Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





ĐỜI CÓ SỐ HAY LÀ CHUYỆN NGHIỆP DUYÊN ?



 

Đặt Vấn Đề:

Trong cuộc sống, chúng ta thấy người ta rất hay dùng đến cách nói “đời có số”, “số phận an bài”, “có duyên nên…”, “mắc nợ nên…”, “chắc kiếp trước ở ác/ở hiền nên…” để lí giải những thuận lợi hoặc khó khăn gặp phải trong cuộc đời. Là một người làm trong lĩnh vực khoa học nhưng tôi luôn nhận thấy rõ ràng khoa học không thể giải thích được mọi vấn đề của cuộc sống phức tạp và rộng lớn này. Tôi tò mò thử tìm đọc một số tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau cũng như gặp gỡ hỏi han nhiều người (có người là Phật tử, có người là thầy tu, có người là nhà khoa học, có người chỉ là người mến mộ Đạo Phật như tôi…) thì góp nhặt được một số kiến giải sau để phần nào giải thích được cách nói nôm na của dân gian “đời có số” dưới nhãn quang Phật giáo.

“Đời Có Số” hay là Chuyện Nghiệp Duyên?

Xét về mặt khoa học thì con người là một thực thể sinh học – xã hội, như vậy có thể cho rằng con người khi sống có 2 phần, phần vật chất (thể xác) và phần tinh thần (năng lượng), sau khi chết đi, phần vật chất bị đốt hoặc chôn, trở về với tự nhiên, còn phần tinh thần (năng lượng) vẫn tồn tại trong cuộc sống nhưng ở trong một thế giới khác, (có ý kiến cho rằng trong thế giới khác đó, thời gian không phải là một chiều và không gian không phải là 3 chiều). Điều này cũng phù hợp với định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng, mọi vật chất và năng lượng không tự nhiên mất đi và không tự nhiên sinh ra mà chỉ chuyển hoá từ dạng này sang dạng khác. Phần năng lượng này (thường được gọi là hồn) theo đạo Phật thì nếu không đi tái sanh ngay (tuỳ độ nặng nhẹ của nghiệp) thì tạm ở trong cõi trung ấm khoảng 49 ngày, sau đó sẽ tuỳ vào nghiệp thiện ác đã tạo trong kiếp vừa qua để tái sinh vào một trong 6 cõi (trời, người, Atula, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục). Tái sinh ở đây là gì, người đã chết, thân đã tan rồi thì lấy gì mà tái sinh? Thật ra, tái sinh đó chính là năng lượng (linh hồn/ tinh thần) của ta “chiêu cảm” vào những cảnh giới khác nhau tuỳ theo nghiệp. Chẳng hạn vào cõi địa ngục là những linh hồn khi sống quá tàn ác, bất thiện, đầu óc chỉ nghĩ chuyện tàn ác, thế nên khi sống cũng như khi chết, linh hồn chỉ toàn nghĩ đến/ biết đến những điều tàn ác và lập tức bị “chiêu cảm” vào một không gian trong đó toàn chuyện dữ, đau đớn khốn khổ như có vạc dầu, như có lửa nung (kì thực vạc dầu, lửa nung đó không phải là thật, mà là những cảm xúc mà linh hồn ấy chiêu cảm ra mà thôi, có thể hiểu địa ngục là cõi do linh hồn tự chiêu cảm ra mà thôi). Tương tự, nếu được tái sinh vào cõi người (đây là cõi tốt nhất để tu tập vì nó không quá đau khổ như cọi súc sanh, ngạ quỷ tức ma đói nhưng cũng không quá sung sướng khiến thần thức mụ mị đi như cõi trời), thì năng lượng đó sẽ theo cái nhân quả của nghiệp ở kiếp vừa qua để xâm nhập vào hợp tử giữa cha và mẹ của kiếp sau trong một số tuần đầu lúc hợp tử mới hình thành. Cứ như thế, linh hồn trôi nổi qua muôn vạn lượng kiếp, không bị diệt đi mà cứ tự chuyển hoá từ dạng này sang dạng khác, trừ khi qua nhiều kiếp, linh hồn tu tập, làm thiện và thành tâm hướng Phật, cắt bớt tham sân si và các duyên khác thì có thể thoát luân hồi, về cõi tịnh độ ko tái sinh nữa.

     Đạo Phật cũng lí giải 2 cơ sở quan trọng để giải thích thế giới. Thứ nhất là nhân quả (gieo nhân nào gặt quả đó, kiếp sau được tạo thành từ nghiệp của kiếp trước) ; nghiệp là cái mà ta đã sống, đã hành động thiện/ ác, trong đó có nghiệp chung – cộng nghiệp và nghiệp riêng-nghiệp của mỗi người chia thành nhiều loại như “tích luỹ nghiệp”, “cận tử nghiệp”, “khẩu nghiệp”, “ý nghiệp”… tức mọi suy nghĩ dù vi tế nhất, mọi lời nói, mọi hành động… của ta trong đời đều được một “vô cùng” nào đó “ghi chép” lại, phán xét để sắp xếp cho ta một cái “quả” nào đó trong tương lai, trong kiếp sau. Những người có chung cộng nghiệp (nghiệp chung, nghiệp giống nhau) có thể  được đầu thai vào cùng một đất nước, một hoàn cảnh bối cảnh sống để cùng chịu chung những điều sướng điều khổ của cái bối cảnh chung ấy. Tuy nhiên số phận mỗi người mỗi khác nhau do ai cũng có nghiệp riêng của mình. Nghiệp dữ khiến linh hồn chiêu cảm vào những cõi xấu (súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục) còn nghiệp tốt khiến linh hồn vào những cảnh giới tốt hơn (cõi người, cõi trời, cõi Atula). Nghiệp tốt còn gọi là Phước. Điều đó lí giải được tại sao có người kiếp này mới sinh ra là đã được sống sung sướng trong nhung lụy từ bé, lớn lên nhiều sự hạnh phúc, hanh thông, còn có người sinh ra đã cùi hủi, tàn tật, làm con ăn mày ăn xin ngoài đường. Truyện cổ Anđécxen có lần đặt ra thắc mắc “những đứa bé con ông cháu cha trong phòng kia được hưởng sung sướng đâu phải vì nó sống tốt hơn các cô cậu bé con nhà đầy tớ”, đó chính là số phận, số phận được tạo bởi nhiều nghiệp từ rất nhiều kiếp trước… Tuy nhiên, nếu con người sống tốt, tạo ra nhiều phước thì sẽ được giảm nghiệp xấu đi, tạo ra nghiệp lành thì có thể ngay trong kiếp này, cuộc sống sẽ càng ngày càng tốt đẹp lên và kiếp sau cũng sẽ tốt lành, giống như Nguyễn Du đã khẳng định tuy “ngẫm hay muôn sự tại trời/ trời kia đã bắt làm người có thân/ bắt phong trần phải phong trần/ cho thanh cao mới được phần thanh cao” nhưng lại “xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”. Ngược lại, tại sao có nhiều người sống xấu, sống ác mà kiếp này vẫn được sung sướng, hạnh phúc. Đó là vì ở những kiếp trước, họ đã tạo nhiều phước tốt lành, thế nên kiếp này, họ vẫn còn đang được hưởng những quả tốt của kiếp trước, tuy nhiên, nếu không cẩn thận, họ sẽ như xài một cái đèn dầu mà không tiếp tục tự châm dầu (tiếp tục gieo phước), dầu sẽ cạn kiệt đi, đến lúc hết phước của những kiếp trước rồi, họ bắt đầu trả nghiệp cho những nghiệp dữ họ gieo ở kiếp này rất là khốc liệt. Vì thế, ông trời luôn luôn công bằng.

   Những nhà văn, nhà thơ, họa sỹ, nhạc sỹ, những người hoạt động nghệ thuật…thường được coi là những thiên thần, vì tâm họ thường sạch, họ phải oằn mình gánh chịu những nỗi thống khổ bi thiết của loài người, để nói lên những bi kịch của loài người, họ phải sống không chỉ cuộc đời của họ mà còn là sống thay cho nhân loại. Những người này thác thường được về cõi trời…

    Thứ hai, đó là duyên. Triệu triệu linh hồn trôi nổi qua muôn vàn lượng kiếp không đầu, không cuối ấy tưởng chừng như rời rạc, lãng quên tất cả, thế nhưng họ vẫn bị ràng buộc bởi chữ Duyên. Mọi thứ đều có cái duyên của nó.  Cái duyên của ta với một nghề nghiệp, cái duyên của ta với một tôn giáo, cái duyên được làm họ hàng bà con, cái duyên được thành ba – mẹ- con cái – vợ - chồng , cái duyên được làm bạn bè, cái duyên đi cùng một thuyền, cái duyên gặp gỡ trên trái đất rộng lớn hàng triệu triệu người này, cái duyên nghịch làm kẻ thù, thành người ghét bỏ nhau, cái duyên được ngắm một cảnh đẹp, cái duyên được đúng vào ngày ấy, giờ ấy, khắc ấy được gặp gỡ một con người v.v… Giữa nhân và quả thì có chữ duyên. Có nhân giống như có gạo, nước, có củi nhưng nếu không có chất xúc tác là lửa (duyên) thì sẽ không có quả (cơm). Ta mở cửa sổ và nhìn thấy một cái cây đẹp, nếu có cây, nếu có ta, mà cửa sổ không mở thì sẽ không có duyên nhìn thấy cây đẹp. Có những người đứng trước mặt, tiếp xúc hàng ngày ở công sở, ở lối xóm… vẫn xa lạ và không hiểu gì về nhau, có những người chỉ gặp nhau một lần đã cảm giác rất thân quen, như đã từng quen biết với nhau từ xa xăm rất nhiều kiếp trước. Có duyên cạn, có duyên sâu. Duyên có khởi đầu, duyên có kết thúc. Những duyên đó có thể đến từ muôn vàn kiếp trước, không dễ gì tránh được. Như hoàng đế Napôlêông thấy một cậu lính trẻ đang sợ hãi cúi người tránh một viên đạn thì cười và nói rằng: ”Này anh bạn, nếu có viên đạn nào đó giành cho bạn, thì bạn có chúi đầu xuống nó vẫn tìm đến bạn”.

Nói cho cùng thì mỗi người ai cũng phải sống tận cùng số phận của mình.

Kết Luận:

Vì không phải là Phật tử và lại càng không phải là học giả về Phật học thế nên trên đây chỉ là một số hiểu biết nông cạn lượm lặt của tôi về đề tài rất lớn, chỉ nhằm mục đích cố gắng lí giải cách nói dân gian “đời có số”, “tại kiếp trước ở ác/ở hiền”, “tại có duyên với…”, “tại mắc nợ nên…” dưới nhãn quang Phật giáo. Rất mong những bậc cao minh về Phật học nếu có đi ngang qua đây không nặng lời và chia sẻ, dạy bảo thêm! Cuối cùng, theo thiển ý của tôi thì các giả thuyết tôn giáo tuy về mặt khoa học thì chưa thể thực chứng được, về mặt niềm tin thì những người sùng đạo chia sẻ rằng các giả thuyết đó đều được các bậc cao tăng “thấy”, “ngộ” được khi ngồi thiền hoặc “chứng” được khi chuyển kiếp, tuy nhiên rõ ràng nó cũng tạo được một trường phái lí luận logic để giúp con người giải thích về cuộc sống, đồng thời có tính giáo dục cao, khuyến khích con người ta bỏ ác làm thiện để tạo nghiệp tốt, và duyên lành, từ đó có được sự tốt lành trong cuộc sống hiện tại và tương lai.



.@ Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 26.11.2013.