Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


ĐẠO PHẬT
QUA LỜI GIẢNG DẠY
CỦA LỤC TỔ HUỆ NĂNG
TRONG PHÁP BẢO ĐÀN KINH





TRÍCH KINH TÓM TẮT PHẦN THỨ I


( Từ khi Lục Tổ Huệ Năng đến Chùa Bửu Lâm để giảng pháp cho quan Vi Thứ Sử và Tăng, Ni, đạo, tục cho đến lúc được Truyền Y Bát rồi bị rượt đuổi và giảng pháp cho Huệ Minh)

Xin rút gọn như sau: (Phần chữ nghiêng là trích nguyên văn lời Kinh)

- Trước khi giảng pháp cho đại chúng, Lục Tổ dạy: Tánh Bồ Đề của mình xưa nay vốn trong sạch. Nếu dung cái Tâm ấy thì chắc chắn thành Phật”.

Nguyên do đi tu hành của Ngài Huệ Năng là do nghe một người trì tụng Kinh Kim Cang. Ngài kể lại, cha ngài là một vị quan bị giáng chức, sau đó mất sớm, Ngài phải mang củi ra chợ bán để nuôi mẹ già. Nhân một lần đi giao củi, nghe một người tụng Kinh Ngài hỏi ở đâu đến mà trì tụng Kinh đó thì người khách bảo là do đi lễ bái ở Chùa Đông Thiền, Huyện Huỳnh Mai, xứ Kỳ Châu, nghe Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn khuyên mọi người Tăng, tục, nếu ai trì tụng kinh Kim Cang thì liền Thấy Tánh và chắc Thành Phật.

Nhờ có nhân duyên kiếp trước, nên Ngài Huệ Năng được người giúp cho 10 lượng bạc để lo cho mẹ già rồi Ngài đi tới chùa Huỳnh Mai để làm lễ Ngũ Tổ. Ngũ Tổ hỏi: “Người là người ở phương nào? Muốn cầu việc chi?” Ngài Huệ Năng đáp là: “Ở Huyện Tân Châu, xứ Lãnh Nam, đến lạy Tổ chỉ cầu Thành Phật chớ không cầu chi khác”.

Ngũ Tổ bảo: “Người là dân xứ Lãnh Nam, lại là giống dã man, làm thế nào Thành Phật được?”. Ngài Huệ Năng trả lời: “Con người tuy phân có Nam, Bắc, chớ Phật Tánh vốn không có Nam, Bắc. Cái thân dã man nầy đối với Hòa Thượng tuy chẳng giống nhau, chớ cái Tánh Phật nào có khác”.

Ngũ Tổ còn muốn nói chuyện thêm, nhưng thấy các môn đồ vây quanh nên bảo Ngài Huệ Năng theo chúng mà làm việc. Ngài Huệ Năng hỏi thêm là: Tự Tánh của đệ tử thường sanh trí huệ, không biết Hòa Thượng còn dạy làm việc gì nữa”. Ngũ Tổ trả lời là: “Cái căn tánh của ngươi thật là sáng suốt. Thôi chớ nói nữa, hãy đi ra ngoài”. Ngài Huệ Năng được giao cho giã gạo ở nhà sau.

Hơn tám tháng sau, Ngũ Tổ bảo với Ngài Huệ Năng: “Ta nghĩ chỗ tri kiến của ngươi dùng được, nhưng sợ có kẻ ác hại ngươi nên chẳng nói chuyện với ngươi”. Ngài Huệ Năng cũng trả lời là Ngài hiểu ý Tổ nên không dám đến nhà trước để mọi người đừng lưu ý”.

Một ngày kia, Ngũ Tổ bảo mọi người tề tựu lại và bảo: “Ta nói cho chúng đệ tử rõ: Sự sống thác của người đời là việc lớn. Các ngươi trọn ngày chỉ cầu phước điền, chớ chẳng cầu ra khỏi biển khổ sống thác. Nếu Tánh mình mê muội, thì phước báo nào cứu được. Các ngươi hãy lui về, mỗi người xem trí huệ của mình, lấy Tánh Bát Nhã của Bổn Tâm mình mà làm một bài Kệ, đem trình cho ta xem. Nếu ai hiểu rõ đại ý, ta sẽ truyền Y Pháp cho mà làm Tổ Thứ Sáu. Nếu để tâm suy nghĩ độ lượng ắt chẳng hạp dùng. Phàm người Thấy Tánh, khi nghe pháp rồi thì phải thấy liền. Nếu được như thế thì dầu hươi đao ra trận cũng đặng Thấy Tánh”.

Các môn đồ đều nghĩ rằng họ không đủ trình độ để làm Kệ, Sư Thần Tú là giáo thọ, chắc sẽ làm được, thôi hãy để cho Ngài làm.

Phần Sư Thần Tú thì cũng biết rằng những người còn lại vì nể Sư là Giáo thọ nên không làm. Phần Sư nếu trình Kệ vì mong ngôi Tổ là xấu. Nhưng nếu không trình Kệ thì làm sao biết được ý Tổ. Do đó, Sư làm Kệ xong, muốn trình Tổ mà sợ, nên mang viết trên vách nhà cầu, nghĩ rằng nếu Tổ thấy mà khen hay thì sẽ ra làm lễ nhận là của mình, bằng nếu không thì thật là uổng công tu hành.

Bài kệ của sư Thần Tú như sau:

Thân thị Bồ Đề thọ

Tâm như minh cảnh đài

Thời thời cần phất thức

Vật sử nhá trần ai.

Ngũ Tổ thấy bài Kệ đó biết là Sư Thần Tú chưa Thấy Tánh, nhưng cũng bảo đồ chúng là: “Cứ y theo bài kệ đó mà tu hành thì có ích lợi lớn”. Đến canh ba, Ngũ Tổ kêu Sư Thần Tú và hỏi có phải Sư đã làm bài Kệ đó và nói cho Sư biết: “Người làm bài Kệ đó tỏ ra chưa Thấy Bổn Tánh. Ngươi mới tới ngoài thềm cửa, chưa buớc vào trong nhà. Cứ như chỗ thấy hiểu ấy mà tìm đạo Vô thượng Bồ Đề thì rõ ràng không thể được. Và Ngũ Tổ giải thích tiếp: Theo Đạo Vô Thượng Bồ Đề, hễ khi nghe nói pháp rồi liền phải biết Bổn Tâm và thấy Bổn Tánh của mình. Tâm mình chẳng sanh, chẳng diệt, trong cả thảy thời gian, niệm niệm mình Thấy Tánh. Đối với muôn pháp, Tâm mình suốt thông, không ngưng trệ. Một pháp mình thấy hiểu thấu chơn tướng, cả thảy các pháp mình đều hiểu thấu chơn tướng. Đối với muôn cảnh tâm mình như như. Tâm Như Như tức là Tâm chơn thật. Thấy như thế ấy là Thấy Tánh Vô Thượng Bồ Đề của mình”.

Tổ bảo Sư lui ra, suy nghĩ thêm một hai ngày rồi làm bài kệ khác trình cho Tổ xem. Nếu bài kệ của Sư vào được cửa Đạo thì sẽ truyền Y Pháp cho.

Sư Thần Tú làm lễ xong, lui ra, trải mấy ngày mà không làm được.

Hai ngày sau có một người đi ngang qua phòng của Ngài Huệ Năng đọc bài kệ của Sư Thần Tú. Ngài Huệ Năng nghe qua biết bài Kệ đó chưa thấy Bổn Tánh. Ngài hỏi người đó tụng bài kệ gì vậy, thì được cho biết là Ngũ Tổ dạy mỗi người làm một Bài Kệ trình lên, nếu ai hiểu đại ý thì Ngài sẽ truyền y pháp cho làm Tổ Thứ Sáu. Sư Thần Tú đã làm bài Kệ này. Tổ bảo cứ y theo đó mà tu hành thì sẽ có lợi lớn.

Ngài Huệ Năng nhờ người đó dắt đến trước bài Kệ để lễ bái và nhờ đọc giùm vì Ngài không biết chữ. Có một quan Biệt Giá ở Giang Châu tên là Trương Nhựt Dụng đọc giùm. Nghe xong. Ngài Huệ Năng nói là Ngài cũng có một bài Kệ, nhờ vị đó biên giùm. Quan Biệt Giá có vẻ khinh thường, hỏi: “Ngươi cũng biết làm Kệ nữa sao?”. Ngài Huệ Năng nói với quan Biệt Giá rằng: “Muốn học đạo Vô Thượng Bồ Đề thì chẳng nên khinh dể hàng sơ học. Có kẻ dưới bậc thấp mà phát sinh trí huệ rất cao. Có người trên bậc cao mà thường chôn lấp ý trí của mình. Nếu khinh người thì ắt có tội”. Quan Biệt Giá kêu Ngài Huệ Năng đọc bài kệ để biên giùm cho, và dặn nếu đắc pháp thì nhớ độ cho ông ta trước.

Ngài Huệ Năng ngâm kệ như sau:

Bồ Đề bổn vô thọ

Minh cảnh diệc phi đài

Bổn lai vô nhứt vật

Hà xứ nhá trần ai.

Đồ chúng thấy bài Kệ liền kinh hãi, khen hay và cho rằng chẳng nên xét người qua diện mạo. Đó là Bồ Tát xác phàm. Ngũ Tổ thấy đồ chúng xôn xao mới lấy giày chà hết bài Kệ và cho là bài Kệ đó cũng chưa Thấy Tánh.

Hôm sau, Ngũ Tổ lén đến phòng giã gạo, thấy Ngài Huệ Năng mang đá trên lưng cho đủ nặng mà giã gạo bèn hỏi: “Người cầu Đạo vì pháp quên thân phải như thế sao?” và hỏi “Gạo đã trắng chưa?”. Ngài Huệ Năng trả lời: “Gạo trắng đã lâu, chỉ còn thiếu sàng”. Ngũ Tổ lấy gậy gõ vào cối 3 lần rồi bỏ đi.

Ngài Huệ Năng hiểu ý Tổ Sư, đến canh ba vào thất. Tổ Sư lấy áo Cà Sa đắp cho ngài rồi giảng Kinh Kim Cang cho nghe. Đến câu: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” thì ngài Huệ Năng rất tỏ sáng, hiểu rằng muôn pháp không lìa tánh mình mới bạch với Tổ Sư rằng:

Nào dè Tánh mình vốn tự nhiên trong sạch

Nào dè Tánh mình vốn đầy đủ muôn pháp

Nào dè Tánh mình vốn không lay động.

Nào dè Tánh mình có thể sanh ra muôn pháp

Tổ Sư biết Ngài Huệ Năng đã tỏ sáng Bổn Tâm nên bảo với Ngài rằng:

Nếu chẳng biết Bổn Tâm thì học pháp vô ích. Bằng biết Bổn Tâm và thấy Bổn Tánh mình, tức gọi là trượng phu, là Phật, thầy cõi trời và cõi người vậy . Tổ Sư truyền pháp Đốn Giáo và Y Bát cho Ngài Huệ Năng và dặn dò: “Ngươi làm Tổ Thứ Sáu. Hãy gìn giữ và nhớ lấy Đạo Tâm của mình. Phải quảng độ chúng sinh hữu tình và truyền cái Chánh Pháp cho đời sau, đừng để đoạn tuyệt. Ngũ Tổ đọc Kệ:

Hữu tình gieo giống xuống

Nhờ đất trái bèn sanh

Vô tình không có giống

Vô tánh ắt không sanh.

Tổ lại nói: “Ngày xưa, Đạt Ma Đại Sư mới tới xứ này, người ta chưa tin, nên phải truyền cái Áo ấy để làm tín thể, nối truyền cho nhau từ đời này tới đời khác. Còn Pháp thì lấy Tâm truyền Tâm, khiến cho người tự mình tỏ sáng, tự mình hiểu biết. Từ xưa Chư Phật chỉ truyền cái Bổn Thể là cội rễ của các pháp, và chỉ trao kín cái Bổn Tâm mà thôi. Áo là cái mối tranh, tới đời ngươi đừng truyền nữa. Nếu truyền cái áo ấy thì tánh mạng rất nguy. Hãy đi cho chóng, kẻo e có kẻ hại ngươi”.

Ngũ Tổ tự chèo đò để đưa Ngài Huệ Năng tới trạm Cữu Giang vì Ngài Huệ Năng là người xứ khác không biết lối đi. Ngũ Tổ dặn dò: “Từ đây Phật Pháp sẽ do ngươi truyền bá. Ba năm sau ta sẽ qua đời. Hãy gắng sức đi về hướng Nam, nhưng chớ vội thuyết pháp”. Ngài Huệ Năng từ giã Tổ Sư đi về núi Đại Lãnh.

Khi những người còn lại trong chùa biết Ngài Huệ Năng đã được truyền thọ Y Bát và đã đi rồi liền kéo nhau đi lùng sục để chiếm đoạt lại. Trong số có một Thầy Tăng tên là Huệ Minh cầm đầu Tăng chúng, đuổi theo kịp. Ngài Huệ Năng ném Y Bát lên tảng đá và bảo với Huệ Minh rằng: “Cái áo này là vật làm tin, há dùng sức mà tranh được sao?”, và ẩn mình trong đám cỏ tranh. Huệ Minh đến, dùng hết sức nắm áo giở lên mà không được, liền kêu lên rằng: “Tôi vì Pháp mà đến chớ chẳng phải vì áo đâu”. Ngài Huệ Năng mới bước ra, ngồi xếp bằng trên tảng đá, Huệ Minh làm lễ và xin nghe pháp. Ngài Huệ Năng nói: “Ông vì pháp mà đến đây, thì khá dứt trần duyên, chớ sanh một niệm tưởng, tôi sẽ nói Phật Pháp cho nghe”. Lẳng lặng một lúc. Ngài Huệ Năng nói: “Chẳng nghĩ việc lành, không nghĩ điều dữ, chính trong thời gian đó, CÁI ẤY, tức là tỏ cái BỔN LAI DIỆN MỤC của bậc Thượng Tọa vậy”. Huệ Minh nghe nói rồi rất tỏ sáng, hỏi thêm là ngoài điều đó còn có mật nhiệm nào nữa không? Ngài Huệ Năng nói: “Chỗ tôi nói với ông chẳng phải là mật nhiệm. Nếu ông soi vào trong (nội quang phản chiếu) thì thấy chỗ mật nhiệm ấy ở bên ông. Huệ Minh tỏ sáng, muốn nhận Ngài Huệ Năng làm thầy. Nhưng Ngài Huệ Năng bảo cả hai đồng thờ Đức Huỳnh Mai làm thầy và hãy giữ gìn và nhớ lấy Đạo Tâm của mình.

Huệ Minh xuống núi, bảo với những người còn lại là không thấy dấu vết của Ngài Huệ Năng, bảo bọn chúng đi tìm hướng khác.

Ngài Huệ Năng sau đó đến Tào Khê lại bị bọn ác nhơn tìm đến nên phải lánh nạn, ở chung với đám thợ săn đến 15 năm. Thời gian đó Ngài giữ lưới cho chúng, thấy có thú lọt vào thì mở ra thả, và tùy nghi thuyết pháp cho chúng. Đến bữa ăn thì Ngài ăn rau gởi trong nồi nấu thịt của bọn họ.

LƯỢC GIẢI

Ngay trong phần mở đầu quyển Kinh, qua lời tự thuật của Lục Tổ được ghi lại, ta thấy Ngài là một vị “trở lại”, không phải là người đầu tiên mới nghe nói đến Đạo Phật bởi những điểm sau:

1/ Vừa mới nghe tụng một câu Kinh đã thu xếp cho thân mẫu để đi tìm Ngũ Tổ.

2/ Khi Ngũ Tổ hỏi muốn cầu việc chi thì Ngài trà lời không do dự: Chỉ cầu Thành Phật chớ không cầu chi khác.

3/ Khi bị Ngũ Tổ chê là dân xứ Lãnh Nam làm sao Thành Phật được thì Ngài trả lời là: “Con người tuy phân có Nam Bắc, nhưng Phật Tánh vốn không có Nam Bắc. Cái thân của Ngài đối với Hòa Thượng tuy chẳng giống nhau, nhưng cái Tánh Phật nào có khác”. Tức là dù chưa được nghe pháp bao giờ, nhưng tự Ngài đã nhận ra rằng mỗi người ngoài cái Thân hữu tướng này còn có cái Phật Tánh. Cái Phật Tánh này bình đẳng như nhau.

4/ Tự tánh của Ngài dù chưa học pháp ngày nào mà vẫn thường sinh trí huệ.

5/ Khi vào Chùa của Ngũ Tổ rồi thì Ngài chỉ ở nhà sau để giã gạo không hề được lên nhà trước để nghe giảng pháp. Thế mà khi nghe bài Kệ của Sư Thần Tú thi Ngài biết ngay bài Kệ đó chưa Thấy Tánh, cũng giống như nhận xét của Ngũ Tổ.

Phần này có những điểm cần lưu ý như sau:

- Thành Phật là gì mà Ngài Huệ Năng đến gặp Ngũ Tổ để cầu?

- Phải làm gì để Thành Phật?

- Mọi người đều có thể Thành Phật được hay không? hay chỉ người “Trở Lại như Chư Tổ” mới có quyền?

- Sự khác biệt giữa Bài kệ của Sư Thần Tú và của Ngài Huệ Năng.

- Tại sao Ngũ Tổ bảo: “Nếu chẳng biết Bổn Tâm thì học pháp vô ích”.

- Tại sao chỉ cần Biết Bổn Tâm và Thấy Bổn Tánh mà là Phật, là Thầy cõi Trời, cõi Người?

Hiểu cho đúng thì THÀNH PHẬT chỉ có nghĩa là THÀNH TỰU CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT, hay còn gọi là THOÁT KHỔ. Ngày trước Đức Thích Ca đi tu cũng chỉ vì muốn THOÁT KHỔ, và Ngài đã thành công, nên gọi là THÀNH PHẬT. Có lẽ cũng nên nói qua một chút về chữ THOÁT KHỔ. Trong Đạo Phật, Thoát Khổ không phải là để được Sướng, mà có nghĩa là Thoát 4 Khổ nạn lớn nhất của con người là SINH, LÃO, BỆNH, TỬ. Tất cả mọi người, nếu chấp nhận đường lối của Đạo Phật mà hành theo thì cũng sẽ được Thoát Khổ. Chính vì vậy mà Đức Thích Ca đã Thọ Ký: “Ta là Phật đã thành. Chúng sinh là Phật sẽ thành”.

Để Tu hành, Thành Phật thì chỉ có một phương pháp tu tập duy nhất: Là GÚT Ở ĐÂU THÌ MỞ Ở ĐÓ. Theo Đức Thích Ca dạy cho Ngài A Nan trong Kinh LĂNG NGHIÊM: “Ông từ hồi nào đến giờ, nhiều kiếp sinh tử luân hồi cũng vì Tâm và Mắt. Nếu ông không biết nó ở chỗ nào thì không bao giờ hàng phục được phiền não trần lao”. Và: “Ông nay muốn đặng Đạo Vô Thượng Bồ Đề, thì điều cần nhất là phải hiểu rõ:

1/- Căn bản của sinh tử là VỌNG TÂM

2/- Căn bản của Bồ Đề Niết Bàn là CHÂN TÂM.

Như vậy muốn được đạo VÔ THƯỢNG BỒ ĐỀ thì chỉ cần tìm CÁI TÂM. Phân biệt thế nào là CHÂN TÂM thế nào là VỌNG TÂM rồi hành trì bằng cách “PHẢN VỌNG QUY CHÂN”.

Đó là con đường ĐỐN GIÁO. Người muốn đi theo con đường này thì phải tâp trung để tìm TÂM, TÁNH là hai thứ quan trọng nhất đối với người tu. Khi THẤY được cái CHÂN TÂM thì điều chỉnh cách nghĩ, cách hành của mình theo đúng tính chất của nó. Công việc điều chỉnh đó gọi là Tu tập.

Vào đường tu, không phải muốn bắt đầu từ đâu, hay muốn làm gì cũng được, mà phải theo trình tự. Bắt đầu là GIỮ GIỚI để có SỨC ĐỊNH. Dùng SỨC ĐỊNH để TƯ DUY sẽ sinh ra sự hiểu biết để tự hướng dẫn đi tiếp gọi là TRÍ HUỆ. Đó là những căn bản mà người tu hành nào cũng đều phải thực hành.

Muốn Thoát Sinh Tử thì phải Thấy được Bổn Thể Tâm của mình . Chính vì vậy, khi hướng dẫn cho Lục Tổ Huệ Năng, Ngũ Tổ nhấn mạnh: “Nếu chẳng biết BỔN TÂM thì học pháp vô ích. Bằng Biết Bổn Tâm và thấy Bổn Tánh mình, tức gọi là trượng phu, là Phật, Thầy cõi Trời và cõi Người vậy”

Tại sao chỉ cần THẤY BỔN TÂM, và Thấy BỔN TÁNH của mình thì được “Làm Phật, làm Thầy cõi trời, cõi người”?

Đó là câu khiến cho nhiều người tu hành hiểu lầm, nên tu được một thời gian đâm ra kiêu mạn! Nhưng nếu hiểu đúng thì nghĩa đó ra sao?

Chúng ta đã nghe nói “TU PHẬT LÀ TU TÂM”. “TÌM PHẬT LÀ TÌM TÂM”. “TỨC TÂM TỨC PHẬT” Có nghĩa là mọi công phu tu hành đề thực hiện nơi TÂM chớ không phải nơi hình thức bên ngoài.

CÁI TÂM, theo giải thích của Đạo Phật như sau: Mỗi người khi tiếp nhận một Pháp nào đó, dù là tốt hay xấu, thuận hay nghịch, đều có suy nghĩ trước khi đưa ra cách thức để ứng phó Cái bộ phận đầu não chỉ huy những cái suy nghĩ, tính toán vv... Ngài gọi đó là CÁI TÂM. Trong CÁI TÂM này chứa hai loại tư tưởng: Tốt đẹp, trong sạch, thánh thiện, hướng thiện.. Ngài gọi là TRỜI, THẦN, THÁNH CHÚNG. Những tư tưởng xấu xa, thấp hèn, đen tối, xấu xa thì gọi Chúng Sinh. Nếu không chịu dẹp bỏ hay dập tắt những tư tưởng xấu này thì đôi khi nó đưa ra hành động xấu, rồi bản thân vì đó mà phải lãnh Nghiệp. Vì vậy, TU PHẬT chính là để sửa chữa, cải tạo những tư tưởng xấu xa, độc ác này, gọi là Giáo Hóa hay Điều Phục CHÚNG SINH.

Từng giây, từng sát na, Chúng Sinh cứ theo duyên, theo Mắt, theo Tai mà khởi lên. Có 3 xu hướng nặng nhất đó. Đó là THAM, SÂN và SI. Mỗi loại đông đảo như con người của cả thế giới. Vì thế, nên Phật gọi đó là TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI. Mỗi người tu hành phải Giáo Hóa chúng. Việc Giáo Hóa đó Ngũ Tổ gọi là LÀM THẦY CÕI TRỜI, CÕI NGƯỜI. Do Cõi này không phải ở bên ngoài, mà là những thứ ở BÊN TRONG CÁI TÂM của mình, vì thế mà Tu theo Đạo Phật được gọi là TU TÂM. Chúng Sinh ở trong tâm của mình, người bên ngoài không thể Độ giùm cho mình. Mình cũng không thể Độ được cho ai khác, nên gọi là TỰ ĐỘ.

Lẽ ra trước khi Xuất Gia thì người tu đã phải hiểu rõ mục đích của Đạo Phật rồi vô Chùa là để có Thầy hướng dẫn, kèm cặp. Thế nhưng do nhiều người đã Xuất Gia mà không nắm vững mục đích tu hành, nên không hiểu được Phương Tiện của Đạo Phật. Vì vậy, công phu tu hành của họ chỉ là Giữ GIỚI cho thật nghiêm chỉnh. Ngồi Thiền cho nhiều suất, nhiều giờ. Tụng cho nhiều biến Kinh... để Cầu Xin Phật Độ khi sống. Lúc chết sẽ được về Tây Phương Cực Lạc... Không Soi, Quán, không biết thế nào là TÂM, thế nào là PHÁP, thế nào là TÁNH… nên khi Ngũ Tổ bảo dùng Trí Huệ để làm Kệ thì không biết gì để làm! Chính Sư Thần Tú là Giáo Thọ cũng như họ, nên không làm Kệ được. Gắng gượng làm, nhưng cũng không biết là đúng ý Tổ, có chút Trí Huệ nào không!

Theo Bài Kệ, thì ta thấy Sư Thần Tú cho Cái THÂN CHÍNH LÀ CỘI GỐC CỦA GIẢI THOÁT. TÂM như đài gương sáng, nên cố gắng TU sửa. Lúc nào cũng cần lau phủi. Đừng để cho nó vướng bụi trần. Lời bài Kệ chứng tỏ Sư chỉ mới phân biệt được THIỆN, ÁC, và ngày ngày đang cố gắng để Cải Ác, hành thiện, giữ cái TÂM cho trong sạch.

Trong khi đó, Bài KỆ của Ngài Huệ Năng chứng tỏ Ngài đã THẤY được cái BỔN THỂ TÂM của mình. CÁI BỔN TÂM này vượt cả trên THÂN VÀ TÂM qua câu: BỒ ĐỀ BỔN VÔ THỌ. MINH CẢNH DIỆT PHI ĐÀI. BỔN LAI VÔ NHẤT VẬT. HÀ XỨ NHÁ TRÂN AI. Có nghĩa là CÁI TÂM GIẢI THOÁT vốn không gốc gác. CÁI CHÂN TÂM không phải là đài gương để chiếu soi vạn pháp. Nó không hình tướng. Trước, sau không có vật gì thì chỗ nào mà vướng bụi trần.

Là bậc Thầy, nên đương nhiên Ngũ Tổ biết Bài kệ của sư Thần Tú chưa Thấy Tánh. Dù vậy cũng không tiện nói giữa đám đông. Canh Ba đêm đó, Ngài gọi sư vô nhà, và cho biết: “Ngươi làm Bài kệ ấy chứng tỏ chưa Thấy Tánh”, và Ngài giảng về Cái TÁNH cho Sư nghe “TÁNH MÌNH CHẲNG SANH, CHẲNG DIỆT, TRONG CẢ THẢY THỜI GIAN, NIỆM NIỆM MÌNH THẤY TÁNH. ĐỐI VỚI MUÔN PHÁP TÂM MÌNH SUỐT THÔNG, KHÔNG NGƯNG TRỆ. MỘT PHÁP MÌNH THẤY, HIỂU THẤU CHƠN TƯỚNG. CẢ THẢY CÁC PHÁP MÌNH ĐỀU HIỂU CHƠN TƯỚNG. ĐỐI VỚI MUÔN CẢNH TÂM MÌNH NHƯ NHƯ. TÂM NHƯ NHƯ TỨC LÀ TÂM CHƠN THẬT. THẤY NHƯ THẾ, ẤY LÀ THẤY TÁNH VÔ THƯỢNG BỒ ĐỀ CỦA MÌNH”.

Dù được giảng giải rõ ràng như thế, nhưng Sư Thần Tú, kể cả chúng ta, không thể nghe lời giảng đó mà Thấy Tánh được, mà chỉ mường tượng, chỉ nắm được một số yếu tố cần thiết để biết về nó. Phải qua quá trình Giữ Giới, Tư Duy, gạn lọc, tìm hiểu mới có thể Thấy được. Kinh thì không có nói rõ cách tìm cái TÁNH. Dù vậy, dựa theo những gì đã học hỏi qua lời Phật, Tổ, cộng với kinh nghiệm bản thân, tôi xin tạm giải thích như sau:

Theo Đức Thích Ca, con người không chỉ là vật chất, là đống xương thịt đã hình thành, đang từng giờ đi vào già suy rồi sẽ chết, mà trong mỗi hình thể HỮU TƯỚNG bằng vật chất trông thấy, sờ được, là CÁI THÂN, con người còn có phần VÔ TƯỚNG. Phần này mới là CÁI THẬT của mỗi người mà Chư Tổ hoặc gọi là TÁNH, hoặc gọi là BỔN THỂ TÂM, hoặc có nơi gọi là LINH GIÁC, TIỂU LINH QUANG vv... Cái này BẤT SINH, BẤT DIỆT, KHÔNG TỐT, XẤU, LÀNH, DỮ, NHƠ, SẠCH. NÓ THẤY HẾT, BIẾT HẾT, NHƯNG KHÔNG VƯỚNG VÀO BẤT CỨ ĐIỀU GÌ. Dù cái Thân có tan rã khác theo Quy Luật: Thành, Trụ, Hoại, Không thì PHẦN VÔ TƯỚNG đó vẫn tồn tại, rồi sẽ nhận lấy một cái THÂN HỮU TƯỚNG khác để TRẢ hay NHẬN những gì nó đã làm khi còn ở Thân trước. Do vậy mà có Luân Hồi và có hiện tượng Giàu, nghèo, sướng, khổ, được hưởng hoặc chịu đọa ở cõi đời mà nếu chỉ nhìn vào hiện kiếp chúng ta không thể nào giải thích được.

Thật vậy. Bình thường, khi tay đưa, chân bước, vừa nghĩ đã nói hoặc làm, chúng ta không để ý. Nhưng khi Ngồi Thiền, tức là trói cái Thân ngồi một chỗ. Tay Chân không còn hoạt động. Lúc đó ta mới thấy có một cái rất linh hoạt vẫn tiếp tục trong cái Thân này. Nó không bắt cái Thân chạy, nhảy, tới, lui được thì nghĩ ra đủ thứ chuyện, tưởng tượng đủ thứ cảnh. Lúc đó ta thấy rõ ràng cái THÂN chỉ là tai sai, như một con RỐI, mà cái linh hoạt này mới là chủ nhân điều khiển. Cái này Đức Thích Ca gọi đó là Cái VỌNG TÂM hay là CÁI TÂM MÊ LẦM. Hoặc nếu gọi đó là CÁI BIẾT, thì nó là CÁI BIẾT MÊ LẦM.

Tại sao gọi đó là CÁI TÂM MÊ hay CÁI BIẾT MÊ LẦM? Tại vì nó nhận lầm cái THÂN giả tạm, kết hợp bằng Đất, Nước, Gió, Lửa, thời gian nào sẽ phải hư hoại mà TƯỞNG ĐÓ LÀ MÌNH. Trong khi đó, CÁI MÌNH THẬT hay là BỔN THỂ TÂM vốn VÔ TƯỚNG, BẤT SINH, BẤT DIỆT, KHÔNG Ô NHIỄM, KHÔNG THIỆN, ÁC, TỐT XẤU, SƯỚNG, KHỔ nào chi phối được.

Chia chẻ CÁI TÂM thêm một tầng nữa thì Đức Thích Ca thấy rằng: Lẽ ra CÁI CHÂN TÂM đó THẤY HẾT, BIẾT HẾT như Hư Không, chứa đầy đủ muôn vật mà không thương hay ghét riêng một vật nào. Nhưng vì bị nhốt vào trong cái THÂN, nên nó nhìn mọi thứ xuyên qua cái THÂN, và những gì đến với cái Thân thì nghĩ là đến với nó nên sinh những phản ứng THƯƠNG, GHÉT, GIẬN, HỜN, SÂN SI. Như ánh sáng bị nhốt vào trong cái Bóng đèn, chỉ chiếu qua cái bóng đèn. Tùy theo cái bóng đèn màu gì, sạch hay dơ, mà ánh sáng chiếu ra sẽ mang màu sắc đó, và sáng nhiều hay ít là do cái bóng dơ hay sạch.

Cái THẤY HẾT, BIẾT HẾT mà không bị nhiễm vương, dính mắc, đó là cái CHÂN TÁNH hay BỔN THỂ TÂM mà người tu TÌM ĐƯỢC, THẤY ĐƯỢC, thì thấy không phải là điều gì mới lạ. Chính vì vậy, Ngài Huệ Năng đã diễn tả cái ngạc nhiên của mình khi nhận ra:

Nào dè TÁNH mình vốn tự nhiên trong sạch

Nào dè TÁNH mình chứa đầy đủ muôn pháp

Nào dè TÁNH mình vốn không lay động

Nào dè TÁNH mình có thể sinh ra muôn Pháp.

Chỉ có con người là giống HỮU TÌNH thì mới có thể nhận được hạt giống Trí Huệ để làm cho nó phát triển thêm. Vì vậy, Ngũ Tổ truyền bài Kệ cho Lục Tổ:

Hữu tình gieo giống xuống

Nhờ đất trái bèn sanh

Vô tình không có giống

Vô Tánh ắt không sanh.

Và Ngài truyền Y Bát cho Lục Tổ với lời dặn dò: “Ngươi là Tổ Thứ Sáu. Hãy giữ gìn và nhớ lấy Đạo Tâm của mình. Phải quảng độ chúng hữu tình và truyền cái Chánh Pháp cho đời sau, đừng để đoạn tuyệt”. Sau đó, Ngũ Tổ phải đưa Ngài trốn đi, vì nếu những người trong Chùa biết được Y Bát được trao cho Lục Tổ ắt tính mạng Ngài sẽ lâm nguy. Ngũ Tổ dặn Lục Tổ: “Dấu Y Bát đi, chỉ lấy Tâm truyền Tâm, để người nghe tự mình hiểu biết. Từ xưa, Chư Phật cũng chỉ truyền cái Bổn Tánh, là cội rễ của Các Pháp, và chỉ trao kín cái Bổn Tâm mà thôi. Áo là mối tranh chấp, không nên truyền nữa”.

Khi trong Chùa biết được tin Ngài Huệ Năng được truyền Y Bát và trốn đi rồi, thì cả đám ùn ùn kéo nhau truy đuổi để dành lại. Trong đám có một cựu quan Tứ Phẩm tên là Huệ Minh đuổi theo kịp. Ngài Huệ Năng sợ quá liền lấy Y bát để trên tảng đá rồi nói: “Cái áo này là vật làm tin, há dùng sức mà tranh được sao”, rồi núp trong đám cỏ tranh. Huệ Minh đến cầm lấy chiếc áo, giở lên, nhưng chiếc áo không nhúc nhích mới hoảng sợ kêu lên rằng ông ta đến vì Pháp chớ chẳng phải vì áo. Ngài Huệ Năng nghe thế mới bước ra, ngồi xếp bằng trên tảng đá. Huệ Minh bèn làm lễ, xin được nghe Pháp. Ngài Huệ Năng bảo: Ông vì Pháp mà đến đây, khá dứt hết trần duyên, chớ sanh một niệm tưởng, tôi sẽ nói Phật Pháp cho nghe”. Tổ dạy: “Chẳng nghĩ việc lành, không nghĩ điều dữ, chính trong thời gian đó, Cái ẤY, tức là tỏ cái Bổn Lai Diện Mục của bậc Thượng Tọa vậy”.

Huệ Minh nghe qua cũng không thể hiểu, nên hỏi Lục Tổ: “Ngoài ý chỉ mật nhiệm do trên truyền xuống xưa nay, còn có ý chỉ mật nhiệm nào nữa không” Ngài Huệ Năng nói: “Nếu ông hồi quang phản chiếu thì sẽ thấy chỗ mật nhiệm đó ở trong ông”. Huệ Minh lúc đó mới hiểu ra, xin thờ Lục Tổ làm Thầy. Nhưng Ngài không nhận, bảo cả hai cùng thờ Ngũ Tổ.

Qua lời của Lục Tổ dặn dò Huệ Minh trước khi giảng pháp ta cũng rút ra được một kinh nghiệm cho mình, là: muốn nghe Pháp thì phải DỨT HẾT TRẦN DUYÊN, CHỚ SANH MỘT NIỆM TƯỞNG. Do vậy, nếu ta cứ đi nghe Pháp mà lòng đầy lao xao, tính toán mà Đạo Phật gọi là TẠP NIỆM ắt sẽ không hiểu được gì!

Thứ nữa là MẬT NHIỆM mà trước đây mọi người vẫn tưởng nó là huyền bí, linh thiêng ở đâu đâu thì Lục Tổ bảo với Huệ Minh: “NẾU SOI TRỞ VÀO TRONG (Nội quang phản chiếu) thì sẽ thấy chỗ mật nhiệm đó ở trong ông. “NỘI QUANG PHẢN CHIẾU” là hướng đúng khi quán sát, Tư Duy mà chúng ta có thể đối chiếu để biết mình đang đi đúng hay sai hướng trên Phật Đạo.

Mục đích của Đạo Phật là để Thoát Khổ, Thoát Sinh Tử Luân Hồi. Đức Phật cho là vòng Sinh Tử Luân Hồi chính là THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN, bắt đầu bằng VÔ MINH, kéo theo 11 cái Duyên khác. Như thế, muốn Thoát SINH TỬ LUÂN HỒI người tu phải tìm cách thức để hóa giải, biến VÔ MINH thành TRÍ HUỆ sáng suốt để chặt đứt cái vòng này. Khi hết VÔ MINH, tức là không còn thấy cái THÂN là TA, mà Biết nó là cái Thân Nghiệp mà ta đã gây tạo, chỉ ở bên ta hết một kiếp rồi trở về với Tứ Đại, thì thay vì từ trước đên giờ ta toàn sống theo nó, chiều theo mọi cảm xúc của nó. Suốt cuộc đời chỉ chạy theo sự sai khiến của nó để tranh giành địa vị, tiền bạc, của cải để cung phụng cho nó. Giờ khi biết ra thì nó trở thành nô lệ cho ta. Ta lấy lại vị trí chủ nhân để điều khiển nó. Lúc đó, từ Sáu Tên Giặc (Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý) trước kia bao giờ cũng tìm cầu, đòi hỏi, quấy phá, làm cho ta không bao giờ yên trở thành 6 trợ thủ đắc lực để đưa ta đến bến bờ yên vui.

Việc điều phục Lục Căn. Chuyển Sáu tên cướp hung hăng thành vô hại như sáu đứa trẻ thơ mà ta thấy người xưa đã dùng hình ảnh một ông bụng to, ngồi cười thoải mái, quanh mình là 6 đứa trẻ leo trèo, đùa giỡn, được cho là ĐỨC DI LẶC. Kinh Lăng Nghiêm dạy: “CHỨNG THÁNH HAY ĐỌA PHÀM CŨNG DO LỤC CĂN”. Hình ảnh đó nói về sự thành tựu của người tu hành. Cho nên, muốn tu hành, không cần phải lên non cao, động vắng. Cũng chẳng cần khổ hạnh, chay lạt, cạo tóc, đắp y, giữ hàng mấy trăm Giới. Cũng chẳng phải bỏ nhà cửa, cha mẹ, không được có vợ, chồng, con, cái. Không được làm ăn. Cũng chẳng cần Ngồi Thiền ngày mấy suất, cả ngày phải tập trung tư tưởng, không dám nghĩ gì, vì sợ “Thất Niệm”! Bởi nếu tối ngày diệt hết tư tưởng thì hóa ra tu hành để trở thành một kẻ vô hồn, chẳng còn phân biệt tốt, xấu, đúng, sai, trở thành xác chết biết đi hay sao? Chỉ cần điều phục Lục Căn, mà chủ tướng của Lục Căn lại là cái VỌNG TÂM. Chuyển hóa Cái Vọng Tâm xong rồi thì sẽ không còn bị nó lôi ta đi tạo Nghiệp. Trái lại, còn tạo Thiện Nghiệp. Cái Thân ta trước khi tu hành thì Phật dạy phải xem nó là “oán tặc”, vì toàn dắt ta tạo Ác Nghiệp, để rồi vô lượng kiếp trôi lăn, chìm nổi trong vòng Luân Hồi. Sau khi điều phục Cái Tâm xong rồi thì chính Cái Thân lại là ân nhân dắt người tu qua Bờ Giải Thoát. Nhờ có THÂN ta mới học được Đạo Lý. Có Mắt mới đọc được những lời giáo hóa của Chư Vị Giác Ngộ. Có Tai để nghe thuyết Pháp. Có đầu óc để tư duy, phân tích, nhận thức, giúp ta nhận rõ những điều nên làm, nên tránh. Có chân tay để làm mọi việc tốt đẹp cho mình, cho người.

Người tu hành xét mình như thế thì sẽ không còn SI. Khi không còn lệ thuộc cái Thân, đương nhiên sẽ bớt đi những thói xấu Tham, Sân, vì những điều này cũng do Tưởng Cái Thân chính là Mình mà ra. Khi biết rằng ta, người đều chỉ có mặt ở trần gian nhiều lắm là trăm năm, rồi khi hết Nghiệp, hết Duyên, sẽ trả tất cả lại, không mang theo được gì, thì mọi người sẽ yêu thương nhau, nương nhau mà sống. Bớt đi Tham Lam, ích kỷ, tranh dành cao, thấp, phải, trái, hơn thua… thì gia đình, hàng xóm cũng sẽ giảm những bất ổn. Nhiều người như thế thì xã hội sẽ bớt đi hỗn loạn. Cuộc sống sẽ được an bình. Mọi người sẽ cũng chung tay vun đắp, xây dựng cho xã hội, đất nước ngày càng giàu, đẹp hơn. Nước này không còn dành dân, lấn đất của nước khác thì trái đất sẽ không còn chiến tranh gieo tang tóc đau thương, con mất cha, vợ mất chồng nữa. Mọi người sẽ được sống trong hòa bình an cư, lạc nghiệp cho đến hết kiếp. Đó là Niết Bàn tại thế mà Đức Phật mong muốn đem lại cho tất cả mọi người, và đó cũng mục đích của Đạo Phật. Các Cõi Phật ở Đông Phương, Tây Phương chỉ là Phương Tiện Đức Thích Ca dùng để con người vì mơ ước cho tương lai, mà sống tốt đẹp ngay hiện kiếp, để tất cả đều được an lạc. Không phải ở kiếp nào khác mà phải chờ khi chết đi mới được về đó vậy.


... CÒN TIẾP ...




Quay Lên Đầu Trang