Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




VĂN HỌC NAM HÀ

文 學 南 河





KỲ THỨ 10.

Nhà Văn Cải Tổ Tinh Thần Thời Loạn,

Đề Cao Trung Hiếu:

Võ Trường Toản



Tiên sinh tính Võ, húy Trường Toản: đời trước hoặc nói là người Thanh Kệ (Quảng Đức), hoặc nói là người Bình Dương (Gia Định), trước thọ nghiệp cùng ai chưa hề rõ được, chỉ biết sở học của tiên sinh đã tới bậc dày dặn đầy đủ, chất thật, có thuật nghiệp thâm uyên thông đạt. Xảy hồi loạn Tây Sơn, tiên sinh ẩn trú mở trường dạy học, thường học trò tới mấy trăm. Ông Ngô Tùng Châu là môn sinh cao đệ nhất. Bậc thứ nhất là chư công Trịnh Hoài Đức, Phạm Ngọc Uẩn, Lê Quang Định, Lê Bá Phẩm, Ngô Nhân Tịnh. Bậc danh sĩ là ông Chiêu, ông Trúc, nhà ẩn dật, ngoài ra không kề được. Các ông ấy đều gặp hồi phong vân, thời trung hưng triều Gia Long đứng vào bậc tôi hiền, có người hoặc sát thân để làm nên điều nhân, hoặc quên mình để trọn tiết nghĩa, thảy đều nên công nghiệp lớn trong đời.

Lúc ngự vào Gia Định, đức Thái 1 Tổ Cao Hoàng đế hằng triệu tiên sinh tới ứng đối. Lại nghe tiên sinh học rộng khắp kinh, và sở trường nhất một bộ Tứ thư. Ông Chiêu, nhà ẩn dật là bậc túc học được theo tiên sinh học thấu nghĩa “trí ngôn, dưỡng khí”. Từng thấy tiên sinh đề trong sách vở này: “Sách Đại Học một nghìn bảy trăm chữ, tan ra gồm vô số sự vật, tóm lại còn hai chữ cũng không”.

Hay thay! Sở học của tiên sinh. Thật là rộng lớn mà tinh vi vậy, dầu học bất cứ ngàn muôn kinh sách nào cũng rõ nghĩa lý được.

Tiên sinh không khứng ra làm quan, nên đại khái không thấy được sự nghiệp. Từ thuở tiên sinh lấy lối học nghĩa lý để giáo hóa, chẳng những đương thời đào tạo được nhiều bậc nhân tài mà còn truyền thuật, giảng luận trau giồi về sau, tới nay dân gian trong sáu tỉnh Nam Kỳ, tỏ lòng trung kính nghĩa cảm phát dám hy sinh tới tính mạng, xét ra tuy nhờ đức thân nhân của quân vương nhuần gội, cố kết nhân tâm, nhưng nếu không có công đức mở mang huấn dục của tiên sinh từ thuở trước thì làm sao có được nhân tâm như thế.

Đến năm Nhâm Tý 17922, ngày mồng chín tháng 6, tiên sinh ra người thiên cổ. Lòng vua cảm mến tiếc thương ân tứ hiệu “Gia định xử sĩ sùng đức Võ tiên sinh ” để ghi vào mộ3 “.

Võ Trường Toản nổi tiếng nhờ nếp sống ẩn dật, tài học, thái độ đối với những người nhúng tay vào cuộc chiến Nguyễn - Tây Sơn, có nhiều môn đệ xuất chúng hơn nhờ ở văn nghiệp.

Thật vậy, vì tài liệu mất mát ngày nay chúng ta chỉ còn lại độc nhất bài “Hiếu Trung Hoài Cổ Phú 4“ không biết ông sáng tác trong trường hợp nào qua một bài phú không lấy gì làm dài và đầy dẫy từ ngữ khuôn sáo, điển tích, có tính cách từ chương chúng ta khó hiểu cặn kẽ tâm hồn của một nhân vật vốn được người đồng thời và cả một vài thế hệ sau đặc biệt kính trọng nầy.

Tuy nhiên, qua những gì còn lại, chúng ta cũng có thể biết được phần nào con người của Võ Trường Toản.

a. Võ Trường Toản, người nhận chân sự tuần hoàn, biến dịch của thiên nhiên tạo vật .

Mở đầu bài phú dài 24 câu, tác giả nhìn nhận sự biến đổi của loài hoa: dầu rực rỡ, thắm tươi bao nhiêu hết khoảng thời gian của đời hoa, hoa cũng tàn tạ. Từ đó ông tổng quát hóa nhận định của mình để áp dụng cho muôn loài trong vũ trụ:

- Thiên nhiên: gò nổng biến thành bể sâu, vực thẳm hóa nên cồn.

- Con người: Đời người không trường cửu từ xưa đến nay không biết bao nhiêu kiếp người nối tiếp:

Rỡ rỡ cúc ba thu, ba thu lụn cúc đà tàn héo;

Hây hây sen chín hạ, chín hạ qua sen cũng rã rời.

Cho hay vực thẳm nên cồn!

Khá biết gò cao hóa bể!

Quán âm dương rước khách xưa nay, đã mấy lâu đời;

Đò tạo hóa đưa người qua lại, biết bao nhiêu chuyến.

Nhắp nhoáng ngọn đèn trong kiếng;

Lênh đênh bóng nguyệt dòng sông”

Từ nhận định cơ bản về sự biến đổi của thiên nhiên tạo vật, cuộc đời Võ Trường Toản nhìn lại lịch sử, những cuộc tranh chấp được thua, những hành động hay dở của người trước, rồi cũng biến thành hư ảnh:

Lánh non Thú cam bề ngạ tử, hai con Cô Trúc đã về đâu?

Luyện linh đan lo chước trường sinh, bốn lão Thương San đà bặt dấu!

Mộng tàn nửa gối, bướm Trang Châu giấc hãy mơ màng;

Xuân lụn mấy canh, quyên Thục Đế tiếng còn khắc khoải.

....................................

Ngựa trên ải một may một rủi;

Hươu dưới Tần bên có bên không.

Hán Võ ngọc đường, người ngọc nọ xưa đà theo gió;

Thạch Sùng kim cốc, của tiền xưa nay đã lấp sương”

Tất cả những gì người đời đặt làm mục tiêu tranh đấu để đạt được như lâu đài đẹp đẽ, sự nghiệp huy hoàng, chiến công rực rỡ, quân đội dũng mãnh, cuộc sống vui thú... cũng theo thời gian biến đổi còn lại chăng là những vết tích tàn phá hoang sơ:

Thương hỡi thương huyền quản cung Tần, chim làm tổ tiếng kêu văng vẳng;

Tiếc ôi tiếc y quan đời Tấn, biển nên cồn cỏ mọc xanh xanh.

Cung Tùy xưa chim nói líu lo, mấy độ xuân về hoa rưới lụy.

Đài Ngô trước hươu nằm ngả ngớn, đòi ngàn sương ngọn cỏ đeo sầu.

Ô Giang đêm thẳm hé trăng mành, quạnh quẽ búa rìu họ Hạng.

Cai Hạ ngày chiều hiu gió mát, phất phơ ngọn cỏ nàng Ngu.

Đài vắng Nghiêm Lăng, mấy khúc quanh co sông chảy tuyết;

Thuyền không Phạm Lãi, năm hồ lai láng nước ken mù”..

b. Võ Trường Toản người chủ trương chỉ thảo ngay mới thường trụ với thời gian.

Cuộc đời không có gì vĩnh viễn: Thời gian qua mau, công danh dễ tan biến, sắc đẹp dễ tàn tạ, của cải rồi cũng mất, Võ Trường Toản xác định như vậy, nhưng chính ông cho rằng thời gian không hủy hoại danh thơm tiếng tốt đạt được do lối cư xử của chúng ta với cha mẹ, với quân vương: thảo, ngay.

Tóm lại ông đề ra cách sống kiểu mẫu của con người trong thời loạn, thời con người dễ dàng đánh mất lương tâm vì đói, vì muốn đạt được danh vọng. Ông nhắc đến những chuyện hiếu trung xưa cũ như những gương sáng để mong tạo lại một nếp sống hợp đạo lý: con đối với cha hết lòng, tôi đối với chúa hết dạ:

Cho hay dời đổi ấy lẽ thường,

Mới biết thảo ngay là nghĩa cả.

Lụy rơi non Lịch, Đại Thuấn từng dời tánh hai thân.

Sương lọt áo bô, Tử Khiên lại trọn niềm một thảo.

Tám trăm dặm xông pha ải tuyết, thương họ Hàn chói chói lòng đơn.

Mười chín thu dầm nhuốm trời sương, cám ông Võ phơ phơ đầu bạc”.

Tư tưởng ông giống với câu đối của Phạm Thụy, người đồng thời ở Bắc Hà, chán việc chúa Trịnh đàn áp vua Lê, từ quan về dạy học dán câu đối ở chỗ ngồi:

Nhất đẳng nhân: trung thần hiếu tử.

Lưỡng kiện sự: độc thư, canh điền.

= Một hạng người tôi trung con hiếu.

Hai sự việc, đọc sách, cày bừa.

Có nhiều cách nhìn đời, có vô số thế dạy đời. Võ Trường Toản nhìn đời với cặp mắt bi quan, ông chú ý đến khía cạnh bi đát do tạo hóa đặt ra cho chúng sinh, cho vũ trụ. Nhưng cũng từ cái nhìn bi thảm đó ông dạy đời một cách sống động và thâm trầm, phải tìm trong sự thay đổi cái không thay đổi: “danh thơm tiếng tốt”.

Trời mỏn đất già danh hãy rạng, lụy non Ngưu nghĩ cũng sụt sùi;

Biển khô đá rã tiết nào phai, sử họ Mã chép còn tỏ rõ”.

Võ Trường Toản, không hoài cổ một cách vô ích, không bi quan để bi quan, chất hoài cổ chất bi quan đã được tác giả mượn để đóng vai một thứ men tạo lợi ích, gây dựng những thế hệ tốt cho mai hậu.

Cuộc đời ông, những học trò nổi tiếng của ông đã thể hiện những điều ông từng vạch ra trongHiếu trung hoài cổ phú” (ít nhứt là ở những quan điểm hiếu trung hơi gò bó, hẹp hòi của nguời xưa.)

*

* *

Phụ Lục :

HIẾU TRUNG HOÀI CỔ PHÚ

Tác phẩm của Võ Trường Toản

1. Rỡ rỡ cúc ba thu ba, ba thu lụn cúc đà tàn héo;

Hây hây sen chín hạ, chín hạ qua sen cũng rã rời.

2. Cho hay vực thẳm nên cồn;

Khá biết gò cao hóa bể (5).

3. Quán âm dương rước khách xưa nay, đã mấy lâu đời.

Đò tạo hóa đưa người qua lại, biết bao nhiêu chuyến.

4. Nhấp nhoáng ngọn đèn trong kiếng;

Lênh đênh bóng nguyệt dòng sông.

5. Đường Ngu (6) ấp tốn (7) rượu ba chung, dường say, dường tỉnh;

Thang Võ chinh tru cờ một cuộc, thoạt đặng thoạt thua.

6. Của có không nào khác đám mây;

Người tan hiệp dường như bọt nước.

7. Lánh non Thú cam bề ngạ tử hai con Cô Trúc (8) đã về đâu ?

Luyện linh đan lo chước trường sanh bốn lão Thương san (9) đà bặt dấu!

8. Mộng tàn nửa gối, bướm Trang Chu giấc hãy mơ màng;

Xuân lụn mấy canh, quyên Thục Đế tiếng còn khoắc khoải.

9. Tha thiết bấy một gò huỳnh nhưỡng (10), ngọc lấp hương chôn;

Áo não thay mấy cụm bạch vân mưa sầu gió thảm!

10. Ngựa trên ải một may, một rủi;

Hươu dưới Tần bên có bên không.

11. Hán Võ ngọc đường, người ngọc nọ xưa đà theo gió;

Thạch Sùng kim cốc, của tiền xưa nay đã lấp sương.

12. Lao xao cõi trần ai, trường hoan lạc gẫm không mấy lúc;

Thấm thoắt cơn mộng ảo, đoạn biệt ly há dễ bao lâu.

13. Nghìn năm hồn phách Hán anh hùng, hồn phách mất người kia cũng mất.

Muôn dặm nước non Đường thổ võ, nước non còn đời ấy đâu còn.

14. Thương hỡi thương! huyền quản (11) cung Tần, chim làm tổ tiếng kêu văng vẳng;

Tiếc ôi tiếc, y quan đời Tấn, biển nên cồn cỏ mọc xanh xanh.

15. Cung Tùy xưa chim nói líu lo, mấy độ xuân về hoa rưới lụy;

Đài Ngô trước hươu nằm ngả ngớn, đòi ngàn sương ngọn cỏ đeo sầu.

16. Ô Giang đêm thẳm hé trăng mành, quạnh quẽ búa rìu họ Hạng.

Cai Hạ ngày chiều hiu gió mát, phất phơ ngọn cỏ nàng Ngu (12).

17. Đài vắng Nghiêm Lăng, mấy khúc quanh co sông chảy tuyết;

Thuyền không Phạm Lãi, năm hồ lai láng nước ken (13) mù.

18. Cho hay dời đổi ấy lẽ thường;

Mới biết thảo ngay là nghĩa cả.

19. Lụy rơi non Lịch, Đại Thuấn từng dời tánh hai thân;

Sương lọt áo bô, Tử Khiên lại trọn niềm một thảo.

20. Tông khóc măng, Tường nằm giá, nằn - nằn lo giữ đạo con.

Tích dấu quít, Cự chôn con, nắm nắm (14) đua đền ngãi mẹ.

21. Trước đền Trụ mổ gan một tấm, muôn kiếp còn danh để tạc bia;

Dưới thành Ngô treo mắt đôi tròng, ngàn năm hãy người đều nhởm gáy.

22. Tám trăm dặm xông pha ải tuyết, thương họ Hàn (15) chói chói lòng đơn.

Mười chín thu dầm nhuốm trời sương, cám ông Võ phơ phơ đầu bạc.

23. Cật Võ Mục (16) nhuộm thâm bốn chữ; tấm trung thành đã thấu trời xanh!

Áo Thiên Tường (17), ghi đượm hai câu, phương tựu ngãi chi phai lòng đỏ.

24. Trời mỏn đất già danh hãy rạng, lụy non Ngưu nghĩ cũng sụt sùi;

Biển khô đá rã tiết nào phai, sử họ Mã chép còn tỏ rõ.

(Hiệu đính theo Hiếu trung hoài cổ Vịnh - Nông cổ mín đàm số 87 ngày 9-07-1903 và Quốc Âm Văn Uyển trang 106-107).

________________________________

Chú Thích :

1 Đúng ra là Thế tổ, vì hiệu Thái tổ đã dành cho Nguyễn Hoàng.

2 Mất tại làng Hòa Hưng (tỉnh Gia Định).

3 Về tiểu sử của Võ Trường Toản chúng tôi mạn phép chép lại một phần bài văn bia trước mộ ông (ở Ba Tri) do Phan Thanh Giản viết (Ngạc Xuyên Ca Văn Thỉnh dịch) để thấy được phần nào lòng kính trọng của một bậc danh thần, ái quốc đối với một chí sĩ, một nhà giáo như Võ Trường Toản.

4 Chính ngay bài nầy học giới gần đây mới xác nhận ông là tác giả. Tuần báo “Nông Cổ Mín Đàm” số 97 ngày 9 - 7 - 1903 và Lê Sum “Việt Âm Văn Uyển” - Sàigòn 1919, trang 107 đều ghi “vị tường danh thị”.

5 Câu 1 và 2: cuộc đời vốn đổi thay. Có đó mất đó.

6 Đường: vua Nghiêu họ Đào Đường; Ngu: Vua Thuấn họ Hữu Ngu.

7 Ấp tốn: Nhường ngôi cho người hiền, chỉ việc vua Nghiêu nhường ngôi cho vua Thuấn.

8 Bá Di, Thúc Tề, hai con vua Cô Trúc, không chịu ăn thóc nhà Châu nên vào núi Thú Dương và chết đói ở đấy.

9 Đời Hán, bốn ông lão Đường Tuyên Minh, Kỳ Lý Quý, Thôi Huỳnh, Châu Thuật không chịu làm quan lên núi Thương sơn ở ẩn luyện linh đơn.

10 Huỳnh nhưỡng: đất vàng. Gò Huỳnh nhưỡng: mộ.

11 Huyền quản: dây đàn, ống sáo, gọi chung là nhạc cụ.

12 Cỏ nàng Ngu: Ngu Cơ, vợ Hạng Võ tự vận chết hóa ra cỏ thơm tục gọi Ngu mỹ nhân thảo.

13 Ken: Rủ nhau, hợp lại đông đảo; ken mù: sương đóng dầy.

14 Nắm nắm: cẩn thận và sợ hãi; như nơm nớp.

15 Hàn: tức Hàn Dũ vì bài bác đạo Phật bị vua Đường Huyền Tông đày ra vùng băng tuyết Triều Dương phía Bắc nước Tàu.

16 Võ Mục: Tức Nhạc Phi được mẹ xâm trên lưng bốn chữ “tận trung báo quốc”.

17 Thiên Tường: tức Văn Sơn ghi vào vạt áo hai câu để tự khuyên nên hy sinh cho điều nghĩa.



Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa chuyển từ Hoa Kỳ ngày 08.11.2013 .

Quay Lên Đầu Trang