Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





CỔ TÍCH THỜI @




Có lẽ không có tựa đề nào thích hợp hơn thế, bởi câu chuyện thật mà giống như trong truyện Cổ Tích, chỉ có khác đi là nhân vật Thầy trong truyện không có dáng dấp tiên phong đạo cốt, râu tóc bạc phơ, tay cầm gậy trúc, thoạt ẩn thoạt hiện trên đỉnh non cao huyền bí với sương che, tuyết phủ. Học trò cũng không phải là một đồng tử, một mình với tay nải, cơm nắm muối vừng, vượt qua bao nhiêu vách núi cheo leo, bao con thác gập ghềnh hiểm trở, rừng sâu với thú dữ chực chờ hay sơn lam chướng khí… để bái sư học đạo. Thầy tôi là người của thời đại, cách đây gần 40 năm, đã cương quyết để vợ con ở lại Kinh Đô Huế, một mình vượt mấy trăm cây số, vào Saigon thuê nhà ở để tìm cho được những người có hẹn với mình từ kiếp xa xưa nào đó. Và một trong những học trò đó là tôi. Lúc đó đã là một phụ nữ có chồng, có con, và hơn 30 tuổi! Đó là câu chuyện thật về việc thầy tìm trò để truyền Đạo Phật của chính tôi mà nhiều năm rồi, tôi có ý định viết lại để nói lên ân tình của một người Thầy đã hết lòng đào tạo cho tôi, nhân Ngày Nhà Giáo 20 Tháng 11, vì theo tôi, có lẽ đó là một trong những nhà giáo vô vụ lợi và tận tâm nhất trên đời.

Trước 75, tôi là một nhân viên Ngân Hàng Pháp. Thời đó lương nhân viên Ngân Hàng nước ngoài khá cao. Một bao gạo Thái Lan hạt dài 100kg giá 1.500đ, mà lương của tôi đến hơn 100.000đ. Cuối năm lại có lương tháng 13, 14, nên cuộc sống ổn định, chẳng bao giờ để tâm đến chuyện gì khác ngoài hai bữa sáng, chiều đến sở làm rồi về nhà. Cho đến ngày Miền Nam Giải Phóng, mọi việc thay đổi. Chủ Tây về nước, đổi tiền, rồi lương đồng loạt hạ xuống còn 18đ mỗi tháng, nên tôi xin nghỉ việc về nhà trông coi nhà thuốc Tây của gia đình lúc đó chưa bị đánh tư sản. Không được phân phối thuốc mới. Thuốc còn lại cũng ít, lại có đứa em đứng bán, nên vợ chồng tôi cũng khá rảnh rang, mỗi sáng thường đến nhà bạn bè chơi, bù lại những năm tháng cắm cổ đi làm! Trong những bạn bè mà vợ chồng tôi hay đến nhà uống trà nói chuyện, có một ông lớn tuổi, giáo sư Pháp Văn, đang dạy kèm cho con của một thầu khoán, nay thất nghiệp buôn đồ phụ tùng xe đạp, vì thời điểm đó mua xăng khó khăn, nên xe đạp thịnh hành. Hơn nữa, việc mua bán dù thu nhập không bao nhiêu, nhưng cũng có cái để hàng xóm, địa phương biết là gia đình mình có làm ăn chân chính. Đó là cách sống của một số gia đình không có người đi làm công nhân viên chọn, để phù hợp với hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ.

Hết chuyện xưa đến chuyện nay. Ông giáo sư kể về một vị Thiền Sư mà ông bạn cựu thầu khoán do đi buôn đồ xe đạp thường xuyên gặp nên thành quen thân. Theo ông này kể: Thiền Sư này trước đây sống ở Huế, mới vô Saigon thời gian gần đây. Mỗi ngày cũng đi lấy phụ tùng xe đạp về bày bán trước nhà. Theo vị Thiền Sư này kể, thì thời gian sống ở Huế, đêm nào ông cũng Ngồi Thiền và thấy trước nhiều việc rất chính xác. Một trong những câu chuyện là ông thấy trước chuyện không may của gia đình của một Dược Sĩ mà hàng tuần ông hay đến hiệu thuốc của cô mua để làm từ thiện. Ông kể, có một đêm, trong Thiền, ông thấy gia đình cô Dược Sĩ sẽ bị tai nạn thảm khốc, nên lúc đến mua thuốc, ông đã báo với cô. Nhưng chỉ dám nói nhè nhẹ là thấy cô sẽ gặp nạn thôi. Ông nói rằng ông hy vọng những gì thấy trong Thiền là sai, chuyện không may sẽ không xảy đến, nhưng đề nghị cô thử nghe ông tìm cách hóa giải, bằng cách bố thí và mua chim phóng sinh. Nhưng lần sau ông trở lại thì cô này bảo là “em có nói với chồng em, nhưng chồng em phản đối, nói là có tiền mua chim thì đem rô ti mà ăn, tội gì thả”. Thiền Sư nghe vậy thấy gia đình cô nặng nghiệp quá đành chịu thua.

Cho đến ngày 30 Tết, ông lại đến mua thuốc, thì cô Dược Sĩ còn nói: “Anh nói em sẽ bị tai nạn trong Mùa Đông này, nhưng hôm nay là 30 Tết rồi”. Ông Thiền Sư cho biết là đến hết Mồng 7 mới hết mùa Đông. Thế rồi, ngày mồng 4 Tết năm đó, Huế bị pháo kích, một quả rơi trúng nhà và cả vợ chồng cô Dược Sĩ đều chết thảm! Do vợ chồng cô Dược Sĩ này là chỗ thân quen của chồng tôi khi cô học Dược ở Saigon, nên chồng tôi tò mò nhờ vị cựu thầu khoán giới thiệu để đến gặp vị Thiền Sư đó.

Một buổi sáng, chúng tôi hẹn nhau. Ông cựu thầu khoán chở vợ chồng tôi và ông giáo sư Pháp văn đến nhà vị Thiền Sư trên chiếc La-Đàlạt. Lúc đến thì đúng vào buổi cơm trưa, cả gia đình ông đang quây quần trên chiếc bàn ăn lớn để giữa phòng khách. Thấy có khách đến, vị Thiền Sư buông đũa ra tiếp chúng tôi. Thấy đang bữa cơm, chúng tôi không tiện ngồi lại, chỉ sau vài lời giới thiệu của ông cựu thầu khoán là chúng tôi từ giã ra về. Khi tiễn vợ chồng tôi ra cửa, vị Thiền Sư còn căn dặn vợ chồng tôi là cứ đến chơi bất cứ giờ nào, vì ông cũng rảnh rang.

Không chờ lâu, sáng sớm hôm sau là chồng tôi và tôi trở lên nhà để gặp ông. Câu chuyện đầu tiên là chồng tôi hỏi về vợ chồng cô Dược Sĩ. Ông cũng kể lại y như vậy, và còn cho biết, trong Thiền ông còn thấy trước chợ Đông Ba sẽ hư hại ở góc nào? Cầu Trường Tiền sẽ sập nhịp thứ mấy. Ông có viết lại trong Sổ Thiền, và có nói với mấy người bạn tu. Sau đó đã cùng với họ, mặc complet vô chợ Đông Ba quyên tiền của mấy tiểu thương ở đó để mua chim phóng sinh, hy vọng bớt đi mức thiệt hại. Nhưng sau đó diễn tiến vẫn y như ông thấy trong Thiền, không thay đổi.

Lúc đó vợ chồng tôi không ai đi làm việc, nên ngày nào cũng đèo nhau tới nhà ông dù đường khá xa, từ đường Phan Liêm Quận I lên đến gần cuối đường Trương Minh Giảng, gần Nhà Thờ Tân Sa Châu.

Trong trao đổi ông cũng nói về chuyện thần thông mà ông có là do Ngồi Thiền theo Đạo Phật, làm cho chúng tôi thấy sao lạ lẫm quá. Thời buổi này mà còn có vụ thấy trước, thấy sau... nên cũng muốn khám phá cho biết. Cách giải thích về Đạo Phật của ông rất lạ. Thay vì mọi người vẫn nghĩ rằng Phật là một vị Thần Linh, thì ông cho là “Đạo, là Con Đường. Phật là Giải Thoát. Phật là người tự Giải Thoát cho mình khỏi Phiền Não. Con đường tu Phật là con đường đưa đến Giải Thoát, và bất cứ ai cũng đều làm được”, làm tôi càng tò mò, dù lúc đến nghe ông nói chuyện, tôi không hề có ấn tượng gì về Đạo Phât. Không những thế, tôi còn cho những người theo Đạo Phật là mê tín.

Do từ nào đến giờ hoàn toàn không biết một chút gì về Đạo Phật, và thỉnh thoảng nghe tụng Kinh thì tưởng là kinh Phật được viết bằng chữ Phạn. Lần đầu được thầy tặng cho quyển Kinh Viên Giác, và Duy Ma Cật, tôi mở ra và ngạc nhiên thấy viết bằng chữ Việt, trình bày lại rõ ràng, dễ hiểu. Thế là tôi phát tâm kiêu mạn nghĩ là sẽ đọc thật kỹ để tìm cái sai rồi báo cho ông biết là ông mê tín như thế nào!

Thật lạ lùng! Tôi thấy lời Kinh quá dễ hiểu, lý lẽ xác đáng, không bắt bẻ được. Thế là tôi say mê, đọc không biết chán. Ngủ thì thôi. Mở mắt ra là đã đem Kinh ra đọc. Trừ giờ đi chợ hoặc nấu ăn, những giờ còn lại tôi đọc say mê, chẳng thiết đến việc gì khác! Cũng không biết vì sao mà trong khoảng 1 tháng đầu tiên cứ cầm quyển Kinh lên, đọc vào là tôi ngủ say như chết, dù mới vừa ngủ cả đêm! Nhưng ngủ thì thôi. Tỉnh lại thì tôi lại đọc. Cứ vừa đọc, vừa ngủ cho đến khi không còn buồn ngủ nữa thì càng đọc mê say hơn. Tôi không đọc suông, mà vừa đọc vừa tìm hiểu ý nghĩa. Chỗ nào không hiểu thì lên nhà hỏi Thầy. Cứ dần dà như thế, tôi bị nhiếp vào Đạo Phật bao giờ mà không hay.

Bạn bè của chồng tôi khi nghe nói chuyện về ông cũng nhờ dắt lên để gặp. Những nhóm khác cũng vậy. Mỗi người đến nghe, thấy chuyện Đạo được giải thích một cách rõ ràng, hợp lý, nên về nhà rủ thêm vợ, con, bạn bè, vì thế, phòng khách nhà thầy lúc nào cũng có 4, 5 người ngồi để hỏi Đạo. Bất cứ lúc nào đến nhà thì cũng thấy ông mặc sơ mi ngắn tay trắng, bỏ thùng, mang giày sandal ngồi ở salon như để đợi sẵn. Thời đó còn khó khăn, không được tụ tâp quá 5 người nên bà vợ của ông rất ngại. Thấy khách đến, bà không biết nói sao. Mời về thì không được nên sốt ruột cứ đi vào, đi ra. Thấy vậy ông kéo cả đám vô trong nhà người bạn đồng tu với ông lúc trước, nay cũng xin theo học với ông. Có bố là Cựu Chánh Án ở Hà Nội về ở chung. Nhà tận cuối hẻm đường Bùi Thị Xuân, lại có cán bộ cao cấp ở nên không bị để ý. Thế là có địa điểm thích hợp, hàng ngày chúng tôi tới đó để nghe Thầy nói pháp. Cũng không nhớ là Thầy đã nói những gì, chỉ nhớ là ông dặn Phóng Sinh, Bố Thí, Quán Soi, tập hành Lục Độ.

Khi bắt đầu hiểu đôi chút về Đạo, tôi có hỏi về việc tu hành thì Thầy tôi bảo: “Đừng có tu, khó lắm!” Nhưng không hiểu do sức mạnh nào mà tôi và những người bạn, cương quyết xông vào. Sau đó bảo nhau: “Không nỡ bỏ việc tu hành, vì Thầy quá tốt”. Thời buổi khó khăn, mọi người còn ăn độn mà lúc nào chúng tôi ghé nhà cũng được chiêu đãi: khi thì bún bò, khi thì nước mía, lúc lại là bát chè đậu đen! Bản thân tôi không sinh trưởng từ gia đình theo Đạo Phật nên chẳng biết quả vị là gì? Cũng không nghĩ tu là để thành thánh thành thần gì để mà phấn đấu, chỉ là Thầy dạy gì thì làm đó. Bảo Ngồi Thiền thì Ngồi. Bảo Soi, Quán thì Soi, Quán. Bảo nên Phóng sinh thì mua chim, cá, ốc tới tấp để thả, thế thôi! Lúc đó điện thoại chưa có, muốn hỏi gì thì phải đến tận nhà. Lúc đầu còn xăng thì đi xe Honda. Lúc xăng khó khăn thì đi xe đạp. Vậy mà có ngày chồng tôi chở tôi lên nhà Thầy đến 3 lần. Bởi vì tôi liên tục đọc Kinh rồi liên tục thắc mắc, và lúc nào cũng nôn nóng muốn được giải đáp ngay. Cũng may thời đó gia đình tôi còn chút tiền, nên không bận tâm về kinh tế.

Ban đầu tôi đã đến gặp Thầy vì tò mò, sau đó thấy Kinh có lý nên say mê, không biết rằng từ năm 1968 Thầy tôi đã biết có hẹn với một nhóm người ở Saigon nên cương quyết vô Nam cho bằng được. Lúc đó gia đình thầy sống ở Huế, cuộc sống ổn định, nên khi nghe Thầy bàn đưa cả gia đình vô Sai gon thì bà vợ Thầy không bằng lòng, vì gia đình Thầy rất đông con, Saigon lại không có người thân thích, vào đó biết sống ra sao? Thuyết phục không được, lợi dụng năm đó Huế có biến động, Thầy tôi gom hết của cải, dắt díu cả gia đình, định vô Saigon luôn. Không dè mới đến Quảng Trị thì nghe tin bình yên đã vãn hồi nên đành dắt gia đình quay về Huế.

Thầy vẫn cương quyết phải vô Saigon, dù bà vợ phản đối. Sau này Thầy kể lại cho chúng tôi nghe rằng Thầy phải nói dứt khoát với vợ: “Nếu mụ không đi thì tôi đi một mình”, và rồi một mình Thầy đã vô Saigon, thuê nhà ở tạm để chờ chúng tôi. Khi tôi đến gặp thầy vào tháng 7/1977 thì vợ Thầy cũng đã bồng bế hết đám con để bỏ Huế vào Saigon rồi. Họ mua 1 căn nhà mặt tiền, ở đường Lê Văn Sỹ, lúc đó là đường Trương Minh Giảng và ở đó. Mấy năm sau mới quay về Huế để bán nhà. Thầy tôi đã qua đời từ năm 1981, nhưng bà vợ vẫn tiếp tục ở đó cho đến hiện nay. Con cái đều đã lớn, có gia đình riêng. Tất cả đều thành công trong cuộc sống.

Buổi đầu chỉ có vợ chồng tôi lui tới nhà Thầy để học hỏi. Lần hồi nhiều người biết rồi giới thiệu nhau đến, nên số người đến nghe pháp có khi lên đến 40, 50. Nhóm người theo Thầy tôi tu học, đa phần là bạn bè rủ nhau, từ nhiều người giới thiệu khác nhau nên rất đa dạng. Gần như mọi thành phần trong xã hội đều có mặt: Bác sĩ, Luật Sư, Kỹ sư, Kiến Trúc Sư, Dược Sĩ, Giáo Sư, Thương gia, Tiếp viên Hàng Không, Thầy thuốc Bắc, Y Tá, cựu công, tư chức, công nhân... kèm theo là vợ, con. Có người còn đang làm việc. Có người đã thất nghiệp. Có người là ngụy quyền đi học tập về. Có người bị cải tạo tư sản. Đa phần là trên 30 tuổi. Tất cả bị đảo lộn công ăn việc làm nên khi nghe có người giảng Đạo Phật thì đều háo hức, hàng tuần tập trung tại nhà của Bác Bửu ở một con hẻm gần Lăng Cha Cả để nghe thuyết giảng. Thầy tôi bảo biến cố 75 là dòng pháp của Chư Phật để hối thúc chúng tôi phải quay về với Đạo.

Bác Bửu, tên đầy đủ là Nguyễn Khắc Bửu, lúc đó còn đang là Kỹ Sư Trưởng cho Nha Hàng Không VN. Nhiệm vụ của bác là coi sửa máy bay, vì bác tốt nghiệp từ Pháp, sau đó tu nghiệp ở Mỹ về. Do sửa máy bay nên phải bay thử. Thế là cứ cách 1 hoặc 2 tuần, bác lại bay sang Nhật để học tu Thiền với Thiền Sư Suzuki. Bác có 17 năm học với Thiền Sư này. Nghe bạn bè kể lại, lần đầu theo người bạn đến gặp Thầy tôi, Bác nói huyên thuyên. Không biết ông nói chuyện trên trời dưới đất gì đó, mà Thầy tôi đã vỗ xuống bàn, nói: “Phật Pháp tại thế gian, tại đây nè”. Thế là bác Bửu giật mình, sau đó cũng xin theo học với Thầy. Cũng nhờ nhà của Bác rộng, lúc đó lại đang mở một Hợp Tác Xã Dệt Thun tại nhà, nên sau đó có chỗ cho chúng tôi mỗi sáng Chủ Nhật tập trung đến để nghe giảng pháp trong suốt 2 năm. Một điều cũng lạ là hàng tuần anh em nườm nượp kéo đến nghe Thầy giảng có hơn 50 người, mà không bị phát hiện. Nếu có, chắc cũng phải giải tán rồi. Nhắc lại thời xa xưa tôi còn nhớ đã trêu bác Bửu: “Tu là cội phúc, tiền là dây thun”!

Lúc đó tôi mải say mê đọc Kinh, chẳng quan tâm đến việc gì khác nên cũng chẳng nhớ Thiền Sư Suzuki uy tín lẫy lừng trong giới tu Thiền, để hỏi bác Bửu xem Bác đã được dạy những gì. Chỉ nghe Bác nói lần đầu sang Nhật để viếng Thiền Sư Suzuki, vừa đến chân núi là Ngài đã cho đệ tử xuống đón vì Ngài biết trước Bác sẽ đến. Và chuyện khác là mỗi lần Bác Ngồi Thiền, kéo chân lên là ý thức bặt đi mất tiêu, có khi cả 2 tiếng sau mới quay trở lại. Đã có nhiều năm Ngồi Thiền, nên khi gặp thầy tôi hướng dẫn thì Bác mở Thần Thông rất nhanh. Đoán trước cho nhiều người rất chính xác. Nhưng chỉ thời gian ngắn sau thì thần thông cũng mất. Và Bác cũng đã qua đời vào sau đó ít lâu, sau khi rít một hơi thuốc Lào bị sặc, rồi đi luôn.

Thời gian giảng pháp, thấy anh em lơ đãng Thầy tôi rất nhiều lần nhắc nhở: “Các anh em nên cố gắng, vì thời kỳ hành nguyện của tôi đến năm 81 là hết”. Nhưng không ai trong chúng tôi hiểu Thầy muốn nói gì. Nên chỉ nghe qua rồi bỏ, không để ý tới, chỉ khi Thầy qua đời mới sực nhớ ra!

Sau khi Ngồi Thiền được một thời gian, Thầy tôi bảo tôi khỏi phải ngồi nữa, mà nên viết những điều hiểu được khi Soi, Quán ra thành bài rồi đưa cho ông xem. Ban đầu mỗi bài tôi viết chỉ độ vài câu là hết ý. Sau đó là nửa trang, dần dà là 2, 3 trang cho một đề tài. Cứ mỗi lần nộp bài là ông đọc rồi giải thích thêm. Cho đến khi ông thấy cái hiểu của tôi đã đủ vững, thì bảo tôi thôi khỏi nộp bài nữa. Cũng nên nói là khi vào tu học tôi làm thơ về Đạo khá nhiều. Có bài tôi viết mà không hiểu rõ ý nghĩa. Tôi vẫn trình Thầy để hỏi và Thầy cũng hay đọc giữa những buổi thuyết giảng để mọi người cùng nghe, để khuyến khích anh em.

Một ngày kia, trong một lần ghé nhà, Thầy bảo tôi về nhà viết một bài đưa cho ông xem. Tôi hỏi viết về đề tài gì, thì Thầy bảo: “Viết cái gì cũng được, nhưng bỏ vô đó độ mươi bài thơ mà chị đã làm”. Về nhà tôi suy nghĩ, tại sao mình không đúc kết những gì đã học, đã hiểu từ buổi đầu đến giờ? Thế là trong vài giờ buổi chiều đó, tôi viết xong, đánh máy sạch sẽ, sáng hôm sau chồng tôi chở xe đạp lên đưa cho Thầy.

Tôi còn nhớ, đọc xong, Thầy mở kính, lau nước mắt và vỗ đùi nói: “Tôi mừng quá, vậy là pháp của tôi thành công rồi. Chị qua được thì nhiều người cũng qua được”. Sau đó, Thầy mang bài của tôi đọc cho những anh em trong Đạo Tràng nghe và bảo họ cũng viết để Thầy xét trình độ hiểu biết Đạo của họ. Cuối cùng Thầy chọn được 25 người để tổ chức một buổi lễ ấn chứng. Thời đó mà tập trung tại nhà của một người bạn ở mặt tiền đường Bùi Thị Xuân cả hơn 50 người suốt từ sáng đến quá trưa mà vẫn không bị chú ý cũng là một chuyện rất lạ. Trong buỗi lễ, có thuê cả thợ chụp hình và ghi âm những bài đọc trong buổi lễ. Tiếc là sau đó người giữ hình ảnh và băng ghi âm đã hủy đi tất cả, chỉ còn lại những bài đọc được chúng tôi gom lại giữ gìn đến nay.

Thầy tôi sau đó vẫn tiếp tục giảng dạy. Hàng tuần Thầy đều viết bài để phát và giảng cho chúng tôi. Hai năm sau (năm 1981), đúng vào ngày lễ đã tổ chức thì qua đời đúng như lời người đã báo trước từ lúc gặp chúng tôi.

Một điều lạ là không hiểu sao người Thầy dám rời bỏ gia đình, xứ sở, nơi đang sinh sống ổn định để tới một địa phương hoàn toàn xa lạ để chờ những người có hẹn với mình, không hề có lấy một thông tin nào về nhân thân, tên tuổi, nơi ở, cũng không biết họ là ai. Phần tôi được cho là người có hẹn thì càng mù tịt, thậm chí còn không biết gì về Đạo Phật, cứ bình thản làm ăn, sinh sống, ăn diện, chẳng mảy may gì nhớ có hẹn ước gì cả. Nhưng cuối cùng rồi cũng gặp được nhau. Có lẽ do một sự sắp xếp trong huyền vi nào đó, vừa mơ hồ, vừa hiện thực. Chính bản thân tôi là người trong cuộc, dù hiện kiếp không nhớ gì, nhưng tiềm thức buộc phải trở lại con đường tu Phật, nên muốn không tin cũng không được.

Theo lời Thầy tôi bảo thì lúc tôi đến nhà lần đầu tiên thì Thầy nhận ra ngay, và quả thật, ông kềm cặp tôi một cách đặc biệt. Chỉ một mình tôi được truyền cho viết về những điều đã Quán, Soi. Anh em khác thì chỉ nghe giảng rồi thôi. Có lẽ trong số người đến học hỏi không có ai nhiệt tình như tôi. Bỏ hết mọi việc, chỉ chú tâm vào Kinh, sách mà Thầy dặn đọc, và say mê một cách lạ thường. Đọc Kinh mà say mê còn hơn đọc truyện Kiếm Hiệp! Anh em cũng có người đọc Kinh, nhưng họ không đọc giống như tôi. Còn riêng tôi, ngoài cố gắng thực hành những điều Kinh dạy phải làm, tôi xoáy mạnh vào những câu hỏi về Đạo, nhất quyết phải tìm cho ra: Phật là gì? Tu Phật để được gì? Tu Phật phải làm gì? Bản thân tôi có cần tu hay không? Lúc Thầy tôi còn hiện diện thì những gì tôi không hiểu thì hỏi ông. Sau khi Thầy tôi qua đời tôi vẫn tiếp tục đọc Kinh cho đến nay.

Qua quá trình đọc kỹ, tôi thấy rõ ràng Kinh Phật dù được viết cách đây hàng ngàn năm, nhưng hoàn toàn không mê tín, không dị đoan, không dạy thờ Phật để cầu xin mà chỉ là những lời giải thích, những cách hành trì để được Thoát Khổ. Tôi đã đọc đến trên dưới 30 quyển Kinh Đại Thừa, thấy hầu hết đều dạy giống nhau, dù nói cách này hay cách khác cũng chỉ là để Thoát Phiền Não, Thoát Sinh tử. Công năng tu hành là GIỚI-ĐỊNH-HUỆ, BÁT CHÁNH ĐẠO, LỤC ĐỘ, VẠN HẠNH... mục đích là để gỡ cái CHẤP TƯỚNG để Thoát Khổ, không phải để thành Thánh, thành Phật hay thành một bậc cao siêu phi phàm nào. Nhờ đó, tôi cũng phân biệt được thế nào là Chánh Pháp, thế nào là tà pháp. Thế nào là bậc chân tu. Thế nào là những người lợi dụng sắc áo của Nhà Phật để cầu Danh, cầu Lợi!

Tôi cũng đọc nhiều sách của các Thiền Sư để thấy thời xưa cũng như thời nay, trong Đạo lúc nào cũng có những người thuyết pháp quảng cáo rầm rộ chỉ để cầu danh, cầu lợi. Tất cả nhờ ở 4 năm được Thầy tôi ân cần chỉ dạy và quyết tâm học hỏi của mình.

Là phụ nữ, nhưng tôi lại không ưa Thần Thông, biết trước, biết sau. Tôi cho đó là phí thì giờ, vô ích. Có lần Thầy tôi bảo: “3 giờ đêm nay chị thức dậy Ngồi Thiền, tôi sẽ xuống truyền Thiên cơ cho”. Nhưng tôi đã không làm. Sáng ra, lên nhà, ông đã hỏi tôi vì sao khi đêm chị không Ngồi Thiền. Tôi trả lời là tôi không thích Thiên Cơ, nên ông cũng thôi không nhắc đến.

Suốt những năm học với Thầy, tôi không hề thắc mắc về Quả Vị, cao thấp… nhờ đó tôi không bị Thần Quyền, mê tín, hay kiêu mạn khi thấy được điều gì trong Đạo. Vì suy cho cùng, những cái “đắc”, cái “được” chỉ có bản thân người tu học đó nhờ, có gì đâu mà phải khua chuông, gióng trống cho mọi người biết. Chúng tôi được dạy rõ về Nhân Quả, về thế nào là Tự Độ, nên mạnh ai nấy vừa lo tu sửa, vừa sinh sống bình thường. Ai nghề nào thì vẫn tiếp tục để tự lo cuộc sống cho mình và con cái, không phải nhờ ai “Độ” cho thì mới tu hành được. Việc lợi dụng người khác để mình nhàn thân là mắc nợ Nhân Quả, không trả kiếp này cũng kiếp khác, chỉ có những người không biết mới dám ung dung hưởng của Thường Trụ, còn khuyến khích mọi người cung dưỡng càng nhiều càng tốt! Chúng tôi vẫn sống một cuộc sống bình thường như mọi người. Không cần ai biết là mình đang tu hành. Tuy vậy, trách nhiệm của một người có chút hiểu biết về Đạo không cho phép tôi thờ ơ. Tôi vẫn luôn cố gắng viết lại những hiểu biết của mình theo đúng như những gì Chính Kinh đã ghi lại. Cũng nhờ có tờ Nội San nhỏ bé của Câu lạc bộ NHỮNG NGƯỜI YÊU SÁCH XƯA VÀ NAY này, tôi mới có dịp để đăng tải tiếng nói của Đạo Phật theo những gì Thầy tôi đã truyền. Sau khi đã kiểm chứng, thấy phù hợp với Chính Kinh thì mới dám phổ biến - dù phạm vi hạn hẹp - nhưng cũng không dám cẩu thả.

Tôi biết rằng không riêng gì tôi, mà tất cả mọi người đều là những người trở lại với đời. Nhưng có hai hạng: Một là BỊ NGHIỆP lôi kéo. Hai là VÌ NGUYỆN. Có người trở lại để nhắc nhở người khác, như trường hợp của thầy tôi. Cũng có người trở lại để tiếp nối con đường tu hành còn dang dở. Chính cách thể hiện nơi cuộc sống của họ đã nói lên điều đó. Không cần phải có Thần Thông hay sự hiểu biết khác thường nào mới hiểu được. Theo tôi, những người chấp nhận thiệt thòi để hy sinh cho người khác chính là những Bồ Tát mang xác phàm. Họ có thể là bất cứ ai. Hoạt động trong bất cứ ngành nghề nào. Theo bất cứ tôn giáo nào, miễn là giúp đỡ người khác, giáo hóa mọi người hướng thiện thì đã là sứ giả của Chân Lý. Không nhất thiết phải là những người khoác áo tu hành của Nhà Phật.

Với những người lợi dụng Đạo từ xưa thì họ quan trọng hóa sự Chứng Đắc, Thấy Tánh coi đó như một điều gì huyền bí, cao siêu, ghê gớm. Họ quảng bá ầm ỹ để được chú ý, mục đích là để được mọi người trọng vọng, thu nhận thêm nhiều tín đồ mà thôi. Nhưng cũng chưa chắc họ đã thật sự chứng đắc. Vì người chứng đắc theo Kinh dạy thì không được tiết lộ cho người khác biết. Bởi họ đắc cái Vô Ngã, biết rằng cái thân này không phải là họ, thì tìm cầu Danh, lợi cho nó để làm gì.

Qua những gì tôi góp nhặt được từ nhiều năm nghiên cứu lời Phật, Tổ, tôi cũng có thể đánh giá được những người giảng dạy có nói đúng Chánh Pháp hay không. Tôi cũng có đọc sách và một số Giáo Pháp của Đức Đạt Lai Lạt Ma, người được Hệ thống Phật Giáo ở Tây Tạng và thế giới tôn xưng là Phật Sống. Chính Ngài, trong một cuộc phỏng vấn, đã trả lời với phóng viên là Ngài đắc được cái “Tánh Không”. Đối chiếu với ĐẠI THỪA KIM CANG KINH LUẬN, thì đó là một trong 4 bậc mà người tu hành phải đạt tới: Đó là: KHÔNG THÂN, KHÔNG TÂM, KHÔNG TÁNH, KHÔNG PHÁP. Theo Kinh ghi rõ thì người Ngộ được Tánh Không chứng được Quả Bất Lai A Na Hàm. Những Giáo Pháp Ngài hướng dẫn cũng nói về sự Chuyển Hóa Cái Tâm. Pháp của Ngài giảng cũng nói về Thập thiện, phù hợp với Con Đường của Đạo Phật chân chính.

Phật không phải là một vị Thần Linh, mà chỉ là người Tự Giải Thoát cho mình khỏi mọi Phiền Não. Như vậy, ai tự giải thoát trong pháp nào thì đã là Phật trong pháp đó. Giác Ngộ cũng vậy. Đức Thích Ca là bậc Toàn Giác. Nhiều bậc tu hành khác cũng có thể giác ngộ từng phần cho đến khi hoàn tất. Việc Giác Ngộ cũng không phải để trở thành thần thánh, ban ân, giáng họa cho ai. Nó cũng như việc học thế gian. Ai học thì nấy biết, không thể san sẻ cho người khác. Giác Ngộ hay Thành Phật không phải là để độ cho mọi người, mà chỉ là Tự Độ. Do đó, chúng ta không thể cầu xin Phật hay Chư Bồ Tát độ cho. Ngay cả Đức Thích Ca cũng chỉ độ cho chúng ta bằng Giáo Pháp để tự người tin nhận rồi hành trì để có kết quả Thoát Khổ mà thôi. Ngài không thể đưa ai về Phật Quốc của Ngài được. Do những người mê tín, chấp lầm văn tự, rồi truyền bá, để lần hồi Đạo Phật trở thành tôn giáo thờ phụng Chư Phật, Chư Bồ Tát, đề cao Phật như đấng Thần Linh tối cao, có quyền ban ân, giáng phúc, cứu khổn, phò nguy như những Giáo Chủ của các tôn giáo khác, rồi truyền nhau Cầu An, Cầu siêu, làm mất đi ý nghĩa Nhân Quả, Tự Độ của Đạo Phật chân chính.

Cho nên, theo tôi, mọi người chỉ cần tiếp tục sống thuần thiện, giữ tròn Nhân Thừa, như thế là đủ để hiện đời an ổn, sau khi bỏ cái thân cũng được về nơi tốt đẹp, còn nếu muốn tu hành Giải Thoát thì phải xét THÂN và TÂM. Vì ràng buộc hay Giải Thoát cũng ở đó. Chẳng cần phải Xuất Gia, Cạo Tóc, Đắp Y, tụng Kinh, niệm Phật hàng ngày. Bởi nếu ai có nghiên cứu Đạo Phật thì đều biết, Đức Thích Ca cũng không phải là một vị thần linh giáng phàm. Ngài cũng từng có vợ, có con. Cũng phải tu hành như tất cả mọi người. Sau khi thành Đạo rồi thì mỗi ngày cũng phải đi khất thực. Bệnh cũng phải xin sữa uống. Cuối đời cũng chết vì ngộ độc thực phẩm, tại sao sau khi chết lại có phép mầu phù hộ, cứu độ cho cả Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới? Nếu thật sự Phật đã độ được cho mọi người thì Nhân Quả thể hiện ở đâu? Như vậy thì nói Đạo Phật là Đạo Tự Độ, là Nhân Quả, liệu có phải là mâu thuẫn lắm không? Kinh là những lời giáo huấn để ta chiêm nghiệm rồi thực hành, đâu phải để ê a tụng kèm theo chuông mõ. Đó là những lời lúc sinh thời Ngài đã giảng thì Ngài đâu có cần nghe lại làm gì, mà ngày mấy thời đọc trước bàn thờ bắt Ngài phải nghe?

Về những người đang hướng dẫn Tu Thiền, quảng cáo rầm rộ từ bao nhiêu đời nay, tôi thấy họ thật sự chưa hiểu đúng nghĩa của Thiền Định theo Đạo Phật chân chính. Bởi Đức Thích Ca Ngồi Thiền chính là tập trung cả Thân, Tâm, rồi nhiếp tư tưởng, tư duy để tìm ra thủ phạm đã gây ra Sinh Tử Luân Hồi. Những gì cần khám phá thì Ngài đã làm xong, và đã công bố từ cách đây hơn 2.550 năm rồi. Khác nào tội phạm nguy hiểm đã bị Đức Thích Ca truy lùng và bắt về quy án từ mấy ngàn năm trước. Vậy mà đến nay vẫn còn rất nhiều người tuyên truyền, khuyến khích người sau Ngồi Thiền cho nhiều xuất, nhiều giờ, chẳng hiểu để khám phá điều chi! Tổ Đạt Ma và Lục Tổ đâu có khuyến khích Ngồi Thiền. Lục Tổ Huệ Năng còn không có Ngồi Thiền xuất nào. Chủ yếu là thấy được Bổn Tâm. Ngồi Thiền chỉ là để trói cái Thân mà thôi. Nếu không biết Cái Tâm để nhiếp, thì dù có trói cái Thân lại, cái Tâm cũng tiếp tục rong ruổi khắp các cõi. Xả Thiền ra cũng chẳng khác gì lúc chưa Ngồi. Chưa nói đến một số người bị “tẩu hỏa nhập ma”, trở thành điên loạn mà Lục Tổ cũng đã cảnh báo trong Pháp Bảo Đàn Kinh.

Có nhiều người không hiểu gì về Tu Thiền cũng bắt chước người xưa dạy Tham Thoại Đầu. Tu Phật là Tu TÂM sao không tìm TÂM, mà lại bỏ hết mọi việc để Tham: “Ai niệm Nam Mô A Di Đà Phật”! Nội đề tài đã chẳng liên quan gì đến việc tu hành, không dính gì đến Thoát Sinh tử, Thoát Phiền Não! Thiếu gì người niệm Nam Mô a Di Đà Phật? Nếu khám phá ra người niệm là Ô. A hay bà B thì chẳng lẽ người khám phá sẽ Chứng Đắc? sẽ Thành Phật? Tham “Tổ Sư Tây lai Ý” cũng thế. Việc của Ngài thì Ngài làm. Có Ý hay không, liên quan gì đến ta? Mục đích tu hành chẳng phải là điều mình cần biết hay sao? Lại đi tìm thứ khác chẳng có liên quan? Chính vì vậy mà bên Phật Giáo Nguyên Thủy cũng chê những người Tu Thiền. Nhưng ngược lại, họ cũng có cái không đúng là bất chấp việc Truyền Y Bát của Đức Thích Ca để không chấp nhận Chư Tổ và Kinh Đại Thừa. Không hiểu rằng Tổ chính là Phật hiện đời, có nhiệm vụ khai triển những gì ngày xưa do thiếu ngôn từ để diễn tả nên trở thành “xa kín nhiệm sâu”. Vì thế, cái hiểu về Đạo của họ ắt cũng bị hạn chế. Bị dừng ở Quả Vị, trong khi Kinh Đại Thừa giải thích: “Quả Vị là hóa thành để người lười mỏi nghỉ ngơi”, không có thật. Bởi Thân là Giả. Quả Vị là Sản phẩm của Thân thì làm sao Thật? Hơn nữa, kiếp sống của con người, tuy rằng giả tạm, nhưng cũng kéo dài cả trăm năm. Vì thế, Đạo Phật xuất hiện giữa đời là để hướng dẫn cho con người cách thức để “Thoát Phiền Não ngay trong Phiền Não”. Do đó, Đạo Phật đã dùng biểu tượng là Hoa Sen, vì ở trong bùn mà không bị bùn làm cho ô nhiễm. Lục Tổ Huệ Năng cũng dạy: “Phật pháp tại thế gian. Bất ly thế gian giác. Ly thế mịch Bồ Đề. Cáp như cầm thố giác”. Ở trong ràng buộc mới cầu Giải Thoát, mà ta xa lánh trần gian để cầu Giải Thoát thì làm sao gặp được? Đang ở trong cảnh CÓ, mở mắt ra là phải đối xử với nó, từ mặc áo, ăn cơm cho đến tất cả mọi việc. Vậy mà cho tất cả là KHÔNG thì có hợp lý không?

Chính vì vậy mà phân tích ra ta thấy có quá nhiều mâu thuẫn. Đời còn biết bao nhiêu việc cần được mọi người chung tay xây dựng. Nếu ta chê đời là ô trược, rồi xa lánh cuộc đời, ở bên lề cuộc đời, bỏ mặc thế nhân xây dựng thì phải chăng kiếp sống của ta cũng trở thành vô ích? Không những thế, trong khi ta cho rằng cảnh đời là ô trược, để bỏ nó, tách ra sống biệt lập, nhưng những con người ngụp lặn trong ô trược đó, kiếm sống đã trần ai, lại phải tiếp tế cho ta mọi thứ, từ cơm gạo, tương, chao, rau, đậu, cho tới nhà ở, y phục, giường, chiếu, cảnh Chùa nguy nga, lộng lẫy cho ta tu hành… Bản thân người đời tưởng đó là “Cúng Dường Phật”. phước báo sẽ trả lại gấp bội. Phần người tu thì sẽ trả cách nào, bởi ai cũng biết: “Ông tu, ông đắc, bà tu, bà đắc” không thể tu giùm cho người khác? Phật Giáo Nguyên Thủy cũng cho rằng Phật cũng là một người bình thường như tất cả mọi người, nhờ tu hành rồi được Thành Phật. Mọi người đều có thể làm được như Ngài. Như vậy, việc tụng, niệm cầu xin mang ý nghĩa gì mà hiện nay Chùa nào cũng thấy chuông mõ ngày mấy thời, lấy đó làm công phu tu hành? Việc hưởng dụng của bá tánh để tu hành, thì Kinh Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân Duyên có dạy: “Thà cắt thịt mình dùng để nuôi miệng. Không dùng tâm tà thọ của cúng thí. Khó lắm. Khó lắm. Cẩn thận. Cẩn thận”! Có lẽ nhiều người tu cũng cần xem lại.

Phật Ngôn có dạy: “Như biển cả chỉ có một vị mặn. Giáo Pháp của ta cũng chỉ có một vị là Giải Thoát mà thôi”. Kinh LĂNG NGHIÊM viết: “Như Quốc Vương bị giặc vây thành, mang quân đi dẹp giặc. Nếu không biết giặc trú ngụ phương nào thì làm sao trừ được giặc?”. Cũng thế. Người muốn tu hành mà không biết Tu là gì? Tu để làm gì? Tu phải làm gì? thì công phu như thế nào? kết quả sẽ về đâu? Do đó, viết lên những điều giữ kín từ lâu này, tôi hết sức tri ân người Thầy của tôi, người đã vì Chánh Pháp, dám hy sinh, để cả vợ con ở lại xứ Huế, một mình vào Saigon là một nơi hoàn toàn xa lạ để tìm và trao Phật Pháp lại cho tôi, rồi chỉ sau 4 năm ngắn ngủi, người đã ra đi. Phần tôi, từ khi thấy được lợi ích của con đường tu hành chân chính, biết mình duyên may hãn hữu, được Thầy tìm đến tận nơi để trao truyền, hẳn cũng có sứ mạng nào đó, nên cũng không dám bê trễ, hết sức cố gắng tìm trong Chính Kinh và vận dụng mọi sự hiểu biết của mình để ghi lại sao cho người đọc thấy, nếu chấp nhận được thì lo Tu Sửa Cái Tâm và bớt đi Nhị Thừa, mê Tín, cầu xin, nương tựa, là những thứ không có trong Đạo Phật chân chính.

Tôi không quan tâm kiếp nào đó mình đã tu hành tới đâu, chỉ biết rằng chắc chắn tôi đã có quá trình tu tập, nên lúc gặp Đạo Phật tôi mới có 33 tuổi, mà lại quá say mê Đạo nên bỏ hết công việc, bạn bè. Không làm ăn, không tham gia những cuộc vui của đời. Không thiết đến những chỗ vui chơi giải trí như phim ảnh, ca nhạc, kịch, tiệc tùng… mà không phải vì Quả Vị, chứng Đắc, cao thấp, hơn thua. Cả năm tháng chỉ loanh quanh với Kinh, sách, đến độ còn bị con cái trách móc vì không chịu làm ăn để làm bệ phóng cho chúng! Tôi biết đó cũng là sự thiếu sót của mình, nhưng không hiểu tại sao tôi lại không thích bon chen vào cuộc đời, để lúc đó cũng còn khá trẻ mà lại sống như một người ẩn tu dù đang ở giữa Saigon là chốn phồn hoa đô hội. Ngay cả bạn bè cũng hạn chế, chỉ gặp gỡ, trao đổi với những bạn cùng tu học. Đến nay đã vào tuổi “cổ lai hi”, nếp sống hàng ngày từ đó đến nay vẫn không thay đổi, nhưng không hề hối tiếc. Tài sản mấy mươi năm tu hành của tôi là những Bộ Kinh đã lược giải còn trong dạng bản thảo. Lần lượt tôi sẽ hoàn tất. Trong 7 năm cộng tác với Nội San, tôi đã viết hơn 50 bài, đa phần để phân tích một số pháp của Đạo, mong người đọc có được đôi chút lợi lạc, đỡ phải đi vòng quanh, phí uổng thời gian tìm tòi, vì hiện nay đa phần Phật Tử được hướng dẫn Thờ Phật, cầu xin, nương tựa, không phải là Đạo Phật chân chính.

Mãi về sau này tôi mới biết lý do vì sao Thầy kêu tôi nên viết. Thứ nhất là chỉ khi viết ra thì người viết đọc lại mới biết mình còn thiếu sót ở đâu để bổ sung cho hết ý quanh vấn đề muốn nêu ra. Khi viết, muốn không bị diễn tả sai thì phải đối chiếu với Kinh điển. Đó cũng là dịp để ôn lại những gì đã học. Thứ nhì, nếu chỉ nói, thì lời nói gió bay. Người nghe giới hạn, lại nghe xong rồi sẽ quên ngay. Chỉ có giấy trắng mực đen lưu lại thì người muốn xem dù ở bất cứ đâu cũng có thể đọc lại rồi tự chiêm nghiệm, không cần biết tác giả là ai. Người viết cũng không cần thắc mắc là có ai chấp nhận hay không? Người đó thuộc tầng lớp nào? mà vô tư viết ra với cả tấm lòng của mình, để phụng sự Chánh Pháp. Như những trận mưa rào. Ai cần nước thì hứng. Ai không cần thì thôi. Ai thấy có chút hữu lý thì mở Kinh để kiểm tra thêm. Chủ yếu là làm hết trách nhiệm của mình, nói lại cho đúng ý nghĩa của Đạo Phật chân chính đã bị thời gian và những người lợi dụng Đạo làm sai lệch đi.

Như một que diêm dù le lói nhưng vẫn cháy hết mình. Điều đó tôi xem như đền trong muôn một, ân nghĩa của một vị Thầy mà Chư Phật đã phái đến để khai mở cho tôi.


(Tháng 10/2013)


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 04.11.2013.
Trang Trước
Trang Tiếp Theo

Quay Lên Đầu Trang