Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




NHỮNG PHỤ NỮ ẤN TƯỢNG

TRONG ĐỜI MAO TRẠCH ĐÔNG






1. Mẹ: Hiện thân của người phụ nữ lương thiện Trung Quốc

Có một điều thú vị rất giống nhau ở những nhân vật nổi tiếng của Trung Quốc như Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai hay Châu Đức, Đặng Tiểu Bình, đó là người mẹ luôn giữ vị trí quan trọng nhất trong trái tim họ. Mẹ của Mao Trạch Đông, bà Văn Thất Muội là một người phụ nữ cần cù, lương thiện và phẩm chất cao quý. Năm 1867, bà sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo tại huyện Thương Hương cách Thiều Sơn Chung hơn 200km. Năm 18 tuổi, Văn Thất Muội đã lấy người nông dân tại Thiều Sơn Chung, Mao Thuận Sinh làm chồng. Năm 1893, bà sinh Mao Trạch Đông, sau đó sinh Mao Trạch Dân, Mao Trạch Đàm và nhận nuôi một đứa trẻ Mao Trạch Kiên.

Đối với mẹ, Mao Trạch Đông rất tình cảm. Khi mẹ mất không lâu, trong thư gửi người bạn cùng học, ông viết: “Trên thế giới có ba loại người: hại người lợi mình, lợi mình mà không hại người và có thể có hại cho mình để tốt cho người, mẹ của mình là thuộc vào người thứ ba”.

Những năm 30, ông từng nói: “Mẹ tôi là người phụ nữ tốt bụng nhất, luôn giúp đỡ người khác và thương cảm cho những người nghèo khổ”.

Mao Trạch Đông rất kính yêu mẹ. Mùa hè năm 1918, đêm trước ngày đến Bắc Kinh, ông hết sức lo lắng về sức khỏe của mẹ, đã nhờ người kê đơn thuốc đặc trị gửi cho bà. Mùa xuân năm đó, ông trở về và đưa mẹ đi chữa bệnh, ngày ngày săn sóc tận tình. Mao Trạch Đông và hai người em trai đã đưa mẹ đến studio để chụp ảnh kỷ niệm. Đây là lần đầu tiên chụp ảnh và cũng là lần cuối cùng của bà Văn Thất Muội. Tháng 10/1919, mẹ của Mao Trạch Đông qua đời. Ông luôn túc trực bên lĩnh cựu của mẹ, và viết bài “Văn tế mẹ” đầy nghĩa tình trong nước mắt.

Ngày 25/6/1959, Mao Trạch Đông trở về quê hương sau 32 năm cách biệt. Ông đã đứng trong yên lặng nhìn chăm chăm vào bức ảnh của cha mẹ, tưởng nhớ lại những năm tháng vui đùa sướng khổ bên cha mẹ và gia đình.

Chính tấm lòng cao thượng, phẩm chất cao quý, thương yêu con người của mẹ đã dạy cho ông đạo làm người, vì dân vì nước, phấn đầu vì cho cuộc sống nghèo khổ của người dân thường, từ đó hy sinh bản than cống hiến cho đất nước Trung Hoa.

2. La Thị: “Nạn nhân” của cuộc hôn nhân “sắp xếp”

Bên cạnh mộ của cha mẹ Mao Trạch Đông, còn có một ngôi mộ đã bằng phẳng đó chính là của người vợ thứ nhất của Mao Trạch Đông – bà La Thị. Khi xuất gia lúc 18 tuổi, bà là một người con gái có dung mạo đẹp, tính tình ôn hòa, lương thiện.

Bà nội của La Thị là chị em họ với ông nội của Mao Trạch Đông. Bố của Mao Trạch Đông là ông Mao Thuận Sinh rất yêu quý cháu gái La Thị nên đã đến nhà họ La xin gả cho Mao Trạch Đông.

Về làm vợ, nàng La Thị chăm chỉ giúp mẹ chồng việc nhà. Nàng đối xử tốt với em dâu Vương Thư Lan là vợ của Mao Trạch Dân, chu đáo với chồng. Bố mẹ chồng hết sức hài lòng về cô con dâu.

Để giữ thể diện cho bố mẹ và họ hàng, Mao Trạch Đông lặng lẽ chấp nhận cuộc hôn nhân này để chú tâm đọc sách và lao động. Năm 1910, La Thị mắc bệnh kiết lỵ, không may qua đời, năm đó nàng mới chỉ 21 tuồi. Mao Trạch Đông lúc đó mới 17 tuổi.

Năm 1936, Mao Trạch Đông đã từng nói: “Khi tôi 16 tuổi, cha mẹ cưới cho tôi một cô gái 20 tuổi, nhưng tôi chưa bao giờ sống cùng với cô ấy. Tôi không biết cô ấy là vợ tôi. Lúc đó, tôi hâu như không hề nghĩ đến cô ấy…”.

Mặc dù Mao Trạch Đông không thừa nhận hôn sự này, nhưng vẫn nhớ La Thị. Sau giải phóng, anh trai La Thị đã viết thư cho Mao Trạch Đông muốn đến Bắc Kinh và ông đồng ý. Lúc đó, họ hàng của Mao Trạch Đông có nhiều người muốn đi Bắc Kinh, nhưng ông không trả lời lại, trừ anh trai của La Thị. Điều đó có thể thấy sự áy náy của ông đối với nàng La Thị.

3. Vương Thập Cô: Hồi ức đẹp đẽ thời niên thiếu của Mao Trạch Đông

Cuộc hôn nhân của Mao Trạch Đông và nàng La Thị không mấy mặn nồng cũng bởi vì trong lòng ông đã sớm có một hình bóng của Vương Thập Cô.

Những năm 50 của thế kỷ XX, Mao Trạch Đông đã từng hỏi Vương Hải Dung – người đảm nhận công việc ghi chép và nghị định thư của Bộ Ngoại giao: “Không biết, Vương Thập Cô sống ra sao?”

“Vương Thập Cô là ai?”, Hải Dung không hề biết. Về nhà liền hỏi bà ngoại của mình là bà trẻ của Vương Thập Cô. Bà nói: đó là cháu gái họ của ta, không có tên chính xác, mọi người trong nhà thường gọi là Vương Thập Cô.

Thực chất, hai người là chị em họ (mẹ của Mao Trạch Đông là Văn Thất Muội, mẹ của Vương Thập Cô là Văn Lục Muội), trưởng thành cùng nhau tại nhà bà ngoại, nên có thể nói họ là đôi thanh mai trúc mã cho đến tuổi dựng vợ gả chồng. Mao Trạch Đông và Vương Thập Cô chờ đợi để kết thành một đôi, nhưng người đoán số kết luận, hai người này không thể lấy nhau vì họ có họ hàng với nhau.

Vì thế, nhà họ Vương liền đính hôn Vương Cô cho một người cùng huyện, họ Triệu. Không lâu sau, Vương Cô kết hôn. Thật không may, sau khi hết hôn không được bao lâu, Vương Cô qua đời. Khi Vương Hải Dung kể lại sự tình, ông Mao đã buông một tiếng thở dài.

Trước mặt Hải Dung, Mao Trạch Đông không hề nhắc đến Vương Thập Cô một lần nào nữa. Trong đầu ông, chỉ còn đọng lại hồi ức cảm động: “Cô ấy là một người tốt. Người trắng, tính tình tốt bụng, khéo léo”. Lúc đó, Mao Trạch Đông dường như đang hồi tưởng lại thời niên thiếu hạnh phúc của mình.

Ở Trung Quốc, vào thời kỳ xây dựng nhà nước mới, người ta tôn sùng Mao Trạch Đông như một “Người thầy vĩ đại” – “Lãnh tụ vĩ đại” – “Thống soái vĩ đại” – “Người cầm lái vĩ đại”. Tuy vậy, cuộc sống riêng của ông lại rất chắc trở, bốn lần kết hôn, nhưng chỉ dành nhiều tình cảm cho hai người phụ nữ.


4. Dương Khai Tuệ: Người phụ nữ Mao Trạch Đông yêu nhất

So với Vương Thập Cô và La Thị, Dương Khai Tuệ là người hạnh phúc nhất. Cuối năm 1920, Dương Khai Tuệ kết hôn với Mao Trạch Đông, đó là kết quả của tình yêu và sự tự nguyện.

Năm 1922, Dương Khai Tuệ đã sinh hạ được một bé trai tên là Mao Ngạn Anh. Tháng 4/1923, nhóm quân phiệt Hồ Nam do Triệu Hằng Thích hạ lệnh truy nã Mao Trạch Đông. Vì thế, ông buộc phải đến Thượng Hải, để vợ đang mang thai đứa con thứ hai ở nhà. Năm sau, Dương Khai Tuệ cũng đến Thượng Hải đoàn tụ với Mao Trạch Đông. Mùa hè năm 1927, Chính phủ Quốc dân Đảng Vũ Hán chống cộng sản, Dương Khai Tuệ đem con về nhà ngoại. Sau hội nghị lần thứ 7 khóa 8, Mao Trạch Đông âm thầm trở về Hồ Nam, bí mật đến thăm vợ con.

Cuối tháng 8, Mao Trạch Đông tham gia cuộc nổi dậy mùa Thu. Trước khi đi, ông dặn dò vợ chăm sóc con cái cẩn thận để yên tâm tham gia một số cuộc vận động nông dân. Dương Khai Tuệ đưa cho chồng đôi giày cỏ trước khi lên đường, nhưng không ngờ cuộc ly biệt lần này trở thành sự chia ly mãi mãi của hai người.

Trung tuần tháng 10/1930, Dương Khai Tuệ bị bắt vào tù cùng với bảo mẫu Trần Ngọc Anh và con trai 8 tuổi Mao Ngạn Anh. Dương Khai Tuệ chỉ cần tuyên bố chấm dứt quan hệ với Mao Trạch Đông thì lập tức được thả tự do, nhưng đã cương quyết trả lời: “Chết cũng không đáng tiếc, nhưng chỉ mong muốn cách mạng sẽ sớm thành công”.

Lúc đó, mẹ của Dương Khai Tuệ tìm người gửi điện thư bảo lãnh. Sau khi bọn quân phiệt nhận điện, lập tức hạ lệnh hành hình và trả lời rằng đã giải quyết trước khi nhận được điện. Ngày 14/11, Dương Khai Tuệ bị giết, lúc đó mới 29 tuổi.

Sau này, trong cảnh sống thanh bình, ông Mao luôn nhớ đến Khai Tuệ. Khi gặp người bảo mẫu Trần Ngọc Anh năm đó, ông đã hỏi hoàn cảnh và cuộc sống cực khổ của vợ mình trong tù, và lặng lẽ nói rằng: “Sự chiến thắng của cách mạng thật không hề đơn giản…”.

5. Hạ Tử Trân: Người bạn cách mạng “đồng cam cộng khổ, hoạn nạn có nhau”

Theo “Phả hệ Mao Thị Thiều Sơn”, người vợ thứ ba của Mao Trạch Đông là Hạ Tử Trân. Hai người là đồng đội trong thời kỳ chiến đấu ở tỉnh Cương Sơn và Giang Tây, từng vào sinh ra tử cùng nhau trong suốt 10 năm khó khăn nhất của cách mạng.

Trong cuộc trường chinh, tại huyện bàn tỉnh Quý Châu bị kẻ thù ném bom, để che chở cho các bệnh binh bị thương, toàn thân Hạ Tử Trân đã bị thương nặng, tính mệnh rơi vào nguy hiểm, nhưng yêu cầu không để Mao Trạch Đông đang ở tiền tuyến tác chiến biết.

Tại thời điểm đó, Hồng quân đang vượt qua sông Chi Thủy, đây là thời khắc quan trọng để đối phó với quân đội của Quốc dân đảng, vì thế Mao Trạch Đông không thể rời khỏi vị trí chỉ huy, không thể đi thăm Hạ Tử Trân.

Khi biết vợ bị thương nặng, Mao Trạch Đông hết sức lo lắng, tại phòng chỉ huy, ông đã nói: “Không thể để Hạ Tử Trân ở nhà dân, vì không có thuốc chữa trị, lại không an toàn, dù chết cũng phải đưa cô ấy về đây”. Ông lập tức cử bác sỹ đến Phúc Liên Chương, giúp đỡ đồng đội cứu chữa. Riêng ông sau đó đã đến chăm sóc Hạ Tử Trân.

Hạ Tử Trân là một người có ý thức mạnh mẽ về sự nghiệp, không bằng lòng với công tác thư ký bên cạnh Mao Trạch Đông, cô có lý tưởng của riêng mình, muốn học hỏi và rèn luyện ngày càng nhiều.

Tháng 10/1938, Hạ Tử Trân đến Matxcơva, kiên trì lưu lại Liên Xô, nhưng lại gặp nhiều chuyện không may. Con trai mới sinh chưa được bao lâu bị chết do nhiễm viêm phổi cấp tính. Sau khi Mao Trạch Đông biết chuyện liền đưa con gái là Kiều Kiều sang Liên Xô ở cùng với vợ, nhưng một thời gian sau ông cũng đưa Tử Trân về nước.

Mao Trạch Đông đã từng nói với những người làm bên cạnh ông về mối quan hệ giữa ông và Tử Trân, ông có trách nhiệm và Tử Trân cũng có trách nhiệm. Một bên là tình cảm, những cũng có lúc là rất khó chịu và phức tạp.

Ngày 9/9/1976, Mao Trạch Đông qua đời. Năm 1976 là năm nhuận, ngày 8/9 dương lịch là rằm tháng 8 âm lịch và cũng là ngày sinh nhật của Hạ Tử Trân.

6. Giang Thanh: Ngưi v cui cùng

Mao Trạch Đông và Giang Thanh có một thời gian dài bên nhau nhưng quan hệ của rất phức tạp. Trong thời kỳ chiến tranh, quan hệ của họ khá bình lặng, hài hòa. Sau thời kỳ kiến quốc, Mao Trạch Đông đối với Giang Thanh lúc thì coi trọng, lúc thì lạnh nhạt, lúc thì quan tâm, lúc lại chỉ trích. Cuối cùng, quan hệ của họ cũng chỉ là hữu danh vô thực.

Giang Thanh sinh năm 1914, là người tỉnh Sơn Đông. Năm 1928, Giang Thanh vào Tế Nam theo học ở một đoàn kịch. Mùa xuân năm 1929, vào học tại trường cao đẳng nghệ thuật. Cuối năm 1930, cưới một thương nhân họ Hoàng tại Tế Nam, nhưng sau mấy tháng thì ly hôn. Sau đó, Giang Thanh đến tìm việc tại thư viện của Trường Đại học Thanh Đảo.

Ở đây, cô đã quen một thanh niên tiến bộ lúc đó đang giữ chức Thị trưởng TP Thiên Tân, bí thư Ủy ban thành phố tên là Du Khởi Uy. Năm 1931, cô kết hôn với Du Khởi Uy, chịu ảnh hưởng, đã tham gia vào nhóm văn hóa cánh tả. Năm 1933, Du Khởi Uy bị bắt, hôn nhân của hai người cũng kết thúc.

Cùng năm đó, Giang Thanh đến Thượng Hải, tiếp tục tham gia vận động văn hóa cánh Tả. Tháng 10/1934, Giang Thanh bị bắt. Sau khi ra khỏi tù, cô “dấn thân” vào giới kịch nói và điện ảnh. Trong thời gian đó, cô quen nhà bình luận điện ảnh Đường Nạp và kết hôn (năm 1936), nhưng cuối cùng hai người lại chia tay.
Giang Thanh đã thu hút sự chú ý của Mao Trạch Đông. Một phần do cô chủ động theo đuổi, mặt khác cũng vì ở Diên An lúc đó, cô khá nổi bật: tóc đen, mắt to và, hát kinh kịch hay. Cô thích trang điểm và cũng biết trang điểm. Cô còn biết đan áo len, thiết kế mẫu áo và may quần áo. Vì thế, trang phục của cô rất phù hợp. Cô viết chữ rất đẹp, đặc biệt là viết chữ khải (kiểu chữ chính thức, chuẩn mực, dễ nhận biết, dễ đọc nhất và vẫn là phổ thông nhất trong các kiểu viết chữ Hán hiện nay).

Năm 1938, hai người kết hôn và có một con gái, nhưng Mao Trạch Đông đối xử với Giang Thanh rất nguyên tắc. Năm 1948, trước khi vào Đảng, cán bộ lúc đó phải trải qua một cuộc thẩm tra nghiêm ngặt. Giang Thanh cũng đang trong thời điểm này, đã nhờ Mao Trạch Đông nói hộ vài câu, nhưng ông không đồng ý.

Cho dù rất thành công trong sự nghiệp, Mao Trạch Đông vẫn luôn muốn sống như những người dân thường, có một gia định hạnh phúc, có một người bạn tri kỷ tâm đầu ý hợp. Dương Khai Tuệ và Hạ Tử Trân là hai người ông cảm thấy tiếc nuối nhất trong cuộc đời của mình.


N.B.D (Theo báo Trung Quốc)

. Cập nhật theo nguyên bản chuyển từ HoaKỳ ngày 07.11.2013.