TÁC GIẢ
TÁC PHẨM





NGUYỄN VĂN HOA

Sinh ngày 8 tháng 9 năm 1946 tại Thôn Tháp Dương, xã Trung Kênh, huyện Lương Tài , Bắc Ninh.

. Tiến sĩ Kinh tế. ( bảo vệ tại CHDC ĐỨC 28-2-1987)
. Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội
. Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội.

TÁC PHẨM XUẤT BẢN :

- Sếu Đầu Đỏ (tập thơ), 1998.
- Mưa Trong Thơ Việt (sưu tầm, tuyển chọn), 1996.
- Miền Quê Kinh Bắc: tuyển thơ cổ và kim (sưu tầm, tuyển chọn), 1997
-Tuyển Tập Thơ Văn Xuôi Việt Nam và Nước Ngoài ( biên soạn cùng PGS. TS Nguyễn Ngọc Thiện, Viện Văn học).
- Chân Dung Các Nhà Kinh Doanh Nổi Tiếng Thế Giới ( biên soạn cùng Nguyễn Hữu Viêm, Thư viện Quốc gia).






ĐOẢN VĂN & TRUYỆN

. BÀN THIÊN NAM BỘ
. QUÊ NGOẠI TUỔI THƠ
. EM Ở ĐÂU ?
. CHUYỆN MẸ KỂ
. ĐÁM MA CON CHÓ TRẮNG
CỦA CỤ TỔNG DOÃN

. CÂY GẠO VỚI
NGÔI MIẾU CỔ LỤC ĐẦU GIANG

. VỚT CỦI TRÊN LỤC ĐẦU GIANG
. NÀNG LÀ AI ?
. CÂY VỐI LỤC ĐẦU GIANG
. NÀNG TỰ TỬ Ở LỤC ĐẦU GIANG ?
. CU KIẾM Ở LỤC ĐẦU GIANG
. KẺ GIẦU Ở LỤC ĐẦU GIANG





BIÊN KHẢO


. VŨ VĂN KÍNH :
NGƯỜI ĐÃ XUẤT BẢN
. NHIỀU ĐẦU SÁCH VỀ NÔM NHẤT TẠI VIỆT NAM

. GIẢI MÃ NGHỀ BUÔN QUA
CA DAO TỤC NGỮ THÀNH NGỮ VIỆT NAM

- PHẦN THỨ I -
. THẬT ÁM ẢNH KHI ĐỌC
100 BÀI THƠ TỨ TUYỆT CỦA NGUYỄN KHÔI ( KINH BẮC )

. QUAN HỌ BẮC NINH ĐI VỀ ĐÂU
THỜI HỘI NHẬP QUỐC TẾ !

. THI SỸ ĐÔNG HỒ
. GIẢI MÃ NGHỀ BUÔN QUA
CA DAO TỤC NGỮ THÀNH NGỮ VIỆT NAM

- PHẦN THỨ 2 -
. VĂN BIA CŨNG CHÍNH LÀ MỘT CUỐN GIA PHẢ BẰNG ĐÁ
. GIẢI MÃ NGHỀ BUÔN QUA
CA DAO TỤC NGỮ THÀNH NGỮ VIỆT NAM

- PHẦN THỨ 3 -
. GIẢI MÃ NGHỀ BUÔN QUA
CA DAO TỤC NGỮ THÀNH NGỮ VIỆT NAM

- PHẦN THỨ 4 -
. BÀN VỀ NHÀ THỜ HỌ Ở HÀ NỘI VIỆT NAM
. SAU KHI VIỆT NAM HỘI NHẬP WTO VỀ VĂN HOÁ NGƯỜI VIỆT NAM KHÔNG BỊ ĐỒNG HOÁ
. TỤC NGỮ DÂN TỘC MƯỜNG
. NÉT ĐẸP VỀ TẾT QUÊ TÔI LỤC ĐẦU GIANG
. TẾT NGUYÊN ĐÁN VỚI CÁC TRÒ CHƠI DÂN GIAN
. TRANH TẾT ĐÔNG HỒ (KINH BẮC) MANG HỒN THUẦN KHIẾT VIỆT NAM
. TẾT NGUYÊN ĐÁN VỚI HOA VÀ CÂY CẢNH Ở NHÀ QUÊ VIỆT NAM
. LỄ HỘI Ở KINH BẮC
. BẬP BẸ ĐÁNH VẦN TÊN LÀNG KINH BẮC
























Ao Làng tranh của họa sĩ Lê Thành Sơn





BẬP BẸ ĐÁNH VẦN TÊN LÀNG KINH BẮC


1- Đặt Vấn Đề :

Làng được hiểu nôm na : Khối dân cư ở nhà quê làm thành một đơn vị dân cư có đời sống riêng về nhiều mặt và là đơn vị hành chính thấp nhất thời phong kiến .Chắc là ai cũng nhớ những câu như : " Đất vua chùa làng " hoặc Phép vua thua lệ làng.
Chúng tôi xin phép được bập bẹ đánh vần tên làng Kinh Bắc . Qua đó rút ra những nhận xét ban đầu về làng hiện đại thời hội nhập với quốc tế này.

2- Tên Làng Kinh Bắc Nghe Sao Lay Động Tâm Hồn Thuần Việt :

2.1 Theo Nguyễn Văn Huyên thì Kinh Bắc thế kỷ 15 có 21 huyện , Tù Sơn có 347 xã ; Thuận An có 341 xã ; Bắc Hà có 148 xã; Lạng Giang có 343 xã;

Theo Nguyễn Trãi thì Kinh Bắc có 1191 xã.Đến thời Gia Long thì Kinh Bắc có 1138 xã.Đến thời Đồng Khánh Kinh Bắc thành Bắc Ninh có 1162 xã.

Như vậy Kinh Bắc có đến hàng vạn làng lớn nhỏ.

Nhũng làng này có những tên Nôm thuần Việt , có thể nêu ra đây nhiều ví dụ : Ghềnh, Lợ, Gỗ, Then, Táo , Vại, Chè , Keo, Sỏi, Già, Bún,Gốm, Lời, Lỏ, Vầg,Vo, Via, Tạnh Dõi, Dìa,Chuỗi, Gỏi, Suon, Mụ,Sổ, Nị,Đanh,Rổ,Son, Gạo, Chẩm, Chai,Lụa,Mốt,Chợ, Vít, Giũa, Chầm, Rộng, Ngui, Chuông , Đọ , Khuoc,Xe,Thốc, Mẻ, Rỉ, Vít, Thơm, Giau, Rợm, Câu, Giàn Đan, Mái, Bùng , Giá, Tó, Rồng, ó, Týa, Lọn, Un, Lồi, Súa, Rối, Buộm, Lụa, Luòng, Chành,Lợ,Dàng, La, Guộc, ải, Trè, Chều, Ngo, Vọt,Mốt, Ngò, Lìm, Bíp con, Gù, Kếp, Lớ, Dựng, Chỗ, ống, Nguòm , Đóm, Mịn, Cả , Bùa, Nét, Nuống , Sép , Sần, Cháy, Giai, Mòi , Dạm Cờu, Muối, Chàng , Kiếu, Trải, Mài, Lốy, Giộc, Nguòm ,Guọt, Lụa, Ni ,Móng, Sộp, Muõu, Nêm, Bò, Sẻ, Nía,Ve, Nua, Dủi, Dàng, Trục, Nhội,Chục , Thiếm, vạn, Xói, Diềm, Sọ, Chôi, ải, Cuỏm, Đủm, U, Se, Xua , Son, Ngói,Rổ , Kén, Nhuộn,Cù, Duồng, Sòi, Lĩnh, Tè

2.2 Tên làng rất lạ sao vẫn tồn tại ?

Làng ác, Làng Lọc ( dễ hiểu lầm thành lùa lọc), Kẻ Rét làng,Hâm, Âm Duong, Khốc bé, làng Bời, Tè

2.3 Gắn với núi,sông nuóc :

Làng Bến , Nắp Ngòi , làng Đìa, Thôn Trì, Long Khê, Kim Sơn, Sơn Nội, Núi, Hà, Sơn Giao, Nhẫm Núi, Giếng, Của Ngòi, Nham, Bè, Suối Ván , Hố Nuóc, Liên Trì, Khe,Vục Bún, làng Núi, Đồi Nhơm, Khê thuọng , Khê hạ, Bãi Giốc , Đồi đèn, Vục,Trì Hà , Trại Giang

2.4 Tên làng gắn với cây cối :

Nắp Dùa, làng Vối , Làng Cói, Báng, Bàng, Rùng, Găng, Đậu, Buỏi, Na, làng Phán Lâm, Rùng Cả, Vuòn Hồng, Cây Táo, Phú Cốc, đồng Miá, Liễu, Me, Đồi Chè, Vuòn, Mít, Mào Gà, Hoè

2.5 Tên làng gắn với chợ búa :

Làng Ve chợ Nắp chợ làng ,Thôn Chợ, Thị, làng Và Chợ, Chợ Nhẫm,

2.6 Tên làng gắn với địa thế:

Dông Ghềnh , Dông Trũng, Ngụ ngoài , Ngụ trong, Nội , Ngoại, Hạ , Thuọng , Đoài , Đông, Trung , Hậu , Tiền , Nội , Ngoại , Thuọng Sáp, Duệ Nam, Đông Bình, Bụu giũa, Làng Và Núi, Làng Bãi cát, Đông Tảo, làng Chiền, Truóc, trong Làng, Lò Gạch , Giáp Thuọng , Giáp Hạ, Giáp Trung, Tây, Trại giũa , Trại Thuọng

2.7 Tên làng gắn với nghề nghiệp :

Thôn Bún , Buỏi Cuốc, Buỏi Nồi, Triện Quang , làng Gốm , Chẩm Nỏ, Sặt Đồng, Choá Sắt, Rèn , Đanh

2.8 Tên làng gắn với cầu cống, đuòng xá :

Làng Cầu Tu, Làng Cầu Tre, làng Cống, Cầu Giát, Cầu, làng Đuòng, Ninh Cầu, Cát, Đê, Cầu Gió,

2.9 Tên làng với với một họ :

làng Nguyễn , Làng Bùi, làng Đặng

2.10 Tên làng gắn với đình chùa :
Tụ, Đình Cả, Thôn Chùa, Thôn Đình Cúc, Làng Sãi, Đình , Chùa , NGõ Chùa , Ngõ Đình, Hà Thị,

2.11 Tên làng gắn với động vật :

Làng Cò Nhớn, Đống Mối, thôn Rùa,

2.12 Tên làng cầu may mắn :
Bình Yên,Phú Điền, Phú Cốc, Đa Thịnh, Hưng Thịnh, Phú An, Phú Mỹ, Đa Mỹ, Lộc Phú , Phú Hoà, Yên Ninh, An Cu,

2.13 Tên làng theo số đếm thứ tự :

Trại Nhất, Trại Nhị

3- Bập Bẹ Nhận Xét Ban Đầu :

3.1 Tên làng trùng lặp nhiều nhất ở Kinh Bắc :

ví dụ 42 Thượng Làng,34 Trong làng, 31 Hạ Làng , 30 Đông Làng , 15 Nội Làng ,10 Đồng Làng, 9 Đông thôn, , 7 Huong làng, , 5 Hạ thôn

3.2 Nghĩa tên làng dễ hiểu:

Giả dụ nhu làng Bình Yên,Phú Điền, Phú Cốc, Đa Thịnh, Hung Thịnh, Phú An, Phú Mỹ, Đa Mỹ, Lộc Phú ,, Phú Hoà, Yên Ninh, An Cu, Ví dụ lấy làng Đa Điền ,triết tụ biêt ngay là có nghĩa là : " Nhiều ruộng ".

3.3 Hầu như tên làng cổ chỉ có một chữ :

( xem phần 2.1). Nhiều khi truy tìm nghĩa đều vô vọng . Nhung nó lại dễ nhớ với nhũng nguòi dân ngàn đời sinh cơ lập nghiệp ở đó. Hoặc những nguòi đồng hương phải " tha phương cầu thực " nơi đất khách quê người. Chỉ một chữ tên làng đã tức khắc kéo họ sát lại gần nhau lúc thiên tai , dịch hoạ, hoạn nạn!?

3.4 Một làng có nhiều tên qua quá trình lịch sủ:

Nguòi già , nguòi đi xa quê lâu ngày thì nhớ tên cổ , còn nguòi trẻ và nguòi đang sống ở làng thì nhớ tên hiện tại.

Cá nhân tôi thích gọi tên làng theo tên cổ hơn . Ví dụ quê ngoại tôi tên cổ là làng Nhội , tên địa lý hành chính là Ngọc Thượng .. Nhưng ký úc ùa về khi nghĩ về quê ngoại tôi vẫn thầm thì gọi là làng Nhội.

4- Kết Luận :

Qua trình đô thị hoá , công nghiệp hoá và hiện đại hoá làng cổ đã trở thành làng hiện đại đuòng bê tông , điện thắp sáng , nuóc máy, Internets, tin học và tiếng Anh đã ập đến tùng gia đình . Bao nhiêu phong tục tập quán truyền thống đang vật lộn với nhịp sống hối hả " kinh tế thị truòng". Chua bao giờ làng Kinh Bắc lại sống động nhu ngày nay!
Điều đáng mùng là tên làng xua , hầu hết vẫn bí hiểm -vẫn chua giải mã hết nghiã của nó , cũng nhu bao nhiêu Luật Tục làng cổ vẫn âm thầm tồn tại níu kéo con nguòi về với cội nguồn.Nó trỗi dậy mãnh liệt khi thiên tai , địch hoá, dịch bệnh... nó gắn kết cách thành viên làng với nhau. Nó là pháo đài bất khả xâm phạm .Nó thách thúc thời gian vỡi câu tục ngũ: " Phép vua thua lệ làng ".
Tại cách thành phố lớn , khi muu sinh mệt nhoài, nhũng nguòi con Kinh Bắc tha huong lại tìm đến các món ăn chân quê thòi thơ ấu , đó là canh cua, cà pháo , cơm nấu niêu đất... Họ náo núc tìm đến các Hiệu ăn có các món ăn ở Làng Tôi!

Làng tôi với cái tên Nôm bí ẩn đang âm thầm mãnh liệt gìn giũ nhưủng tinh hoa văn hoá nghìn năm làng Kinh Bắc Việt Nam . Trái tim của tôi luôn vang lên tên làng tôi biết bao kỷ niệm êm đềm. Vì nơi yêu dấu ấy có Mẹ tôi gần 100 tuổi đang sống vui vầy - Tứ Đại Đồng Đường với con - cháu - chắt .



Tiến Sĩ NGUYỄN VĂN HOA



TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN TRUYỆN NGẮN ÂM NHẠC