TÁC PHẨM
TÁC GIẢ




HUYỀN VIÊM

Huyền Viêm sinh năm 1930 tại Quảng Nam .

Hiện sống tại Sài Gòn - Nam Việt Nam.

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

.Thơ Mùa Chinh Chiến.
. Hạnh Ngộ.














THIÊN TÌNH SỬ CỦA LỤC DU




Lục Du (1125-1210) tự là Vụ Quan, người đời Nam Tống, quê ở Sơn Âm (nay thuộc tỉnh Chiết Giang), cùng thời với Nhạc Phi, Tần Cối. Ông là một nhà thơ lớn đã từng được người xưa suy tôn là Tiểu Lý Bạch. Theo Đường Tống thi thuần thì ông “có thể cùng Lý, Đỗ, Hàn, Bạch dĩ khúc đồng công, đặt ngang với Tô Đông Pha mà không thẹn vậy” (1). Ông để lại khoảng 9.300 bài thơ (2), tuyệt đại đa số là thơ yêu nước. Là nhà nho nhưng tính tình ông tự do phóng túng, không chịu ràng buộc trong khuôn phép nên có người cười ông là phóng đãng, ông bèn đặt ngay tên hiệu cho mình là “Phóng ông”.

Ông sinh ra và lớn lên vào thời vương triều Bắc Tống suy vi, hèn yếu, đành để cho người Kim chiếm một nửa giang sơn phía bắc, rút về phương nam đóng đô ở Hàng Châu (Chiết Giang) gọi là Nam Tống. Ông là người đọc hết vạn quyển sách, bốn mươi năm học múa gươm, tài kiêm văn võ, ra làm quan dốc lòng chống ngoại xâm, khôi phục trung nguyên, thống nhất tổ quốc, nhưng bọn quan lại thời bấy giờ tham lam hèn nhát, xúi vua Cao Tông xưng thần nạp cống, uốn gối cầu hòa để mong được yên thân mà hưởng lạc. Bị bọn chúng trù dập, không thể nào thực hiện được chí khí và hoài bão của mình, ông đành lui về vườn sống đạm bạc như một nhà nông nghèo khổ, nhưng chí khí và tâm huyết không hề bị tiêu ma, lòng vẫn mơ có ngày thu giang sơn về một mối. Bài thơ “Thập nhất nguyệt, tứ nhật, phong vũ đại tác” có giọng bi tráng và cảm khái :

NGÀY MỒNG 4 THÁNG 11, MƯA GIÓ LỚN, LÀM THƠ

Xóm lẻ nằm co chẳng tủi lòng,
Đầu quân báo quốc chỉ còn mong.
Đêm tàn nằm lặng nghe mưa gió,
Mộng thấy sông băng ngựa sắt lồng.

(Nguyễn Hiến Lê dịch)

Nguyên tác :

THẬP NHẤT NGUYỆT, TỨ NHẬT, PHONG VŨ ĐẠI TÁC

Cương ngọa cô thôn bất tự ai,
Thượng tư vị quốc thú Luân đài.
Dạ lan ngọa thính phong xuy vũ,
Thiết mã băng hà nhập mộng lai.


Đến lúc sắp chết, ông hãy còn ân hận vì chưa được thấy giang sơn thống nhất nên làm thơ dặn con khi nào khôi phục được trung nguyên thì nhớ khấn cho ông hay :

DẶN CON

Vốn biết chết rồi là hết chuyện,
Chín châu chỉ tiếc chửa sum vầy.
Ngày nào thu lại miền trung thổ,
Cúng bố đừng quên khấn bố hay.

(Nam Trân dịch)

Nguyên văn :

THỊ NHI

Tử khứ nguyên tri vạn sự không,
Đãn bi bất kiến cửu châu đồng.
Vương sư bắc định trung nguyên nhật,
Gia tế vô vong cáo nãi ông.


Nhưng con ông chẳng bao giờ có dịp khấn ông điều ấy vì đến năm 1279 cả nước Kim ở phía bắc và nhà Tống ở phía nam đều bị quân Mông Cổ diệt, lập ra nhà Nguyên !
Về cuộc sống tình cảm thì Lục Du gặp phải một mối tình trắc trở, vết thương lòng còn lưu dấu suốt đời. Năm 20 tuổi, ông kết duyên với nàng Đường Uyển, một thiếu nữ rất đẹp, con gái của người cậu. (Theo phong tục Trung Quốc thì con cô, con cậu, con dì kết hôn với nhau là chuyện bình thường, miễn khác họ là được). Nàng Đường Uyển hiền hậu, dịu dàng, lại có học, biết làm thơ làm từ nên hai vợ chồng tâm đầu ý hợp và rất yêu quí nhau. Thế mà mẹ ông lại sinh lòng ghen ghét, đối xử với nàng dâu rất cay nghiệt. Hai vợ chồng chung sống chưa được bao lâu thì bà mẹ bắt ông phải bỏ nàng Đường Uyển để lấy vợ khác. Có sách cho rằng vì nàng Đường Uyển không sinh cho bà được đứa cháu nào để bà bồng ẵm nên bà ghét. Là người con có hiếu, Lục Du buộc lòng phải tuân theo ý mẹ nhưng lén thuê nhà riêng để hai vợ chồng có nơi gặp gỡ từ sau buổi chia tay. Không ngờ có kẻ xấu lén mách mẹ ông, bà đùng đùng nổi giận tìm đến tận nơi nặng lời quở trách. Thế là hai vợ chồng buộc lòng phải vĩnh viễn xa nhau. Lục Du cưới vợ khác, còn nàng Đường Uyển thì lấy người đồng quận là Triệu Sĩ Trinh.
Hơn mười năm sau, một buổi chiều xuân nhớ thương người cũ, Lục Du tha thẩn dạo chơi nơi vườn họ Thẩm, phía nam chùa Vũ Tích, tình cờ gặp nàng Đường Uyển và Triệu Sĩ Trinh ở đấy. Nàng Đường Uyển không giấu giếm, kể hết chuyện cũ cho chồng sau nghe. Triệu Sĩ Trinh là người có tâm hồn cao thượng, chẳng những không chấp trách gì mà còn đồng ý cho vợ thết tiệc đãi Lục Du. Rượu ngà ngà say, Lục Du buồn rầu hồi tưởng mối tình xưa dang dở, bèn làm một bài từ đề lên vách tường vườn Thẩm để bày tỏ nỗi khổ đau thầm kín của mình :

THOA ĐẦU PHƯỢNG

Tay hồng bày khay rượu,
Thành ngập màu xuân, xanh xác liễu.
Gió xuân nghiệt, hoa tình biệt,
Mối sầu lịu địu,
Chịu, chịu, chịu.
Xuân này như xuân trước,
Người chẳng khác
Mà để khăn hồng ai lệ ướt.
Đào rơi rớt
Ao, lầu khắp.
Thề non còn đó
Lời vàng nghẹn tắt,
Mặc, mặc, mặc.

(Yến Lan dịch)

Nàng Đường Uyển xem, cảm động lắm, cũng đề lên vách một bài từ, lời lẽ vô cùng thống thiết :

THOA ĐẦU PHƯỢNG

Thế tình bạc,
Nhân tình ác.
Hoa rụng hoàng hôn, mưa lác đác,
Gió mai khô khan,
Ngấn lệ đã tàn.
Muốn chép tâm sự,
Một mình bóng xế lan can.
Than, than, than !
. . . . . . . . . . . . .

(Nguyễn Hiến Lê dịch)

Sau buổi gặp gỡ ấy, nàng Uyển về buồn rầu nghĩ ngợi, sinh bệnh rồi mất. Cái chết của nàng khiến cho Lục Du đau khổ và ân hận suốt đời, không thể nào nguôi ngoai được.

Bốn mươi năm sau, lúc đã 75 tuổi, Lục Du có dịp trở lại thăm vườn Thẩm và chùa Vũ Tích. Vườn Thẩm đổi chủ mấy lần, cảnh vật bấy giờ đã khác xưa nhiều lắm. Nước vẫn êm đềm chảy dưới cầu, nhưng cố nhân có còn đâu nữa ! Sóng nước vẫn xanh màu xanh của cảnh xuân mà sao lòng người lại đau thương vô hạn? Bốn mươi năm qua, mộng đứt hương tan, cây liễu vườn Thẩm ngày xưa nay đã già, không còn bay tơ nữa. Lục Du thầm nghĩ cho dù thân này mai sau có chôn vùi dưới núi Cối Kê thì vẫn còn nhỏ lệ khóc thương dấu xưa người cũ. Xúc động trước cảnh vật đã từng ghi bao kỷ niệm dấu yêu, ông làm bài thơ tình nổi tiếng dưới đây :

V Ư Ờ N T H Ẩ M

Bóng xế thành hôm ốc gợi sầu,
Đài ao vườn Thẩm dấu xưa đâu?
Dưới cầu sóng biếc trông đau ruột,
Đây bóng hồng soi thoảng lúc nào?

Mộng đứt hương tan bốn chục thu,
Liễu già vườn Thẩm chẳng bay tơ.
Thân này vùi đất Kê Sơn nữa
Vẫn nhỏ dòng châu khóc dấu xưa !

(Khương Hữu Dụng dịch)

Nguyên văn :

T H Ẩ M V I Ê N

Thành thượng tà dương họa giác ai,
Thẩm viên phi phục cựu trì đài.
Thương tâm kiều hạ xuân ba lục,
Tằng thị kinh hồng chiếu ảnh lai.

Mộng đoạn hương tiêu tứ thập niên,
Thẩm viên lão liễu bất xuy miên.
Thử thân hành tác Kê sơn thổ,
Do điếu di tung nhất huyễn nhiên !


Hãy tưởng tượng một nhà thơ giàu tình yêu nước, suốt đời một lòng một dạ chống ngoại xâm để khôi phục trung nguyên, đến chết vẫn không quên tổ quốc, và đã 75 tuổi rồi mà còn làm được bài thơ tình nổi tiếng này, nếu không xuất phát từ những tình cảm chân thành và niềm yêu thương vô hạn thì làm sao viết nổi? Thiên tình sử này về sau được các nhà văn Trung Quốc soạn thành kịch và rất được tán thưởng.

_______________________________________________

(1) Theo cuốn Thơ Lục Du (NXB Văn Học Hà Nội 1971)

(2) Theo cuốn Từ Tống do Khổng Đức Đinh Tấn Dung biên soạn (NXB TP.HCM 1992) thì thơ Lục Du để lại đến 14.000 bài.



HUYỀN VIÊM


TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN TRUYỆN NGẮN ÂM NHẠC