Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




TÙNG THIỆN VƯƠNG MIÊN THẨM





Tùng Thiện vương tên thật là Nguyễn Phước Miên Thẩm, cháu nội vua Gia Long, con trai thứ mười của vua Minh Mạng nên tục gọi là ông Hoàng Mười, em vua Thiệu Trị và chú vua Tự Đức. Ông sinh ngày 11-12-1819 tại kinh thành Huế, tự là Trọng Uyên và Thận Minh, biệt hiệu Thương Sơn và Bạch Hào Tử. Mẹ ông là Thục tần Nguyễn Thị Bảo rất hiền đức.

Ông nổi tiếng về văn học, dưới triều Nguyễn được phong tước Tùng Thiện công, sau khi mất được truy phong Tùng Thiện quận vương rồi Tùng Thiện vương. Người đời quen gọi ông theo tước hiệu này. Miên Thẩm được học hành từ bé và nổi tiếng về thi văn từ năm 12 tuổi. Thầy học của ông thuở nhỏ là Thân Văn Quyền và sau này là đại thần Trương Đăng Quế, rồi ông trở thành con rể của người thầy học này.

Tùng Thiện vương có người em là Tuy Lý vương Miên Trinh cũng nổi tiếng về văn học, người đương thời gọi là Nhị Tô, tức là so sánh hai ông với anh em Tô Thức (Tô Đông Pha) và Tô Triệt đời Tống bên Tàu. Hai ông cùng với người em là Tương An quận vương Miên Bửu lập ra “Tùng Vân thi xã”, cũng gọi là “Mặc Vân thi xã” tập hợp các danh sĩ ở kinh đô, trong đó có các thi tài nổi tiếng như Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát, vì thế buổi đương thời có hai câu thơ truyền tụng mà người ta cho là của vua Tự Đức:

Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán

Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường.

Vì cả ba anh em đều là những nhà thơ nổi tiếng nên người đương thời xưng tụng là “Tam Đường”. Tùng Thiện vương còn có ba người em gái cũng nổi tiếng về thi văn là Vĩnh Trinh (tự Nguyệt Đình, Trọng Khanh), Trinh Thận (tự Mai Am, Thúc Khanh) và Tĩnh Hòa (tự Huệ Phố,Quí Khanh) nên người đời thường gọi là “Tam Khanh”.Thật là một gia đình văn học

***

Thơ Tùng Thiện vương hàm súc, ngụ ý sâu xa mà nhẹ nhàng, tươi tắn, tình cảm đậm đà đối với người và với cảnh thiên nhiên:

去 歲 春 殘 黃 鳥 歸

秋 容 憔 悴 月 明 知

東 風 砟 夜 吹 何 處

更 惹 新 愁 上 曉 眉


LIỄU

Khứ tuế, xuân tàn, hoàng điểu qui,

Thu dung tiều tụy, nguyệt minh tri.

Đông phong tạc dạ xuy hà xứ?

Cánh nhạ tân sầu thướng hiểu mi.


Ngô Văn Phú dịch:

Năm ngoái, xuân tàn, oanh sắp đi,

Hao gầy riêng biết có trăng khuya.

Gió đông đêm trước về đâu nhỉ?

Sầu mới dâng đầy một nét mi.


Cảnh đêm đỗ thuyền ở bến Nguyệt Biều cũng giúp ông tạo nên những vần thơ diễm tuyệt:


夜 泊 月 瓢

竹 陰 涼 處 夜 停 船

水 月 江 風 未 忍 眠

隔 岸 鐘 樓 天 姥 寺

聲 聲 敲 破 遠 汀 煙


DẠ BẠC NGUYỆT BIỀU

Trúc âm lương xứ, dạ đình thuyền,

Thủy nguyệt, giang phong, vị nhẫn miên.

Cách ngạn chung lâu Thiên Mụ tự,

Thanh thanh xao phá viễn đinh yên.


Nguyễn Sĩ Đại dịch:

ĐÊM ĐỖ THUYỀN Ở BẾN NGUYỆT BIỀU (1)

Đỗ thuyền dưới bóng tre xanh,

Trăng sông, gió nước, nỡ đành ngủ sao?

Đêm khuya nghe vọng chuông lầu,

Thanh thanh từng tiếng tan màu khói sông

(Bài này khiến ta nhớ đến bài Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế đời Đường).

Tùng Thiện vương luôn tỏ ra nặng tình với những người dân cùng khổ và sự tồn vong của đất nước. Dân ta lúc bấy giờ rất khổ vì cuộc sống thiếu thốn, lầm than. Chẳng những thế, họ còn bị quan trên áp bức, nhũng nhiễu, bóc lột:


Sớm vừa dâng “tiền trầu”,

Chiều “tiền trầu” lại cúng.

… Trong nhà quan lớn tiền bỏ nát,

Dân đen bán nhà lại bán vợ.

Cái xác tuy còn, mất nhà ở,

Gông cùm may thoát, vợ còn đâu!

(Bài hành tiền biện trầu cau)

Một trong những nỗi khổ của dân thời đó là thuế. Đời sống đã vất vả cực nhọc lại còn lo thuế thúc bên mình, dù có hạn hán mất mùa cũng không được tha thuế:


Áo rách không che được ống chân,

Mặt vàng, da thịt khô héo,

Chỉ cầu đủ nộp thuế,

Cay đắng thay! Thuế thường khó nộp đủ

Đành chịu làm tàn tật tấm thân hèn.

Chẳng những thế, bấy giờ chiến tranh loạn lạc khắp nơi, nào những cuộc dấy loạn của giặc Tam Đường, Lê Duy Cự (Giặc châu chấu), Tạ Văn Phụng, Cai Tổng Vàng, giặc Khách quấy nhiễu, rồi giặc Pháp đánh Đà Nẵng khiến dân chúng chết chóc, khổ sở trăm bề:

Xương khô chồn gặm đứng đầy,

Quạ tha từng khúc ruột bay thành đàn.

Đồng Đông xiết nỗi lầm than,

Kẻ về sau buổi ly hoàn, ai thương?

(Tống lương từ)

Tùng Thiện vương là người luôn nặng lòng vì đất nước. Thấy cảnh giặc Pháp dày xéo non sông, ông đau lòng khôn xiết:

Năm kia giặc Tây đánh Quảng Nam,

Quân ta thua trận, máu thành đầm.

…Đêm qua hịch báo về Cam Tuyền,

Hơn nửa người chết bỏ thây xác.

(Mại chỉ y)

Bài thơ Tàn tốt của ông nói lên tấm lòng của người lính bị thương nhưng vẫn quyết tâm chống giặc:

殘 卒

亂 尸 叢 裡 拔 身 還

一 嶺 單 衣 戰 血 殷

倚 杖 獨 沽 山 店 酒

自 言 生 入 海 雲 關


Tàn tốt

Loạn thi tùng lý bạt thân hoàn,

Nhất lĩnh đơn y chiến huyết ân.

Ỷ trượng độc cô sơn điếm tửu,

Tự ngôn sinh nhập Hải Vân quan.

Nguyễn Tấn Hưng dịch:

Người lính sống sót

Sa trường, bờ bụi lết về,

Tả tơi áo chiến, máu me lạnh dồn.

Tìm mua quán rượu đầu non,

Sống thề quyết lại nhập đồn Hải Vân.

Trước tình hình ấy, ông đứng hẳn về phía nhân dân, nhiệt liệt tin tưởng vào lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết chiến đấu của nhân dân chống Pháp:

Sào múa, gậy giương, thương nghĩa sĩ,

Vượn kêu, hạc oán, cảm sinh linh.

Thư sinh đánh giặc bằng cây bút,

Báo quốc thế kia thật xót tình.

(Đọc Nguyễn Đình Chiểu)

Nhưng ông chán ngán khi biết vua và triều đình muốn thỏa hiệp với giặc Pháp:

Nhà vua đã muốn hòa cùng giặc,

Còn thuyết làm chi chuyện phục thù!

(Nhạc Phi)

Phần lớn thơ Tùng Thiện vương được sáng tác bằng chữ Hán, nội dung thể hiện lòng yêu nước, thương dân, yêu cảnh thiên nhiên và hết lòng vì bè bạn. Tiến sĩ Lao Sùng Quang, sứ thần nhà Thanh, sau khi đọc bài thơ “Khiển hoài” của ông đã phải dẹp ngay tính kiêu hãnh để nồng nhiệt ngợi khen:

Độc đáo bạch âu hoàng diệp cú

Mãn hoài tiêu sắt đới thu hàn.

(Đọc đến câu “bạch âu hoàng diệp” của ông

Cả người ớn lạnh với hơi thu).

Cao Bá Quát, người từng rất tự kiêu, coi thường các nhà thơ khác, vậy mà đối với thơ Tùng Thiện vương cũng phải hết lòng nể phục. Ông viết :“…Tôi theo Quốc công chơi đã lâu. Thơ của Quốc công đâu phải đợi đến ngày nay mới nói đến. Và cũng đâu phải đợi đến Quát này mới có thể nói được? Sáng ngày mai, đứng ở ngoài cầu Đốc Sơ trông về phía Nam… đó chẳng phải là núi Thương Sơn (hiệu của Tùng Thiện vương) ư? Mua rượu uống rồi, cởi áo ở nơi bắc trường đình, bồi hồi ngâm vịnh các bài Hà thượng của Quốc công, lòng khách càng cảm thấy xa xăm man mác…”

Nhà thơ Tuy Lý vương Miên Trinh, em ông, thì nhận xét:“Thi văn Tùng Thiện vương như cỏ hoa giữa núi, như mây mỏng trên trời. Vẻ đẹp ở tinh thần, mỗi câu có một họa ý, mỗi chữ có một nhạc âm (cú tất hữu sắc, tự tất hữu thanh)”.

Sách của ông để lại rất nhiều: Thương Sơn thi tập gồm 54 quyển, chia làm 8 tập với hơn 2200 bài thơ, Thương Sơn từ tập, Thương Sơn thi thoại, Thương Sơn ngoại tập, Thương Sơn văn di, Nạp bị văn tập (19 quyển), Độc ngã thư sao, Lão sinh thường đàm, Tịnh y ký, Thi tấu hợp biên, Lịch đại thi tuyển v.v…

Trong đời Tùng Thiện vương, ngoài cái chết của mẹ khiến ông rất đau xót, còn có hai nỗi buồn đau theo ông cho đến cuối đời:

- Vụ Hồng Bảo: Năm 1847 vua Thiệu Trị băng hà, hoàng tử thứ hai là Hồng Nhậm, năm ấy mới 19 tuổi, được truyền ngôi, tức là vua Dực Tông (Tự Đức). Con trưởng của vua Thiệu Trị là An Phong công Hồng Bảo không được truyền ngôi vì vua cha cho rằng ông học hành kém cỏi, tính tình phóng đãng, ham ăn chơi, hạnh kiểm xấu. Năm 1854 Hồng Bảo liên kết với một số quan lại và thông đồng với người nước ngoài âm mưu lật đổ Tự Đức để tranh ngôi vua. Việc bại lộ, Hồng Bảo bị giam vào ngục. Trong tù, ông tự tử chết trong khi thân còn mang xiềng xích. Con ông là Ưng Đạo được tha nhưng phải cải sang họ mẹ là Đinh Đạo.

- Loạn Chày Vôi: Thuở sinh thời, vua Tự Đức sai quan quân xây Vạn Niên Cơ (sau đổi thành Khiêm lăng) để làm nơi yên nghỉ sau cùng. Vì quân dân làm việc vất vả, ăn uống thiếu thốn, đau ốm không có thuốc men nên nhiều người chết. Lòng người vô cùng phẫn nộ.

Năm 1866, con rể của Tùng Thiện vương là Đoàn Hữu Trưng (chồng của Thể Cúc) lãnh đạo cuộc nổi dậy của dân phu, dùng chày giã vôi làm vũ khí (nên sử gọi là Giặc chày vôi) kéo vào cung định giết vua Tự Đức, lập Đinh Đạo là con Hồng Bảo lên làm vua, nhưng việc không thành. Ba anh em Đoàn Hữu Trưng bị giết. Đinh Đạo cũng cùng chung số phận. Tùng Thiện vương tuy không tham gia, nhưng vì con rể ông, Đoàn Hữu Trưng, là người thủ xướng nên ông bị các quan trong triều buộc tội nặng nề. Vua Tự Đức không kết tội ông, chỉ bảo rằng ông chọn rể không cẩn thận, để mất thanh danh, nên cắt bổng trong tám năm. Ông làm thơ than thở:

Nỗi phẫn uất biết cùng ai tỏ,

Lòng lo buồn khiến lại ngã đau.

Lời xằng buộc tội thêm sâu,

Nghiêm minh hợp vạch những câu ngược đời.

(Vận – Lương An dịch)

Năm 1870 bị bệnh nặng, ông gắng gượng dâng biểu lên vua với lời lẽ ôn nhu:“ Thần là Miên Thẩm kính tâu: Thần tự biết không còn thấy được hoàng thượng nữa nên kính xin hoàng thượng nhớ lấy công sáng tạo của tổ tiên, lo tạo mối thủ thành. Tài lực của dân thì xin dùng cho có tiết độ. Còn triều chính, quốc chính nên tùy thời mà thay đổi cho phù hợp. Thần cám đội ơn trên, rỏ nước mắt để viết những dòng này, mong hoàng thượng soi xét”.

Khi bệnh đã quá nặng, ông dặn dò con cháu nên làm đám tang giản dị cho đỡ tốn kém rồi lấy tay vạch bài thơ tuyệt mệnh:

Bán sinh học đạo thái hồ đồ,

Thoát tỷ như kim nãi thức đồ.

Tiến Sảng đình (2) ba Thiên Mụ nguyệt,

Thủy hương, lâm ảnh, hữu nhân vô?

Nửa đời học đạo thật hoài công,

Bỏ dép” (chết) đường dài nay mới thông.

Thiên Mụ, Thúy Vân (3) trăng với sóng,

Hình non, hình nước, có ai không?

(Bảo Quyến dịch)

Ông mất ngày 30-4-1870, lúc mới 51 tuổi. Tùng Thiện vương xứng đáng có một vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX.


(1) Nguyệt Biều: một làng ven sông Hương (Huế).

(2) Tiến Sảng đình: ngôi đình hóng mát trên núi Thúy Vân (mây biếc).

(3) Thúy Vân: tức núi Thúy Vân, phía sau chùa Thánh Duyên (chú thích của Bảo Quyến).



Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa chuyển từ SàiGòn ngày 18.10.2013 .