hương,
Dung âm tế phế thị triền lương.
Điền cầm liệp thú sung Tùng tứ,
Tì hiện tăng 5 ngư mãn Trúc phường.
Mãi tửu tiều qui cô điếm tịch.
Chiêm niên nông phản bốc đình hoang.
Chu xa hạnh miễn ưu cường đạo,
Lâm tẩu anh hùng nhậm chức phương.
(Ngư tân sơn thị)
Tạm Dịch:
Sông xanh, núi biếc chắn bình phong,
Bóng mát cây đa, buổi chợ đông.
Săn bắn, chợ Tùng nhiều giống thú,
Đó đăng, phố trúc lắm cá sông.
Rượu xong tiều lại, hàng thêm vắng,
Quả được nông về, miếu trống không.
Lui tới xe thuyền không sợ cướp,
Khắp nơi, hào kiệt đã đề phòng.
(Phiên chợ núi bến cá)
Hình Minh Đức dịch.
Tình cảm của ông đối với vùng quê nơi ông trú ngụ bộc lộ ở cả những chi tiết nhỏ nhặt của địa phương: Một cái chợ nhỏ, một cây cầu trong xóm, một con sông, một vọng gác, một ánh lửa chài. Ông yêu mến những thứ đó và cho rằng cuộc sống hiền hòa, bình dị sung túc của dân địa phương có được nhờ sự cần mẩn làm việc: bài “Mỹ Tho dạ vũ”.
Nguyên Văn:
美 湫 夜 雨 z
濯 纓 唱 罷 月 沈 西
灑 淅 湫 江 雨 正 淒
槐 市 潮 堆 榆 莢 串
棕 橋 雲 擁 石 牛 泥
光 寒 柳 浦 漁 船 火
聲 濕 梅 城 戍 寨 鼙
萬 頃 明 朝 呈 合 穎
桑 林 無 事 禱 虔 齏
Phiên Âm:
Trạc anh xướng bãi nguyệt trầm tê,
Tiêu tích Tho giang vũ chính thê.
Hòe thị trào đôi du giáp quán,
Tông kiều vân ủng thạch ngưu nê.
Quang hàn liễu phố ngư thuyền hỏa,
Thanh thấp mai thành thú trại bề.
Vạn khoảnh minh triêu trình hợp dĩnh,
Tang lâm vô sự đảo kiền tê.
(Mỹ Tho dạ vũ)
Tạm dịch:
Hát khúc “trạc anh”(6), trăng gác tê.
Mưa đêm sông Mỹ, kéo lê thê.
Nước giăng Hòe thị, du thành đống.
Mây phủ Tông kiều, trâu (7) bị che
Bến liễu, lửa chài soi bóng lạnh,
Thành mai, tiếng trống vọng tư bề.
Sáng mai, lúa trổ tràn đồng rụông,
Đâu phải Tang lâm (8) đợi mưa về!
(Mưa đêm ở Mỹ Tho)
Huỳnh Minh Đức dịch
Tình cảm của Trịnh Hoài Đức với đồng quê, ruộng vườn, sinh hoạt của miền Nam còn bộc lộ trong nhiều bài thơ khác nằm ở tập “Thối thực truy biên” xin trích ra đây 2 bài:
- Tạp vịnh về cảnh thôn quê ở Long Tịch.
- Mùa thu với người làm ruộng.
Nguyên Văn:
I.
學 童 霜 履 虹 橋 去
釣 叟 烟 凌 水 滸 歌
村 落 生 捱 勤 少 婦
簷 前 邀 月 揀 棉 花
II.
地 枕 晨 昏 南 北 市
門 迎 潮 汐 去 來 舟
夜 深 風 過 花 窗 下
嘈 贊 書 聲 傍 水 流
龍 席 村 居 雜 咏
Phiên Âm:
I. Học đồng sương lý hồng kiều khứ,
Điếu tẩu yên lăng thủy hử ca.
Thôn lạc sinh nhai cần thiếu phụ,
Thiềm tiền yêu nguyệt giản miên hoa.
***
II. Địa chẩm thần hôn Nam Bắc thị,
Môn nghinh triều tịch khứ lai chu.
Dạ thâm phong quá hoa song hạ.
Tào tán thư thanh bạng thủy lưu.
(Long Tịch thôn cư tạp vịnh)
Tạm Dịch:
I. Cầu vòng, trò nhỏ trong sương sớm.
Ông lão buông cần cất tiếng ca.
Lặn lội thân cò người thiếu phụ,
Ngồi trông trước cửa nhặt cành hoa.
***
II. Bắc Nam, phiên chợ khi hôm sớm,
Xuôi ngược, ghe thuyền nước thủy triều.
Gió thổi cửa hoa, đêm sắp sáng.
Rì rào đọc sách, nước trôi nhiều.
(Tạp vịnh về cảnh thôn quê ở Long Tịch)
Nguyên Văn:
田 家 秋 雨
禾 稻 離 離 草 樹 秋
田 家 三 五 曲 江 流
耳 生 黍 黑 聲 偏 細
雨 足 苔 黃 滑 未 收
破 塊 寒 催 畦 畔 雁
霑 坭 淨 洗 隴 頭 牛
攜 壺 擬 慶 豐 年 澤
簑 笠 農 夫 訪 酒 舟
Phiên Âm:
Hòa đạo ly ly thảo thụ thu,
Điền gia tam ngũ khúc giang lưu.
Nhĩ sinh thử hắc thanh thiên tế,
Vũ túc đài hoàng hoạt vị thu.
Phá khối hàn thôi huề bạn nhạn,
Triêm nê tịnh tẩy lũng đầu ngưu.
Huề hồ nghĩ khánh phong niên trạch,
Toa lạp nông phu phóng tửu chu.
(Điền gia thu vũ)
Tạm Dịch:
Cỏ cây hiu hắt, lúa đòng đòng,
Đây đó dăm nhà dọc bến sông.
Mưa nhẹ, lúa đen chừng nảy nhánh,
Mưa dầm, rong ướt, độ vàng đồng.
Nhạn nấp vỡ đê, tràn tung cánh.
Trâu nằm ghềnh ướt, ngập cánh đồng.
Được mùa ta quảy theo bầu rượu,
Áo nón rượu ghe mấy bác nông.
(Mưa thu với người làm ruộng)
Yêu mến, thân thuộc với sinh hoạt đồng quê vùng Gia Định để đem những hình tượng nầy vào thi phẩm mình, Trịnh Hoài Đức vẫn thấy chưa đủ, ông còn sống với những sinh hoạt đó, đi xa ông tưởng nhớ và muốn gặp lại, ông hình dung trong trí những phong cảnh nơi mình đã từng sống, từng thân thiết và tự hỏi ở quê nhà có ai thưởng thức các cảnh đẹp đó không.
Bài thơ “Mùa thu đất khách cảm tác” bộc lộ lòng nhớ nhung của ông khi sống ở đất “Biển Hồ”.
Nguyên văn:
秋 日 客 中 作
陶 朱 慣 逐 五 湖 遊
簞 涼 回 不 覺 秋
蜂 鼓 胡 群 迎 水 起
雞 銀 唐 賈 換 榔 投
將 蕪 松 菊 空 來 月
正 美 蓴 鱸 尚 繫 舟
虛 負 家 庄 重 九 約
棉 花 狂 絮 亂 撩 愁
Phiên âm:
Đào Chu quán trục Ngũ hồ du,
Giới đạn lương hồi bất giác thu.
Phong cổ Hồ quần nghinh thủy khởi.
Kê ngân Đường cổ hoán lang đầu,
Tương vu tùng cúc không lai nguyệt,
Chính mỹ thuần lô thượng hệ chu.
Hư phụ gia trang trùng cửu ước,
Miên hoa cuồng nhứ loạn liêu sầu.
(Thu nhật khách trung tác)
Tạm dịch:
Đào Chu quen thói ngũ Hồ du,
Chiếu lạnh đêm nằm chẳng chở thu.
Chiêng trống dân Hồ mê đón nước,
Trút tiền chú Khách đón mua cau.
Cúc tùng hoang dại, trăng suông bóng,
Thuyền buộc lòng ai nhớ cá rau.
Trùng cửu hẹn rồi, lên dạo núi.
Hoa bay tản mạn, khiến ai sầu.
(Mùa thu đất khách cảm tác)
B. Trịnh Hoài Đức, người bộc lộ tình cảm với thời thế, bạn bè.
Là người giàu tình cảm, yêu thích những hình ảnh nhỏ nhặt của thôn quê rẫy bái, Trịnh Hoài Đức còn để lòng mình đi xa hơn: thơ ông bộc lộ lòng ưu ái với bạn bè, thời thế. Với bạn, khi phải chia tay ông bịn rịn, âu sầu; bạn đi, ông nhìn mọi vật dưới khía cạnh buồn thảm: chim liệng chập chờn, mây bay mờ mịt, và than thở không biết bao giờ gặp lại bạn.
Trong “Thối thực truy biên tập” những bài thơ tiễn bạn rất nhiều, xin trích ra đây bài “Tiễn Ngô Nhữ Sơn đi Quảng Đông”.
Nguyên văn:
吳 汝 山 之 廣 東 :
惜 別 相 酬 酒 慢 斟
霸 橋 詩 句 不 成 吟
家 貧 母 病 吾 多 累
國 亂 鄉 離 汝 遠 臨
龍 席 差 池 飛 燕 羽
虎 門 寤 寐 暮 雲 心
太 平 慶 會 知 何 日
淚 滴 悲 絲 動 古 今
Phiên âm:
Trích biệt tương thù tửu mạn châm,
Bá kiều thi cú bất thành ngâm.
Gia bần, mẫu bệnh, ngô đa lụy,
Quốc loạn, hương ly, nhữ viễn lâm.
Long tịch si trì phi yến vũ,
Hổ môn ngộ mị mộ vân tâm.
Thái bình khánh hội tri hà nhật,
Lệ thích bi ty động cổ câm.
(Tống Ngô Nhữ Sơn chi Quảng Đông)
Dịch thơ:
Thù tạc vơi đầy chén tiễn đưa;
Bá Kiều (9) ngâm chẳng trọn vần thơ.
Nhà nghèo, mẹ bệnh, tôi nhiều lụy,
Nước loạn, quê lìa, bạn lánh xa.
Long Tịch (10) xập xòe chim én liệng,
Hổ Môn (11) thức ngủ ánh mây mơ.
Bao giờ mở hội thanh bình nhỉ?
Lệ nhỏ, ngàn xưa não tiếng tơ.
(Tiễn Ngô Nhữ Sơn đi Quảng Đông)
Bài thơ trên còn bộc lộ tình yêu quê hương và mối cảm khái của ông đối với thời thế, ông than thở vì mình phải lìa xa quê mẹ và buồn bã vì chinh chiến kéo dài (Thái bình khách hội tri hà nhật! ).
Trong bài “Thương loạn” nỗi đau buồn của ông khi chứng kiến cảnh loạn ly còn nhiều hơn nữa. Ông khóc vì sự khổ ải của dân chúng, vì cảnh chết chốc tràn đầy mọi nơi, vì thảm trạng thê lương giãi bày trước mắt. Ông trách trời cao đã không nhìn thấy những hình ảnh đó.
Giọng văn ông bi thiết, oán trách tỏ mối cảm hoài rất sâu đậm, tình cảm bộc lộ vì chứng kiến sự đớn đau của người chung trong thơ Trịnh Hoài Đức thật bao la:
Nguyên văn:
傖 亂 :
回 首 京 華 淚 暗 垂
生 民 荼 毒 市 朝 移
柳 營 雨 急 將 星 墜
花 縣 春 荒 戰 馬 馳
飽 食 鴉 鴉 郊 噪 喜
無 依 燐 鬼 夜 啼 悲
江 流 半 是 英 雄 血
真 宰 冥 冥 知 不 知
Phiên âm:
Hồi thủ kinh hoa lệ ám thùy,
Sinh dân đồ độc thị triều di.
Liễu doanh (12) vũ cấp tướng tinh trụy,
Hoa huyện (13) xuân hoang chiến mã trì.
Bão thực nha nha giao táo hỉ,
Vô y lân quỷ dạ đề bi.
Giang lưu bán thị anh hùng huyết14,
Chân tể minh minh tri bất tri?
(Thương loạn)
Tạm dịch:
Kinh sư nhòa lệ ngoảnh đầu trông,
Triều chợ, sinh linh cảnh hãi hùng.
Doanh Liễu mưa mau, sao tướng rụng.
Huyện Hoa xuân vắng, chiến câu giong,
No nê đàn quạ kêu mừng rỡ,
Vất vưởng ma trơi hú não nùng.
Pha máu anh hùng, sông một nửa;
Trời cao mờ mịt biết hay không ?
(Cảm thương cảnh loạn lạc)
(Nguyễn Khuê dịch)
Tình cảm bộc lộ với bạn bè, với thời thế trong thơ của Trịnh Hoài Đức có thể đặc trưng trong hai bài khóc Võ Tánh và Ngô Tùng Châu.
Hai bài rất hay, dễ gây cảm xúc cho người đọc, đồng thời biểu hiện được khí tiết anh dũng của những người chết theo thành Bình Định. Nếu Đặng Đức Siêu thành công với bài văn tế nhờ lời văn bi thiết thì Trịnh Hoài Đức cũng rất đáng được lưu ý nhờ ông trình bày được thái độ ung dung, điềm tĩnh trước cái chết (hỏa đồng tâm cộng xích, bồi tửu tùng dung) của hai vị tướng cùng chết theo thành.
Hai bài thơ còn ca tụng Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, coi những vị nầy như những người có công lớn với quốc gia, đáng được miếu đường tế tự:
Nguyên văn:
三 載 身 經 百 戰 中
城 孤 糧 絕 困 英 雄
突 圍 不 忍 心 為 席
報 國 惟 知 我 匪 躬
八 角 火 同 心 共 赤
千 秋 名 與 日 爭 紅
他 年 擬 倣 雲 苔 畫
相 將 應 推 弟 一 功
**
平 生 所 學 已 收 功
杯 酒 從 容 節 慨 雄
一 死 為 仁 酬 帝 卷
千 秋 南 越 振 文 風
妖 氛 辟 易 寒 西 賊
義 氣 昭 回 並 武 公
從 此 知 鄉 多 有 後
綿 綿 祭 祀 國 家 同
Phiên âm:
I. Tam tải thân khinh bách chiến trung,
Thành cô lương tuyệt khốn anh hùng,
Đột vi bất nhẫn nhân vi tịch.
Báo quốc duy tri ngã phỉ cung.
Bát giác hỏa đồng tâm cộng xích,
Thiên thu danh dữ nhật trang hồng,
Tha niên nghĩ phỏng vân đài hoạ.
Tướng tướng ưng suy đệ nhất công.
****
II. Bình sinh sở học dĩ thu công
Bồi tửu tùng dung tiết khái hùng.
Nhứt tử Qui Nhơn thù đế quyển,
Thiên thu Nam Việt chấn văn phong.
Yên phân (w15) tích dịch hàn Tây tặc.
Nghĩa khí chiêu hồi tịnh Võ công.
Tùng thử tri khanh đa hữu hậu,
Miên miên tế tự quốc gia đồng (16).

Dịch thơ:
Trăm trận ba năm ở giữa vòng,
Thành cô, lương hết, khốn anh hùng.
Phá vây chẳng nỡ đem người thí,
Báo quốc riêng bền giữ dạ trung.
Bát giác lòng son cùng lửa đỏ,
Thiên thu danh rạng sánh trời hồng.
Đài mây những nghĩ sau nầy họa,
Văn võ nên tôn đệ nhất công.
***
Bình sinh sở học đã nên công,
Chén rượu ung dung, tiết tháo hùng.
Một chết Qui Nhơn đền nghĩa Chúa,
Nghìn Thu Nam Việt chấn văn phong.
Hơi tà lui sợ, run Tây tặc (17)
Khí nghĩa đời soi, sánh Võ Công (18)
Mới biết từ đây ông có hậu,
Phụng thờ mãi mãi với non sông (19)
Chúng tôi không có tham vọng tìm hiểu cặn kẽ con người của Trịnh Hoài Đức bộc lộ qua tất cả thơ văn của ông, chúng tôi chỉ xin ghi lại một vài bài thơ có tính cách tiêu biểu. Tuy nhiên ta cũng nhận được tình cảm phong phú của tác giả với quê hương thứ hai của ông qua các bài thơ ghi lại những sinh hoạt của ruộng đồng Gia Định, với bạn bè, với thời cuộc.
Không phải con người của Trịnh Hoài Đức chỉ có bấy nhiêu, ông còn đáng cho ta chú ý vì có một nhân sinh quan cao đẹp: không cầu danh lợi “nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”, chỉ thích thiên nhiên, thong dong không vướn bận. Bài thơ “Tửu điếm xuân du” của ông bộc lộ đầy đủ đặc tính của người có khuynh hướng thoát trần.
Nguyên văn:
酒 店 春 遊 :
乘 興 飄 然 縱 玉 蹤
東 風 相 引 向 臨 邛
青 帘 招 飲 垂 新 柳
翠 蓋 迎 賓 挺 古 松
春 思 無 涯 隨 處 樂
人 生 適 意 幾 時 逢
解 闌 為 問 纓 塵 客
五 斗 如 何 酒 一 鍾
Phiên âm:
Thừa hứng phiêu nhiên túng ngọc tung,
Đông phong tương dẫn hướng lâm cung.
Thanh liêm chiêu ẩm thùy tân liễu,
Thúy cái nghênh tân đĩnh cổ tùng.
Xuân tứ vô nhai tùy xứ lạc,
Nhân sinh thích ý kỷ thời phùng.
Giải lan vị vấn anh trần khách,
Ngũ đẩu như hà tửu nhất chung?
(Tửu điếm xuân du)
Tạm dịch:
Nhân hứng thung dung dạo khắp vùng.
Gió đông dẫn lối đến Lâm Cung (20)
Rượu mời, liễu mới cờ xanh phất.
Khách đón, tùng xưa lọng biếc giong.
Xuân tứ mênh mông tùy chốn hưởng.
Nhân sinh mấy thuở thỏa lòng mong
Lợi danh hỏi khách khi tàn cuộc:
Năm đấu bằng chăng rượu một cung ?
(Chơi xuân quán rượu)
Trước khi chấm dứt phần nghiên cứu về Trịnh Hoài Đức xin dẫn ra đây bài thơ đầu tiên trong tập “Thối thực truy biên” thay lời kết luận để chúng ta thấy thêm một khía cạnh khác của tác giả: ý súc tích, văn bóng bẩy, cô đọng: “Liên” vừa mô tả những tính chất của sen vừa ngụ ý trình bày sự hàm dưỡng của mình.
Nguyên văn:
:
鬥 雪 委 梅 先
擎 霜 留 菊 後
自 行 乎 夏 時
長 養 千 年 藕
Phiên âm:
Đấu tuyết ủy mai tiên,
Kình sương lưu cúc hậu.
Tự hành hồ hạ thời.
Trường dưỡng thiên niên ngẫu.
(Liên)
Tạm dịch:
Chống tuyết giao mai trước.
Che sương để cúc sau.
Tự đi vào mùa hạ,
Mầm sen sống rất lâu.
(Sen).


Phụ lục I

18 BÀI THƠ KHI ĐI SỨ

Tác phẩm của Trịnh Hoài Đức.


1. Vuông tròn trời đất nói khôn cùng,
Tháng bảy ngày rằm đến Quảng Đông.
Kẹo kéo lăng nhăng nhai chẳng đứt,
Tơ vò rối rắm gỡ hầu xong.
Nửa năm cơm thịt đôi tên khách.
Ngàn dặm non sông một cái tròng.
Chừ gặp cố nhân bày khoản khúc,
Kẻo đây thương đó, đó ngùi trông.
***
2. Ngúi trông nên phải gắng chìu lòn,
Tháng Tý ngày Dần đến Úc Môn.
Ngàn dặm ơn sâu lai láng biển,
Muôn trùng nghĩa nặng chập chồng non.
Dưới trời ai dễ không tôi chúa.
Trên đất người đều có vợ con.
Đồ sộ vật chi xem hỡi đấy,
Chẳng sau chẳng trước chẳng đen mòn.
***
3. Đen mòn sao đặng nghĩ cùng ta.
Năm nỉ cùng nhau việc cửa nhà.
Ít sống xưa nay người bảy chục,
Nhiều lo lui tới đạo năm ba.
Trăng tròn mặt ủ mây chưa vén.
Biển mặn lòng thường nước khó pha.
Cây có diễm vàng soi tỏ dạ,
Dễ đâu chẳng biết sự nhưng là.
***
4. Nhưng là muốn mở nẻo chông gai.
Bao quản đường xa mấy dặm dài.
Dưới nguyệt tham vui nên rót chén.
Trong sương chịu lạnh bởi tầm mai.
Đã cam mình chịu cây vô dụng,
Chớ nệ ai chê đứa bất tài.
Nghĩ kể hai trăm năm có lẻ,
Xin đừng lần lựa sự nay mai.
***.
5. Nay mai còn có việc chưa tường,
Huống đã xa xuôi mấy dặm trường.
Dường nọ phải chăng còn nhộn nhộn,
Sự nầy khôn dại hãy ương ương.
Chanh ranh bởi đó sao lăng líu,
Mắc mỏ vì ai khéo vấn vương.
Trình với bao nhiêu người quyến thức.
Đem lòng quân tử mặc đo lường.
***
6. Đo lường lại giận sự con cua.
Tưởng đến càng thêm nỗi đắng chua.
Mây mịt mù che trời nhớ bạn,
Nước mênh mông chảy bể trông vua.
Đi cờ nhắm đó tay không thấp.
Điểm nước lo ai cuộc chẳng thua.
Cho biết làm người thì phải vậy.
Dễ đây chẳng biết một bàn vùa.
***
7. Một bàn vùa sạch đám hoang hung.
Phong cảnh như vầy phỉ luống trông.
Lối vịnh năm ba thuyền đỗ liễu.
Đêm non bảy tám hạc về tòng:
Vật còn chút biết trời khuya sớm,
Người dễ không hay đất lạnh lùng.
Nghĩ thấy chín trùng chưa khỏe gối.
Dám đây mình chịu phận thong dong.
***
8. Thong dong như vậy ít ai bì,
Mượn mõ làm vui dễ khó chi.
Thu hướng tám bài thơ Đỗ Phủ,
Đông ngâm một bức họa Vương Duy.
Cầm xoang chấm phím thương tri kỷ.
Cờ sắp thua con học chính sư.
Nguôi thế thì thôi nguôi dễ đặng.
Nguôi thì dễ đặng khó chi chi.
***
9. Chi chi nghe đến tấm lòng xiêu,
Chập chỗi tỳ bà dán hận nhiều.
Riêng trách chẳng vàng người vẽ dạng.
Tây than không bạc nịnh mua yêu,
Đất Hồ hoa ủ màn không lạt,
Trời Hán trăng tròn bóng xế theo.
Bao quản ngọc quan tình mấy dặm.
Mưa sầu gió thảm thuở Ban Siêu.
***
10. Ban Siêu bên núi bóng cờ giơ,
Tuyết trải năm ba hãy đợi chờ.
Lố dạng ác vàng lòng có Hán,
Liếc xem tuyết bạc mắt không Hồ.
Chống sương một cán cờ ngay thẳng.
Trải gió năm canh dãi phất phơ.
Vái hỏi xanh xanh kia biết chẳng.
Ngày nào về đặng nước nhà xưa?
***
11. Nước nhà xưa có phụ chi ai,
Nhắn với bao nhiêu kẻ cõi ngoài.
Gắng sức dời non khoan nói tướng,
Trải lòng nâng vạc mới rằng trai.
Nắng sương chưa đội trời chung một
Sông núi đừng cho đất rẽ hai.
Giúp cuộc Võ, Thang ra sức đánh.
Người coi để tiếng nhắc lâu dài.
***
12. Lâu dài mong trả nợ quân thân,
Bao quản đường xa gánh nặng hoằng.
Chớp lụy anh hùng khi tác biệt,
Bày lòng trung nghĩa đạo vi thần.
Con ve mới dứt hơi kêu Hạ,
Cái võ mò canh tiếng khóc Xuân.
Gió thảm mưa sâu đang dập dã,
Bút hoa mượn chép sự khùng khằng.
***
13. Khùng khằng lại giận đứa lăng nhăng.
Sấm tối mưa mai gẫm chẳng bằng.
Bến nước mười hai đưa chiếc lá,
Đất bằng hai bảy đợi con trăng. (2x7=14)
Thương đây lại dặn đường thương lảng.
Nhớ đó thôi thì chớ nhớ săn
Mối nợ sự duyên ai có hỏi,
Xưa nay cũng một tấm lòng chăng.
***.
14. Tấm lòng chăng phải phải phân trần,
Ít nói là người dưỡng tính chân,
Đã bện bó rơm làm đứa quỷ,
Lại trau cục đá tượng ông thần.
Dù chưa đất phấn tô gương mặt,
Sẵn có cây đa cậy tấm thân.
Cũng muốn đem mình đi thế ấy,
Đem mình đi thế ấy bần thần.
***
15. Bần thần lại giận đứa xung xăng,
Quán Sở lầu Tần đã mấy trăng.
Phới phới mưa Xuân hang dễ lấp,
Chan chan nắng hạ lửa đang bừng.
Thu trao thư nhạn lời no ấm
Đông gặp tin mai chuyện khó khăn.
Trời đất bốn phương non nước ấy,
Làm chi nên nỗi việc lăng nhăng.
***
16. Lăng nhăng bữa díp sự hoang đàng.
Tiệc ngọc thuyền qua bạn đãi đằng.
Than phận lênh đênh đào thớ lợ.
Trách duyên lạc lẽo liễu xây quàng.
Con trăng nhắm bóng cây mai bạc.
Dì gió đưa duyên đóa cúc vàng
Ơn đội chúa Xuân cơn gặp gỡ.
Cơi trầu chén rượu dám mê man.
***
17. Mê man cho đến Bụt là Tiên.
Năm đầu năm hãy giả dạng điên.
Vui sẵn trước hoa vài đóa cúc.
Lo chi trong đãy một đồng tiền.
Lưu Linh vợ lại khôn từ chén.
Lý Bạch vua kêu chẳng xuống thuyền.
Hầu muốn học đòi theo thế ấy.
Song lo thời thế hãy chưa yên.
***.
18. Chưa yên ta phải tính làm sao,
Cơm áo ngồi không dễ đặng nào?
Phải mượn binh sương trừ giác cỏ.
Lại đem trận gió phất cờ lau.
Đất yên cõi Việt rừng nho rậm.
Trời giúp nhà Ngu biển thánh cao.
Mới biết tài non đền nợ nước.
Dám đâu nói chuyện ẩn nguồn Đào.
_________________________
Ghi Chú :

1 Với chức vụ Hiệp Tổng Trấn (tức là Phụ Tá Tổng Trấn, Tổng Trấn lúc đó là Nguyễn Huỳnh Đức).
2 “Gia Định thành thông chí” ngay khi người Pháp mới đến Việt Nam đã dịch ra tiếng Pháp. Bản dịch của G. Aubaret, xuất bản theo lịnh của Bộ Trưởng Hải quân và thuộc địa Chasseloup - Laubat (Imp. Impériale 1863) gồm 13 trang dẫn nhập 359 trang dịch, có cả bản đồ. Tuy nhiên Aubaret đã không dịch phần Thành Trì Chí 城 池 誌 là phần quan trọng của bộ sách, phần nói về thương mại, giao thông cũng như thành trì của Gia Định hồi đầu thế kỷ 19.
3 Ở đây chúng tôi nhắc lại lời đính chánh của Ngạc Xuân, Ca Văn Thỉnh và Đông Hồ về một tác phẩm được gán cho Trịnh Hoài Đức: “Minh Bột di ngư văn thảo”. Sách nầy các tác giả “Việt Nam sử lược”, “Văn Đàn Bảo Giám”, “Hợp tuyển văn thơ” đều cho là của Trịnh Hoài Đức, thật ra Trịnh Hoài Đức chỉ có công cho khắc in lại sáng tác phẩm của Mạc Thiên Tích vốn từ lâu bị mai một mà thôi. Cũng như ông đã cho khắc in tập “Gia Định tam gia thi 嘉定三家詩” (tác phẩm của ông và những người bạn).
4 Ở Việt Nam các nhà viết văn học tách rời ra và cho rằng Trịnh Hoài Đức có “Cấn trai thi tập” “Bắc sứ thi tập”; thật ra “Bắc sứ thi tập” “Quan Quang tập” và nằm trong “Cấn trai thi tập”.
5 Bản cũ, phần chữ Hán đánh chữ cổ罟, sửa là tăng罾 theo phần phiên âm thì mới thuận liêm luật.
6 Trạc anh: giặt giải mũ; Khuất Nguyên, bài ngư phủ từ có câu: “ Thương Lang chi thủy thanh hề, khả dĩ trạc ngô anh” = nước sông Thương Lang trong ta có thể giặt giải mũ. Ở đây có lẽ dân chúng hát một bài ca tụng cảnh đẹp của sông ở Mỹ Tho.
7 Trâu: con trâu đá, xưa bên Trung Quốc cầu đá, chân thường được đẽo hình con trâu. Đây có nghĩa chân cầu.
8 Tang Lâm: Vua Thành Thang nhà Thương cầu đảo ở rừng Tang lâm khi nước nhà bị hạn hán.
9 Cầu ở phía đông huyện Trường An, tỉnh Thiểm Tây, bắc ngang sông Bá Thủy, người xưa phần nhiều tiễn biệt ở đó.
10 Tên thôn của tác giả.
11 Cửa bể ở Quảng Đông.
12 Trại Tế Liễu, đời Hán, Chu Á Phu đi đánh Hung Nô, đóng quân ở Tế Liễu. Về sau, người ta dùng từ ngữ “Doanh Liễu” để chỉ trại quân.
13 Đời Tấn, Phan Nhạc làm quan lệnh huyện Hòa Dương, khắp trồng nhiều đào, lý, vì thế gọi là Hoa huyện.
14
15 Bản in do Southeast Asia studies section, New Asia Research Instute, xuất bản năm 1962 tại Hương Cảng đề là “Yêu Khí” như vậy vừa thất niêm vừa trùng với chữ “Nghĩa khí” ở câu dưới. Ở đây chúng tôi theo bản khắc cũ hiện tàng trữ tại Viện Khảo Cổ.
16 Hai bài nầy trong nguyên bản không thấy đề tựa, chỉ có đoạn văn của tác giả, xin dịch ra đây để góp một phần sử liệu về việc thành Bình Định: Tháng tư năm Kỷ Vị quân vua chiêu hàng thành Qui Nhơn, sai Chưởng Hậu quân Bình Tây Tham Thừa Tướng Quân Quận công Võ Tánh, Lễ Bộ Chánh Hầu Ngô Tùng Châu trấn giữ tháng mười hai. Ngụy tướng Nguyễn Diệu (Trần Quang Diệu) đem đại binh vây hãm tháng tư năm Canh Thân. Quân vua cứu viện, chưa giải vây được, mùa hạ năm Tân Dậu ngự giá thừa hư tiến chiếm Phú Xuân, lại ra lệnh sai Khâm Sai Chưởng Tả quân Bình Tây Tướng quân Quận Công Lê Văn Duyệt tiến đóng Quãng Ngãi, đánh sau lưng giặc. Tôi phụng mệnh theo quân cấp phát lương hướng. Bãy giờ thành Qui Nhơn bị vây lâu, trong ngoài cách trở. Hai ông Võ và Ngô không nỡ phá vòng vây thoát thân, sợ tướng sĩ chết nhiều, mà trong thành những tướng sĩ đầu hàng cũng lắm phen mưu việc lạ, nhiều người ban đêm dòng dây xuống dưới thành để trốn, lại thêm trong thành lương hết; ngày hai mươi bảy tháng năm, ông Võ lên lầu bát giác tự thiêu trước, ông Ngô uống thuốc độc tử tiết, để lệnh cấm hủy quân dụng, toàn thành ngụy cầu sự sống cho ba quân. Tin buồn đến Quảng Nghĩa, mọi người đều thương xót. Tôi nhân khóc hai ông, làm thơ ghi tiết của hai bậc danh thần mà thôi, không phải dùng thơ để “kêu”.
17 Quân Tây Sơn.
18 Võ Tánh.
19 Nguyên chú: Ngô Tùng Châu không có con nối. Khi dẹp yên giặc, Võ Tánh được gia tăng Trung Hưng Đệ Nhất Công Thần Thái Úy Quốc Công, Ngô Tùng Châu được gia tăng Thái Tử Thái Sư Quốc Công, được tế vào mùa xuân và mùa thu, mỗi ông lại được ban tự điền, dân phu thủ mộ theo đẳng cấp khác nhau, ân trạch rất nhiều.
20 Tên đất thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Đời Hán Tư Mã Tương Như đến Lâm Cung, Trác Văn Quân trốn theo Tương Như tại đây.


@ Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa chuyển từ Hoa Kỳ ngày 06.12.2013 .