Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



CÓ MỘT CUỐN SÁCH NHƯ THẾ ĐÓ


KINH THÁNH MỘT KHO TÀNG BẤT TẬN





            Quyển Hạ - (Nhị tập)


3.5 Điêu khắc

Thời Cựu Ước, nghệ thuật điêu khắc bị hạn chế vì trình độ hiểu biết của dân chúng còn thấp, chỉ có dân Do Thái nhỏ bé thờ độc thần, tức là một Chúa mà thôi, trong khi toàn thể nhân loại thờ đa thần. Tượng thần tràn lan khắp nơi, dân chúng thì mê tín đến nỗi con bò, con chó, con rắn, bụi cây, hòn đá… cũng có thể là thần được thờ cúng. Chính vì muốn đề phòng tình trạng này mà sách Xuất Hành có luật cấm tạc vẽ ảnh tượng bất cứ vật gì trên trời, dưới đất và dưới lòng biển… để mà thờ. Ai cả gan làm điều đó sẽ bị xử tử.

"Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta. Người không được tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao, cũng như dưới đất thấp hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất để mà thờ" (Xh 20,3-4).

Lệnh cấm này chi phối toàn bộ khung cảnh Cựu Ước, cả thời gian lẫn không gian. Dân trí thời đó chưa phân biệt được mục đích tôn giáo (để thờ) với mục đích nghệ thuật (để thưởng thức cái đẹp). Vào thời đó, tạc tượng này tượng kia thì chỉ để thờ cúng, bái lạy. Cho nên các Đền thờ ngoại giáo thì có muôn vàn tượng gỗ, tượng đồng, tượng bạc, tượng vàng, còn dân Do Thái thì không có, nhiều khi dân Do Thái bị mê hoặc về những kiểu thờ thần tượng ngoại giáo và những lễ hội cúng bái của họ, nên đã có lần họ góp vàng từ những đồ trang sức rồi yêu cầu ông Aharon đúc cho họ con bò vàng để họ thờ cúng. Việc này đã bị Chúa và Môsê nổi giận, trừng phạt dân một cách nghiêm khắc.

Đến thời Tân Ước, từ khi Chúa Giêsu, Ngôi Lời vô hình hóa thân làm người bằng xương bằng thịt, cư ngụ giữa loài người. Kitô giáo tách khỏi Do Thái giáo và người giáo dân phân biệt được tạc tượng để thờ với tạc tượng để thưởng thức nghệ thuật, thì họ bắt đầu phát huy ngành điều khắc với đủ mọi đề tài đạo, đời… và Thánh Kinh là một nguồn cảm hứng cao siêu vô tận cho các điêu điêu khắc gia trên toàn thế giới, kể cả những nghệ sĩ ngoài Công giáo nữa, như trường hợp Khải Hoàn Môn ở Roma kỷ niệm chiến thắng của tướng Titô ở Israel năm 70, khi đã phá bình địa Giêrusalem sau hơn 2 năm vây hãm. Tướng Titô cướp hết vàng bạc châu báu trong Đền thờ rồi cho đốt Đền thờ luôn, ông mang chiến lợi phẩm về cho hoàng đế Vespasiano. Để ghi khắc chiến công, ông cho xây dựng Khải Hoàn Môn, và khắc trên đó những đồ thờ lấy trong Đền thánh Giêrusalem: cây đèn 7 ngọn, các bình và một số vật dụng khác từ kho của Đền thờ. Khải Hoàn Môn vẫn còn vững chãi tới ngày nay.

Sau thế chiến II, cả thế giới như tỉnh dậy sau cơn ác mộng. Các nước lớn trên thế giới đã ngồi lại với nhau để thành lập tổ chức Liên Hiệp Quốc với mục đích bảo vệ hòa bình trên trái đất. Tổ chức đã được thành lập ngày 24/10/1945 với 51 nước thành viên ban đầu, trụ sở đặt tại New York (Mỹ). Hiện nay đã có 193 nước thành viên của tổ chức Liên Hiệp Quốc. Ngay sau khi có trụ sở, đất nước Liên Xô XHCN đã tặng Liên Hiệp Quốc một bức tượng đồng lớn với hình ảnh một chàng thanh niên lực lưỡng vai u thịt bắp, đang cầm búa đập cong cây kiếm. Đây chính là hình ảnh tiên tri Isaia đã dùng để diễn tả thời hòa bình của Đấng Cứu Thế: "Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái" (Is 2,4).

Tượng đài này đã được đặt ngay trước tòa nhà của Liên Hiệp Quốc và được coi là biểu tượng tuyệt vời của hòa bình.

Về phía những điêu khắc gia Thiên Chúa giáo, thì tất cả các tác phẩm "đạo" của họ đều bắt nguồn từ Thánh Kinh trực tiếp như những sự kiện, những nhân vật được ghi trong Thánh Kinh; gián tiếp như hình tượng những vị Thánh là những người đã sống lời Chúa suốt đời như Thánh Phaolô đã nói: "Tôi sống nhưng không còn là tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi" (Gl 2,20). Ngoài những sự kiện, nhân vật trong Thánh Kinh, thì đối tượng của ngành điêu khắc Thiên Chúa giáo còn là những gì liên quan tới việc thờ phượng, tới lễ nghi trong đạo như những cây Thánh giá, những cây đèn, những chân đèn, những bình hương, chén thánh, bình thánh, giếng Rửa tội, bình nước phép…

Về số lượng thì không thể nào kể xiết. Về chất liệu cũng đủ loại, từ đất nung tới gốm sứ, thủy tinh, kim loại như gang, chì, antimoine, nhôm, sắt, inox, đồng, đá, xi-măng, bạc, vàng – gần đây còn có những chất liệu mới như nhựa tổng hợp, composite… Nhỏ bé như những tượng ảnh bằng vàng, bạc… nặng từ 1gr - 50gr mà người tín hữu thường đeo, to lớn như tượng Chúa Giêsu làm Vua ở Rio de Janeiro, thủ đô nước Brasil, cao 38m, trên đỉnh núi Corcovado cao 700m. Tượng do điêu khắc gia Paul Landowski (người Pháp) thực hiện. Tượng đài được khánh thành ngày 12/10/1931 và trở thành biểu tượng của thủ đô Brasil. Tượng đài được Unesco công nhận là 1 trong 7 kỳ quan (nhân tạo) mới của thế giới vào ngày 12/11/2011.

Sau đây là một số tác phẩm điêu khắc lừng danh thế giới bằng đá cẩm thạch Ý, do điêu khắc gia bậc thầy của nhân loại là Michelangelo, cuối thế kỷ 15 sang đầu thế kỷ 16 (1475-1564):

Tượng Pietà thực hiện 1498-1499, cao 1,74m, chiều rộng chân đế 1,95m, dầy 1,03m, chất liệu đá cẩm thạch, đặt tại Đền thờ Thánh Phêrô.

Tượng Thánh Môsê thực hiện 1513-1516, cao 2,35m, chất liệu đá cẩm thạch, đặt tại Đền thờ Thánh Phêrô.

Tượng Đavít thực hiện 1501-1504, cao 5,16m, chất liệu đá cẩm thạch, đặt tại Galleria del l'Accademia Florence.

3.6 Hội họa

Thánh Kinh là nguồn gợi hứng cho các họa sĩ đạo cũng như đời. Biết bao nhiêu tác phẩm đã được thực hiện với những chủ đề rút ra từ Kinh Thánh.

Trong dịp hành hương Đất thánh và Roma cuối tháng 4/2013, người viết đã được thấy tận mắt hình vẽ trên vách đá ở hang toại đạo: một người mục tử vác con chiên trên vai. Đó chính là tác phẩm đầu tiên của người Công giáo (cuối thế kỷ I), thể hiện câu chuyện Chúa Giêsu kể về người có 100 con chiên, bị lạc 1 con, ông bỏ 99 con chiên kia trên đồng cỏ để đi tìm con chiên lạc, và khi đã tìm thấy, ông vác chiên trên vai đưa về đàn rồi mở tiệc mời bạn bè tới ăn mừng, ông nói: "Anh em hãy chia vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên bị lạc" (Lc 15,4-8).

Tương truyền rằng, hình ảnh Đức Mẹ Đồng Trinh Maria mà chúng ta có ngày nay, có gốc từ một bức vẽ nguyên thủy của Thánh Luca, khi Đức Mẹ còn tại thế. Té ra Thánh Luca là người đa tài, vừa là y sĩ, vừa là sử gia, lại còn là họa sĩ nữa. Điều này cũng có thể tin được (dù bản gốc không còn), vì chắc chắn Thánh Luca đã gặp Đức Mẹ nhiều lần để xin thông tin về đoạn thánh sử thuộc thời thơ ấu của Chúa Giêsu, từ biến cố Truyền Tin cho tới biến cố Chúa ở lại trong Đền thờ hồi 12 tuổi, khiến Đức Mẹ và Thánh Giuse phải trải qua 3 ngày mất ăn mất ngủ, ngược xuôi tìm con. Những chi tiết về thời thơ ấu của Chúa Giêsu không thể lấy đâu ra trừ "kho tàng lưu trữ" là Đức Mẹ.

Trong những hình ảnh Thiên Chúa giáo sớm nhất của đạo, phải kể đến hình chữ thập (Thánh giá) Chúa Giêsu được vẽ mọi nơi có Kitô hữu sống và sinh hoạt, nhất là Nghĩa địa, Thánh giá khắc trên bia mộ là dấu hiệu phân biệt người Công giáo với lương dân. Một hình ảnh nữa được các tín hữu sử dụng như là "ám hiệu" để nhận ra nhau trong thời cấm đạo gắt gao, đó là hình "con cá", người tín hữu thêu hình con cá trên cổ áo, vạt áo hay tay áo, hoặc mũ, nón… khi gặp người lạ, chỉ cần lấy cây gậy cầm tay vẽ 1 đường chéo, kiểu ký họa hình con cá α là họ nhận ra người đồng đạo để rồi ân cần giúp đỡ như anh chị em ruột thịt. Hình con cá mang ý nghĩa lớn trong Thánh Kinh, không biết ai đã phát minh ra đầu tiên, con cá tiếng Hy Lạp là Ixθus (Ichthuys), giải mã các chữ cái trong từ này như sau:

I: Jesus

X: Kitô

θ : Của Thiên Chúa

U: Con

S: Đấng Cứu Thế

Chúa Giêsu Kitô Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Thế.

Từ đó về sau muôn vàn bức họa thánh đã ra đời, đáp ứng nhu cầu phụng vụ tín ngưỡng khắp nơi. Để được chấp nhận xếp hạng "ảnh thánh" thì tác phẩm phải được thẩm quyền Giáo Hội duyệt (để loại bỏ những yếu tố phàm tục không đáp ứng được đòi hỏi của tiêu chí thánh thiện trong Giáo Hội).

Một số các bức họa nổi tiếng của những họa sĩ bậc thầy thế giới như:

. Những bức họa trên trần nhà nguyện Sistine ở Vatican của họa sĩ Michelangelo (1475-1564):

. Bức họa Tiệc Ly của họa sĩ Leonardo da Vinci (1452-1519):

NHẬN ĐỊNH

Những bức họa này được thế giới công nhận là "vô giá", ngay cả một số tác phẩm bị mất cắp cũng được đánh giá như vậy. Trong bài "Những kiệt tác nghệ thuật vẫn còn thất lạc":

. Bức The Just Judges (Các Thẩm phán Công chính), một phần trong bộ tranh Ghent Altarpiece (tranh bàn thờ do anh em họa sĩ Ja và Hubert Van Eyek vẽ năm 1432) trưng bày ở Nhà thờ Chính tòa Saint Bavo in Ghent (Bỉ), bị mất cắp đêm 10/4/1934, được xem là vô giá.

. Bức The rest on the flight to Egypt (Nghỉ ngơi trên đường trốn sang Ai Cập) của Tiziano Vecellio (khoảng 1473-1490), bị mất cắp năm 1995 tại tư dinh một quý tộc Anh tại Wiltshire, trị giá 5 triệu bảng Anh (Lư Trung – Báo KTNN số 872, ngày 01/5/2012, trang 55).

Các tác phẩm hội họa Thiên Chúa giáo chiếm thị phần rất lớn trên bình diện quốc tế, đây là điều khá bất ngờ. Bằng chứng là cuốn sách có tựa đề: 1000 Masterpieces of European Painting, tác giả Christiane Stukenbrok Barbara Topper, hợp tác với SCALA Group S.P.A Florence in tại Trung Quốc năm 2011. Trong 1000 tuyệt tác phẩm in trong sách này có tới 505 tuyệt tác phẩm mang đề tài lấy từ Kinh Thánh.

Tại Việt Nam, không chỉ những họa sĩ Công giáo vẽ tranh đạo, mà cả những tác giả ngoài Công giáo cũng tham gia cách nhiệt tình. Họa sĩ Nguyễn Gia Trí đứng hàng đầu về sơn mài, xuất thân từ trường Mỹ thuật Đông Dương, trong cuốn sách: "Họa sĩ Nguyễn Gia Trí nói về sáng tạo" của họa sĩ Nguyễn Xuân Việt, NXB Văn Nghệ Tp.HCM 2009, dầy 450 trang có 5 hình mầu tiêu biểu nhất, thì đề tài Công giáo đã chiếm hai. Một ở trang 17, bức tranh Ba Vua (0,65x1,04m vẽ năm 1960), trên bức họa có những hàng chữ Latinh viết theo kiểu "bút rông": "Gloria in excelsis Deo – Et in terra Pax hominibus bonae voluntatis" (Vinh danh Thiên Chúa trên trời – Bình an dưới thế cho người thiện tâm).

Trang 97, bức tranh Đêm Giáng Sinh (1,20x3,70m, vẽ năm 1941), trên bức họa có hàng chữ Latinh: "Hodie nobis de caelo Pax vera descendit" (Hôm nay bình an thật từ trời giáng thế). Tranh trước đây được treo ở cung thánh Nhà nguyện Dòng Đaminh – 44 Tú Xương, Tp.HCM. Bức sơn mài này được đánh giá rất cao và thuộc loại "hàng cấm", không được xuất khỏi nước nếu không có phép của Nhà nước. Có lần báo Kiến Thức Ngày Nay đã đăng một bài viết về bức họa quý giá này và xác định có người sẵn sàng "thỉnh" với giá 1 triệu USD.

Cũng thời điểm từ 1941-1943, hai họa sĩ danh tiếng trường Mỹ thuật Đông Dương, đồng môn với Nguyễn Gia Trí, đó là Nguyễn Tiến Chung và Hoàng Tích Chù đã thực hiện một bức sơn mài đề tài Giáng Sinh (số đo khoảng 1,4x2,4m), hiện đang treo ở cung thánh Nhà nguyện Đại Chủng viện Huế. Hai bên bức tranh này có 2 hàng chữ Nho như sau:

"Hậu ngô chi sinh, giáng thế cánh thành ngô thánh lữ.

Bão ngã dĩ đức, tuẫn thân hoàn tác ngã thần lương"

Nghĩa là:

"Làm phong phú đời Con Người giáng thế làm bạn đồng hành thánh thiện.

Con no nê ơn đức, Người hy sinh mình nên Thánh Thể nhiệm mầu"

Điều đặc biệt nhất là cả 3 bức sơn mài quý giá này đều được thể hiện bằng tinh thần hội nhập văn hóa. Các nhân vật đều được Việt Nam hóa, y phục Việt Nam, khung cảnh miền quê Việt Nam với cây khoai môn, tầu lá chuối, với con trâu, con bò, cả các Thiên thần gảy đàn cũng mặc áo dài như các thiếu nữ miền quê Việt Nam.

Riêng bức tranh Giáng Sinh của Nguyễn Tiến Chung và Hoàng Tích Chù, còn một nét độc đáo và rất sâu sắc nữa, đó là hình Hài Nhi Ấu Chúa với dáng nằm như một con ếch, phải chăng tác giả có ý áp dụng câu Thánh vịnh:

"Thân sâu bọ chứ người đâu phải,

Con bị đời mắng chửi dể duôi"

(Tv 21,7)

Ngoài những tác giả nổi tiếng với những tác phẩm thời danh kể trên, các họa sĩ ngoài Công giáo khác cũng tham gia rất nhiệt tình. Sau đây là danh sách các tác giả và tác phẩm mà người viết sưu tầm được:

  1. Đc M Bng Con tác gi T T, cht liu bt màu, kích thưc 25x35cm, sáng tác năm 1962.
  2. Đc M H Sen Tác gi Vi Vi, cht liu bt màu, kích thưc 68x48cm, sáng tác năm 1981.
  3. Chiêm Ngưng Tác gi Trn Hà, cht liu sơn mài, kích thưc 73x50cm, sáng tác năm 1985.
  4. Ánh Sáng Muôn Dân Tác gi Tú Duyên, cht liu la, soie, silk, kích thưc 146x80cm, sáng tác 1975.
  5. Đc M Ban Ơn (đã trin lãm ti Vatican năm 1950) Tác gi Bùi Knh (Giám đc trưng M thut Gia Đnh), cht liu la, soie, silk, kích thưc 19x35cm, sáng tác năm 1950.
  6. Truyn Tin Tác gi Nguyn Phưc, cht liu sơn mài, laque, lacquer, kích thưc 60x80cm, sáng tác năm 1990.
  7. Đc M Bng Con Tác gi Nguyn Phưc, cht liu sơn mài, laque, lacquer, kích thưc 35x42cm, sáng tác năm 1990.
  8. Chúa Sai S Đ - Tác gi Thành L, cht liu sơn mài c, laque, lacquer, kích thưc 120x64cm, sáng tác khong 1950-1960.
  9. Trìu Mến Tác gi T Oanh, cht liu la, soie, silk, kích thưc 36x43cm, sáng tác năm 1981.
  10. Giáng Sinh Tác gi Văn Th, cht liu la, soie, silk, kích thưc 88x65cm, sáng tác năm 1981.
  11. Giáng Sinh Tác gi Nguyn Văn Anh (Giám đc trưng M thut Gia Đnh), kích thưc 67x92cm, sáng tác năm 1971.
  12. Mc Đng Th Ly Tác gi Nguyn Văn Anh, cht liu sơn du, huile, oil, kích thưc 81x120cm, sáng tác năm 1961.
  13. Ba Vua Th Ly Tác gi Nguyn Văn Anh, cht liu sơn du, huile, oil, kích thưc 100x80cm, sáng tác năm 1975.
  14. Mc Đng Th Ly Tác gi Nguyn Văn Anh, cht liu sơn du, huile, oil, kích thưc 66x50cm, sáng tác năm 1971.
  15. Giáng Sinh Tác gi Nguyn Siên, cht liu sơn du, huile, oil, kích thưc 80x100cm, sáng tác năm 1971.
  16. Hin Linh Tác gi Nguyn Phưc, cht liu sơn du, huile, oil, kích thưc 120x150cm, sáng tác năm 1988.
  17. S Thn và Trinh N - Tác gi Nguyn Phưc, cht liu sơn du, huile, oil, kích thưc 53x33cm, sáng tác năm 1990.
  18. Truyn Tin Tác gi Nguyn Phưc, cht liu sơn du, huile, oil, kích thưc 30x40cm, sáng tác năm 1990.
  19. Chúa Chu Đóng Đinh Tác gi H Thành Đc, cht liu giy dán, kích thưc 60x40cm, sáng tác khong năm 1970.

Chắc chắn còn nhiều tác phẩm khác của những tác giả ngoài Công giáo mà chúng tôi chưa có dịp tiếp cận.

3.7 Điện ảnh

Từ rất lâu, các đề tài trong Thánh Kinh đã trở thành nòng cốt cho nhiều bộ phim có giá trị:

  1. Aguirre, La colère de Dieu (Aguirre, Cơn thnh n ca Đc Chúa Tri): Phim lch s phiêu lưu ca Yerner Herzog; Phim màu 1g35', sn xut năm 1972 Có cnh Aguirre nga mt lên tri hét: "Ta là cơn thnh n ca Đc Chúa Tri".
  2. À L'est d'Éden (East of Eden Phía Đông vưn Đa Đàng): Phim bi kch tâm lý ca Elia Kazan, phim màu ca M 1g55', sn xut năm 1955.
  3. Amadeus (Yêu Chúa): ca Milos Forman, din t cuc đi và tài năng ca nhc sĩ ni danh Wolfgang Amadeus Mozart (Áo, 1756-1791); Phim màu ca M, 2g37', sn xut năm 1984 (Oscar du meilleur film 1984).
  4. Les Amants Crucifiés (Nhng ngưi yêu b đóng đinh), ca Kenzi Mizoguchi, bi cnh ti Kyoto 1684, phim Nht 1g42', sn xut năm 1954 (gii Sư t bc Venise 1955).
  5. Amen: ni dung chng li s tàn bo ca Đc Quc xã hi thế chiến II ca Costa Gavras, phim màu Pháp 2g10', sn xut năm 2002.
  6. Ange – (Thiên Thn): bi kch ca Ernst Lubitsch, phim M 1g38', sn xut năm năm 1937.
  7. L'Ange Bleu (Thiên Thn xanh): bi kch hin thc ca Josef Von Sternberg, phim Đc, sn xut năm 1930.
  8. L'Ange de la Violence All fall down: da theo đ tài Abel và Cain, bi kch ca John Frankenheimer, phim M 1g50', sn xut năm 1961.
  9. L'Ange des Maudits ca Fritz Lang, phim màu M 1g29', sn xut năm 1952.
  10. L'Ange Exterminateur, Drame Fantastique ca Luis Buñuel: bi kch kinh d, phim Mêhicô 1g30', sn xut năm 1962.
  11. L'Ange Ivre: bi kch tâm lý ca Akira Kurosawa, phim Nht 1g38', sn xut năm 1948.
  12. Angel Heart: phim Fantastique ca Alan Parker, phim màu M 1g55', sn xut năm 1987.
  13. Angelique, Marquise des Anges. Mélodrame Historique ca Bernard Borderie, phim màu Pháp-Ý 1g45', sn xut năm 1964.
  14. Les Anges aux figures sales (Nhng Thiên Thn vi b mt dơ bn): ca Michael Curtiz, phim M 1g37', sn xut năm 1938.
  15. Les Anges du Péché (Nhng Thiên Thn ca ti li): bi kch tâm lý ca Robert Bresson, phim Pháp 1g13', sn xut năm 1943.
  16. Les Anges Gardiens (Các Thiên Thn bn mnh), Comedie ca Jean Marie Poiré, phim màu Pháp 1g50', sn xut năm 1995.
  17. L'Arche de Noé: thut chuyn ông Noé đ đi chiếu vi bi kch thế chiến I, phim màu nh ln ca Michael Curtiz (M) 2g13', sn xut năm 1929.
  18. L'assassinat du Père Noël: bi hài kch ca Chritian Jaque, phim dàn tri trong bi cnh l Giáng Sinh, phim Pháp 1g45', sn xut 1941.
  19. Au Nom du Père (Nhân danh Cha): bi kch ca Jim Sheridan, phim màu Ái Nhĩ Lan 2g13', sn xut năm 1993, gii Gu Vàng, Berlin 1994.
  20. Babel (Tháp Babel trong Thánh Kinh): bi kch ca Alejandro Gonzalez Iñarritu, phim màu M 2g23', sn xut năm 2006, gii thưng liên hoan phim Cannes 2006.
  21. Ben Hur: phim lch s do William Wyler đo din, đưc chuyn th t tiu thuyết Ben Hur, a tale of the Christ in năm 1880 ca nhà văn Lew Wallace, trong bi cnh đế quc La Mã chiếm Palestin vào thế k 1 (bi cnh lch s và đa lý Kinh Thánh Cu và Tân Ưc), Ben Hur nhà quý tc Do Thái bt hp tác vi La Mã, phi đi đu vi Messala quan bo h ngưi La Mã, phim M 2g05', sn xut năm 1925.
  22. Ben Hur: phim lch s màn nh ln ca William Wyler, bi cnh Jerusalem b đế quc La Mã chiếm đóng, hai ngưi bn t nh gp li nhau: quan Messala và Ben Hur con nhà quý tc Do Thái, do mâu thun chính tr và xã hi, hai ngưi đã quyết đu vi nhau bng xe chiến mã vi vũ khí ti đu trưng, sau nhng pha xáp chiến nght th, Ben Hur đã thng. Trưc khi Ben Hur tr v quê hương đ gp li m và em gái đang b cùi, thì may thay chính Chúa Giêsu đã cha h khi trưc khi Ngài chu chết trên thp giá. Phim màu M 3g32', sn xut năm 1959. Phim đã đt k lc 11 gii Oscars phim hay nht, đo din xut sc nht (W. Wyler), din viên chính xut sc nht (C. Heston), din viên ph xut sc nht (Hugh Griffith), hình nh đp nht (R. L. Surtees) và âm nhc hay nht (M. Rosza) năm 1959.
  23. Anna Karenina: bi nhc kch ca Clarence Brown, da trên tiu thuyết cùng tên ca đi văn hào Nga Léon Tolstoi, phim M 1g35', sn xut năm 1935 Nhân vt chính là nàng Anna Karenina, con nhà quý tc, tài sc tuyt vi nhưng bt hnh vì phi m côi cha m t nh. Ln lên b ép g cho bá tưc Karenin già hơn nàng 20 tui, cuc hôn nhân không hnh phúc, Karenina ngoi tình mà không th ly d đưc vi chng cũ do áp lc xã hi và tôn giáo. "Bá tưc cho rng cuc đi hai ngưi gn bó vi nhau là do ý Chúa, ch có ti ác mi ct đt mi liên h đó, mà ti ác như vy khc b Chúa trng pht nng n" (xã hi và tôn giáo Nga thi y hôn nhân là vĩnh vin: "S gì Thiên Chúa phi hp, loài ngưi không đưc phân ly" Mt 19,6), do đó Karenina luôn b dày vò, cui cùng đã đâm vào xe la t t).

(Nguyễn Trường Lịch, Tự Điển Văn Học tập 1, NXB-KHXH Hà Nội 1983, tr. 36)

  1. Le Cardinal: bi kch ca Otto Premiger theo tiu thuyết ca Henry Morton, phim nói v mt Linh mc Ái Nhĩ Lan th phong năm 1917, dn dn lên ti chc Hng Y; Phim màu M 2g55', sn xut nm 1963.
  2. Le Chemin du Paradis (Li đi Đa Đàng): phim hài ca Wihelm Thiele, phim Đc 1g30', sn xut năm 1930.
  3. Le Christ s'est Arrêté à Eboli (Chúa Giêsu b bt và b lưu đày Eboli): Phim lch s chng phát xít Đc ca Francisco Rosi, phim màu Italy dài 2g15', sn xut năm 1979.
  4. La Croisade Maudite / Les Portes du Paradis (Cuc thp t chinh b nguyn ra / Các ca vào thiên đàng): phim lch s ca Andrzej Wajda, theo cun tiu thuyết ca Jerzy Andrzewski, phim màu Anh Quc 1g26', sn xut năm 1967.
  5. Les Croix de bois (Nhng Thánh giá g): phim chiến tranh ca Raymond Bernard theo cun sách ca Roland Dorgelès: phim Pháp v thế chiến 1, 1g50', sn xut năm 1932.
  6. Croiz de fez (Thánh giá st): phim chiến tranh ca Sam Peckinpah, theo cun tiu thuyết ca Willi Heinrich, nói v thế chiến 2, phim màu Anh Quc, 2g15', sn xut năm 1977.
  7. La Cuisine des Anges (Bếp ăn ca các Thiên Thn): phim hài ca Michael Curtiz, theo v kch ca Albert Husson, phim màu M 1g46', sn xut năm 1955.
  8. Davinci Code (phim Bí him ca Ron Howard): theo cun sách cùng tên bán chy nht ca Dan Brown, toàn b trong bi cnh Kinh Thánh Tân Ưc; phim màu M 2g32', sn xut năm 2006.
  9. David et Bethsabée (Bi kch Kinh Thánh ca Henry King): ni dung din t tình yêu ca vua David, hoàng đế Israel vi bà Bethsabée (sách Samuel quyn 2, chương 11,2 12,15), phim màu ca M dài 1g56', sn xut năm 1951.
  10. Les Dix Commandements (Mưi Điu răn trong sách Xut Hành): phim M dài 2g, sn xut năm 1923.
  11. Les Dix Commandements (Mưi Điu răn trong sách Xut Hành): ca Cecil B. De Mille (toàn cnh Kinh Thánh: dân Israel ra khi Ai Cp, v Đt Ha), phim màu M dài 3g39', sn xut năm 1956.
  12. Les Enfants du Paradis (Nhng đa tr trong vưn Đa Đàng): bi kch lãng mn ca Marcel Carné, phim Pháp dài 3g02', sn xut năm 1945.
  13. Et Dieu Créa la Femme (Và Thiên Chúa đã to dng ngưi đàn bà): bi kch ca Roger Vadim, vai chính ngôi sao ni tiếng Brigitte Bardot, phim màu Pháp dài 1g30', sn xut năm 1956.
  14. L'Etrange Noël de M. Jack (The Nightmare before Christmas) ca Henry Selick, phim màu M dài 1g15', sn xut năm 1993.
  15. L'Evangile selon Matthieu (Tin Mng theo thánh Mátthêô) Phim lch s ca Per Paolo Pasolini, phim Pháp-Ý dài 2g20', sn xut năm 1964 (Prix Spécial du Jury Vines 1964).
  16. Èva (Bà Evà): bi kch ca Joseph L. Mankiewicz, vi ngôi sao lng danh M Marilyn Monroe, phim M dài 2g12', sn xut năm 1950. Gii Oscar phim hay nht năm 1950, gii đc bit liên hoan phim Cannes 1951.
  17. Exodus (Xut Hành): phim lch s, bi cnh Kinh Thánh Cu Ưc: cuc xut Ai Cp ca dân Israel v Đt Ha, phim màu M dài 3g32', sn xut năm 1947.
  18. La Femme du Prêtre: phim hài ca Dino Rici, phim màu Ý dài 1g47', sn xut năm 1970.
  19. Gloria: bi kch ca John Cassvetes, phim màu M dài 2g03', sn xut năm 1980, gii Sư t vàng Venise năm 1980.
  20. Goodbye Babylone: phim bi hài ca Paolo và Victorio Taviani, phim màu M-Ý-Pháp dài 1g58', sn xut 1987.
  21. Jane Eyre: bi kch tâm lý ca Robert Stevenson theo cun tiu thuyết cùng tên ca Charlotte Brontë (phim trong bi cnh Thiên Chúa giáo, nht là lut hôn nhân Thiên Chúa giáo), phim M dài 1g36', sn xut năm 1944.
  22. Jeanne d'Arc (Thánh Jeanne d'Arc anh hùng t đo nưc Pháp): phim lch s ca Victor Fleming, phim màu M dài 2g25', sn xut năm 1948.
  23. Jeanne d'Arc: phim lch s ca Lue Besson, phim màu Pháp dài 2g30', sn xut năm 1998.
  24. Jesus de Montréal: phim bi hài ca Denys Arcand, phim màu Canada dài 1g58', sn xut năm 1989.
  25. Jesus de Nazareth: phim lch s ca Franco Zeffrelli, phim màu Anh-Ý dài 2g15', sn xut năm 1976.
  26. Jour de Colère / Dies irae (Ngày phán xét): bi kch ca Carl Theodor Dreyer, phim Đan Mch dài 1g32', sn xut năm 1943.
  27. Le Journal d'un Curé de Campagne (Nht ký ca mt Cha s min quê): phim bi kch ca Robert Bresson, phim Pháp dài 1g50', sn xut năm 1950. Gii thưng Louis Delluc, gii thưng ln Venise, gii thưng L'O.C.I.C năm 1951.
  28. Joyeux Noël: phim chiến tranh ca Christian Carion, phim màu Pháp dài 1g55', sn xut năm 2005.
  29. Kadosh, Cacré ca Amos Gitaï: phim bi kch (khung cnh mt cng đoàn Chính Thng giáo), phim màu Israel dài 1g50', sn xut năm 1999.
  30. Kingdom of Heaven (Nưc Tri): phim lch s ca Ridley Scott, phim màu Anh dài 2g25', sn xut năm 2005.
  31. La Loi du Seigneur (Lut ca Chúa): phim bi kch tâm lý ca William Wyler, phim màu M dài 2g20', sn xut năm 1956, gii thưng ln, Cannes 1957.
  32. Loin du Paradis (Thiên đàng xa cách): phim bi nhc kch ca Todd Haynes, phim màu M dài 1g47', sn xut năm 2002.
  33. La Messe est finie (Thánh l kết thúc): phim bi hài ca Nanni Moretti, phim màu Ý dài 1g34', sn xut năm 1985.
  34. 1492 Christophe Colomb: phim thám him nhiu cnh Thiên Chúa giáo (c có hình thánh giá, con tàu mang tên Sancta Maria, mi ti thy thy đoàn đu hát kinh Ly N Vương), phim màu M-Pháp dài 2g35', sn xut năm 1992.
  35. Les Mines du roi Salômon: phim mo him ca Compton Bennett, phim màu Anh-M dài 1g42', sn xut năm 1950.
  36. Les Moisson de Ciel Days of Heaven: phim bi kch ca Terence Malick, phim màu M dài 1g35', sn xut năm 1978.
  37. Notre Dame de Paris Nhà th Đc Bà Paris: phim bi kch ca Jean Delannoy, theo tiu thuyết cùng tên ca Victor Hugo, phim màu Pháp-Ý dài 1g40', sn xut năm 1956.
  38. Notre Pain Quotidien (Bánh hng ngày ca chúng con) li kinh Ly Cha: phim bi hài ca King Vidor, phim M dài 1g14', sn xut năm 1934.
  39. Nous Irons tous au Paradis (Tt c chúng ta vào thiên đàng): phim hài ca Yves Robert, phim màu Pháp dài 1g50', sn xut năm 1977.
  40. La Nouvelle Babylone (Babylon mi): phim bi kch ca Grigori Kozintsev và Leonid Trauberg, phim Liên Xô dài 1g21', sn xut năm 1929.
  41. La Nuit de San Laurenzo: phim bi kch lch s ca Paolo và Victorio Taviani, phim Ý dài 1g45', sn xut năm 1982, gii thưng đc bit liên hoan phim Cannes 1982.
  42. Paradis Perdu (Thiên đàng đã mt): phim bi kch ca Abel Gance, phim Pháp dái 1g40', sn xut năm 1939.
  43. La Passion de Jeanne d'Arc: phim bi kch lch s ca Carl Theodor Dreyer, phim Pháp dài 1g25', sn xut năm 1928.
  44. Le Père Noël est Une Ordure: phim hi ca Jean Marie Poiré, phim màu Pháp dài 1g30', sn xut năm 1982.
  45. Le Petit monde de Don Camillo: phim hài ca Julien Duvivier, theo cun truyn cùng tên ca Giovani Guareschi (Cuc chm trán gia Cha s min quê vi ông xã trưng thuc đng cng sn, thưng xuyên có cnh ông Cha s cu nguyn và đi thoi vi Chúa Giêsu đ lãnh ý Ngài), phim Pháp - Ý dài 1g47', sn xut năm 1952.
  46. Phantom of the Paradise / Le Fantôme du Paradis (Bóng ma ca đa đàng) : phim kinh d ca Brian de Palma, phim màu M dài 1g32', sn xut năm 1974.
  47. La Porte du Paradis (Ca Thiên Đàng): phim ca Michael Cimono, phim màu M dài 3g30', sn xut năm 1980.
  48. Quo Vadis? (Thy đi đâu?): phim lch s ca Enrico Guazzoni, phim Ý dài 1g23', sn xut năm 1912.
  49. Quo Vadis? (Thy đi đâu?): phim lch s ca Mervyn Le Roy, theo cun sách cùng tên ca nhà văn Henryk Sienkiewicz, đưc gii Nobel văn chương năm 1958. Ni dung nói v cuc tàn sát tín hu Công giáo dưi thi hoàng đế Néron ti Roma, phim màu M dài 2g51', sn xut năm 1951.
  50. Le Roi des Rois (Vua các Vua): phim lch s ca Cecil B. De Mille, ni dung tôn vinh Chúa Giêsu là Vua các vua, Chúa các chúa. Phim M dài 1g55', sn xut năm 1927.
  51. Le Roi des Rois (Vua các Vua): phim lch s ca Nicholas Ray, phim màu M dài 2g45', sn xut năm 1961.
  52. Salomon et la Reine de Saba: chuyn vua Salômon trong Kinh Thánh ca King Vidor, phim màu M dài 2g19', sn xut năm 1959.
  53. Salo ou Les 120 Journées de Sodome Câu chuyn Thánh Kinh v s sp đ ca thành Sodome, phim bi kch ca Pier Paolo Pasolini, phim màu Ý-Pháp dài 1g57', sn sut nm 1975.
  54. Samson et Dalila: phim bi kch Thánh Kinh, din t cuc đi ca th lãnh Samson, (sách Th Lãnh chương 14-17) ca Cecil B. De Mille, phim màu M dài 2g08', sn xut năm 1949.
  55. Un Conte de Noël: phim bi hài ca Arnaud Desplechin, phim màu Pháp dài 2g23', sn xut nm 2008, gii thưng liên hoan phim Cannes.
  56. Une Bible et un fusil Cun Kinh Thánh và khu súng: phim ca Stuart Millar, phim màu dài 1g45', sn xut năm 1975.
  57. Un homme pour L'éternité: phim lch s v vua Henri VIII, k ry b hoàng hu Catherine d'Aragon đ cưi bà Anne Boleyn, nhưng vp phi s phn đi ca Giáo Hi Công giáo và đi din ca vua là ngài Thomas Moore trên căn bn lut hôn nhân Công giáo: "S gì Thiên Chúa liên kết loài ngưi không đưc ly d" (Mt 19,6), kết cc vua Henri ly khai khi Giáo Hi Công giáo, lp ra Anh giáo, đng thi cm đo Công giáo và chém đu ngài Thomas Moore cùng rt nhiu tín hu trung thành vi Giáo Hi Công giáo. Phim màu Anh dài 2g, sn xut năm 1966, đot 5 gii Oscars.
  58. Ti ác và Trng pht: b phim da trên tiu thuyết cùng tên ca đi văn hào Nga Fiodor Dostoievski xut bn 1966, bi cnh xã hi Nga thi phong kiến và Chính thng giáo:

Chàng Raxcônnhicôp, sinh viên luật vừa nghèo, không có tiền phải bỏ học, lại nhiễm thứ triết lý người hùng, muốn san bằng mọi bất công xã hội. Anh đã ra tay giết hai chị em độc thân có tiền cho vay nặng lãi, rồi cướp của, xóa mọi vết tích, công an chịu thua. Raxcônnhicôp sống ngoài pháp luật nhưng lương tâm dằn vặt ngày đêm, nên dù hết tiền tiêu anh vẫn giấu vàng bạc, tiền của dưới một tảng đá, không xài một đồng nào. Tình cờ trong một quán rượu, anh gặp bác Macmêlađôp, thất nghiệp, nát rượu, và được biết Xônhia – con gái yêu của bác phải bán thân nuôi cả nhà, anh đem lòng yêu Xônhia. Một hôm bác Macmêlađôp bị xe cán chết, anh đứng ra lo chôn cất, Xônhia rất cảm phục và cũng yêu anh… Một thời gian sau, trong một lần hai người tâm sự, anh thú nhận tội ác với Xônhia và cô khuyên anh ra đầu thú, anh nghe lời và bị kết án 8 năm lưu đày ở Siberia (vì quan tòa có bằng chứng anh bị phần nào tâm thần…). Hình ảnh kết thúc cuốn phim rất ý nghĩa và cảm động: Xônhia tiễn người yêu đi đày, chân mang xiềng, tay bị trói cùng với các tội phạm khác… Xônhia đã chạy ra ôm hôn anh và gỡ sợi dây chuyền có hình Thánh giá Chúa Giêsu từ cổ nàng và đeo vào cổ anh, rồi đứng lặng nhìn đoàn tội nhân đi xa dần, xa dần… Phim dài chừng 1g30', thực hiện khoảng thập niên 60 thế kỷ 20.

  1. Sám hi: phim Liên Xô nói v xã hi Nga thi tin đi mi, thc hin khong thp niên 80 thế k 20. đon kết có cnh mt bà già Nga quét đưng, con đưng rng dn ti mt ngôi Thánh đưng ln có tháp chuông, Thánh giá bà già va quét đưng va lm bm nói mt mình: "Con đưng, con đưng mà không dn ti Nhà th thì có con đưng đ làm gì?".

Những cuốn phim trên đều có bối cảnh hoặc nội dung Thiên Chúa giáo (Thánh Kinh), hay ít là đề tựa có màu sắc Thánh Kinh (từ phim số 1 đến 80 lược trích trong Petit Larousse des films của Martine et Jean Claude Lamy và nhiều tác giả khác – nhà xuất bản Pháp 2009).

***

NHẬN ĐỊNH

Nếu chỉ xét về phương diện văn chương mà thôi, chưa kể đến các ngành nghệ thuật khác, Thánh Kinh cũng đã là một bộ sách có giá trị cao, đáng được mọi người đọc, nghiên cứu và học hỏi.

Về các lãnh vực khác, bách khoa tự điển Wikipedia đã nhận định như sau:

- Giáo hội Công giáo (cơ quan bảo vệ, thể hiện và truyền bá Thánh Kinh khắp nơi, mọi thời), đã đặt tiền đề cho các ngành khoa học căn bản là: thiên văn học, khoa học vũ trụ, sinh học, di truyền học, hình học, đại số, toán học, khoa học địa lý và ngành bản đồ học, các ngành khoa học tự nhiên nghiên cứu về thiên nhiên và Trái Đất… qua những nhà bác học lỗi lạc của Giáo Hội như Linh mục Gregor Mendel, cha đẻ của ngành di truyền học hiện đại, người đề ra định luật Mendel và các nguyên tắc phân ly độc lập, di truyền giống, biến đổi gen; nhà bác học đa tài Nicolaus Copernicus; nhà bác học Blaise Pascal; nhà bác học Linh mục Matteo Ricci…

- Giáo hội Công giáo hình thành hai ngành khoa học cơ bản là triết học và thần học vào buổi bình minh của lịch sử, đặt nền tảng cho các lý luận của con người tới tận ngày nay nhằm giải quyết các vấn đề của bản thể luận, nhận thức luận, tôn giáo, đức tin và linh hồn.

- Giáo hội Công giáo giúp hình thành và phát triển nền nghệ thuật, âm nhạc và kiến trúc phương Tây với các nhà soạn nhạc vĩ đại như Beethoven, Mozart, Bach, các họa sĩ và kiến trúc sư lừng danh mọi thời đại như Michelangelo, Bernini, Raphael, Caravaggio, Antoni Gaudí, Leonardo da Vinci…

(Tư liệu Wikipedia – Internet)

Bạn đọc nghĩ sao, nhận định thế nào thì tùy ý, riêng người viết thì lúc nào cũng đồng tình với xác quyết của thánh Phaolô: "Thánh Kinh là sách của Chúa".


Tân Bình, ngày 08 tháng 7


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 04.11.2013.