Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



CÓ MỘT CUỐN SÁCH NHƯ THẾ ĐÓ


KINH THÁNH MỘT KHO TÀNG BẤT TẬN





            Quyển Hạ - (Nhị tập)


3.2 Vũ điệu

1. Vũ điệu thánh được ghi nhận trong Thánh Kinh:

Thiên Chúa chí tôn luôn được Dân thánh tán dương, chúc tụng, ngợi khen… Họ ca tụng Chúa bằng những cuộc tập họp để cử hành lễ hội, bằng lời ca, tiếng hát, nhạc cụ và vũ điệu nữa:

- "Ca tụng Chúa đi trong đền thánh Chúa,

Ca tụng Người chốn cao thẳm uy linh;

Ca tụng Chúa vì công trình hùng vĩ

Ca tụng Người lẫm liệt oai phong.

Ca tụng Chúa đi, rập theo tiếng tù và

Ca tụng Người, họa tiếng cầm tiếng sắt

Ca tụng Chúa bằng vũ điệu trống đưa

Ca tụng Người theo cung đàn nhịp sáo

Ca tụng Chúa đi với chũm chọe vang rền

Ca tụng Người cùng thanh la inh ỏi.

Hỡi toàn thể chúng sinh, ca tụng Chúa đi nào – Hallêluia !" (Tv 150)

- "Mừng Thánh danh nào dâng điệu vũ

Nhịp trống họa đàn theo khúc hoan ca" (Tv 149,3)

- "Mừng Ngài con hân hoan nhảy múa. Đàn hát kính danh Ngài, Lạy Đấng Tối Cao" (Tv 9,3)

- "Hỡi những người công chính

Hãy vui lên trong Chúa,

Hãy nhảy mừng" (Tv 31,11)

- "Thiếu nữ bấy giờ vui nhảy múa

Trẻ già cùng mở hội tưng bừng" (Gr 31,13)

- Cuộc rước Hòm Bia Thánh về Giêrusalem: "Vua Đavít và toàn thể nhà Israel nhảy múa trước nhan Đức Chúa với mọi thứ nhạc cụ bằng gỗ trắc bá, với đàn cầm, đàn sắt, trống con, chũm chọe, thanh la…" (2S 6,5).

- "Vua Đavít quấn êphốt vải gai nhảy múa hết sức mình trước nhan Đức Chúa. Vua Đavít cùng toàn thể nhà Israel rước Hòm Bia Chúa lên giữa tiếng hò reo với tiếng tù và…" (2S 6,14-15).

"Khi Hòm Bia Chúa vào thành vua Đavít, bà Mikhan, con gái vua Saun (vợ vua Đavít) từ cửa sổ nhìn xuống, thấy vua Đavít nhảy múa quay cuồng trước nhan Đức Chúa thì sinh lòng khinh dể… (khi lễ nghi hoàn tất, vua Đavít về nhà chúc lành cho người nhà mình thì bà Mikhan trách vua), Đavít trả lời: "Trước nhan Đức Chúa, Đấng đã chọn tôi thay thân phụ bà… Trước Thánh nhan Chúa, tôi sẽ vui đùa, tôi sẽ còn hạ mình hơn nữa…" (Chúa đã ưng nhận thái độ của vua Đavít, và đã phạt bà Mikhan bằng cách không cho bà một mụn con nào cho đến chết) (2S 6,14-23).

2. Vũ điệu trong các lễ nghi của đạo (các lễ nghi đều có cơ sở trong Thánh Kinh):

Trên thế giới có nhiều dân tộc mà cuộc sống của họ gắn liền với vũ điệu, khi thể hiện niềm tin Kitô giáo, họ cũng dùng vũ điệu để cử hành và tuyên xưng Đức tin – Trước tiên phải kể các dân Công giáo Phi châu thường chen các điệu vũ vào việc cử hành các nghi lễ mà họ gọi là vũ thánh, thí dụ: cử hành một vũ khúc khi dâng lễ vật lên bàn thờ.

Các dân tộc thiểu số ở vùng cao miền Bắc và Tây nguyên dùng cồng, chiêng với nhịp đi nhún nhảy trong các cuộc rước hoặc khi dâng lễ vật… Với dân tộc Kinh (Công giáo Việt Nam), nhiều hình thức vũ điệu được cử hành trong các nghi lễ - Thí dụ:

- Múa khi dâng lễ vật.

- Múa trong các cuộc rước khi sử dụng phường trống, đội trắc…

- Múa khi dâng hoa (nghi thức dâng hoa cho Đức Mẹ vào tháng Năm).

- Múa dâng hạt trong các buổi ngắm đứng (thường diễn ra sau khi suy niệm 5 hoặc 15 sự Thương khó Đức Chúa Giêsu).

3.3 Tuồng kịch

"Tính" tuồng kịch hay hình thức tuồng kịch đã hàm chứa trong các buổi cử hành tôn giáo của đạo Kitô ngay từ thời sơ khai (thế kỷ 1-2), được triển khai, hoàn thiện từng bước tới nay trên toàn thế giới Thiên Chúa giáo và sẽ kéo dài đến tận thế.

a. Thánh lễ: Ở một khía cạnh nào đó, Thánh lễ cũng giống như một nhạc kịch, có mở màn, có diễn tiến, có các nhân vật với những cử điệu, lời thoại đối đáp, hoạt động khác nhau: chủ tế, giúp lễ, các thừa tác viên, ca đoàn, cộng đoàn… có cao trào và có bế mạc…

Hiện nay trên toàn thế giới, trung bình cứ mỗi phút qua đi là có 2 Thánh lễ bắt đầu. Như vậy Thánh lễ diễn ra liên tục từ ngàn năm này tới ngàn năm khác.

b. Các bản tường thuật trong Thánh Kinh về những biến cố quan trọng như sáng thế, dân Do Thái qua Biển Đỏ, về cuộc đời của những nhân vật trọng yếu như Abraham, Môsê, Đavít, các tiên tri… nhất là Chúa Giêsu, đều như là những kịch bản đã viết sẵn, chỉ chờ được diễn. Trong thực tế những bản văn đó đã được "kịch" hóa và trình diễn khắp nơi trên thế giới.

Tại Việt Nam không một lễ Giáng Sinh nào mà không có những hoạt cảnh về việc Thánh Giuse và Đức Mẹ tới Bethlehem và Đức Mẹ sinh Chúa tại đó trong một hang đá ngoài cánh đồng… Không có Tuần Thánh (tuần giáp lễ Phục Sinh) nào mà thiếu những cuộc cử hành "đi chặng Đàng Thánh giá", hoặc những cuộc kiệu bắt, những tái hiện cảnh đóng đinh và an táng Chúa Giêsu… Ngoài ra biết bao đoạn Tin Mừng đã được "kịch" hóa trên sân khấu như: chuyện người phú hộ và Lazarô, chuyện người Samaritanô nhân hậu, chuyện đứa con hoang đàng…

Tuồng kịch Công giáo tại Việt Nam:

Giải trí là một nhu cầu khẩn thiết của mọi người, mọi thời ở mọi tầng lớp từ cung đình cho đến nhân dân lao động. Tuồng hay kịch thuộc văn hóa giải trí và là bộ môn văn nghệ cấp cao nên đã giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc giải trí cho mọi người.

Tuồng kịch ở nước ta đã có từ lâu, những vở tuồng nổi tiếng như Sơn Hậu, Ngự Văn Quân, Nhạc Hoa Linh, Sơn Hồ Ngọc, Lý Thiên Long… Các vở tuồng soạn theo truyện như Phong Thần, Tam Quốc, Thuyết Đường, Bắc Tống, Quan Âm Thị Kính, Truyện Kiều…

Trong những vở tuồng trên, có nhiều vở hay nhưng cũng có những vở bị phê phán, không phải chỉ các nhà lãnh đạo Công giáo mà cả những nhà Nho đạo đức nữa. Ca dao đã có câu:

"Đàn ông chớ kể Phan Trần

Đàn bà chớ kể Thúy Vân Thúy Kiều"

(Truyện Kiều có một thời bị coi là dâm thư)

Vì thấy tuồng kịch của xã hội có nhiều yếu tố không thích hợp với đời sống giáo dân nên từ thế kỷ 19, các vị lãnh đạo Công giáo đã nhận thấy phải có tuồng kịch Công giáo để đáp ứng nhu cầu giải trí của giáo dân và các vở tuồng Công giáo đã lần lượt ra đời. Sau đây là 20 vở tuồng trích trong cuốn "Sơ Thảo Thư Mục Công giáo" do Linh mục Trần Anh Dũng xuất bản tại Paris năm 1992, từ trang 342-349 (số liệu ghi ở đầu mỗi tuồng là số thứ tự ghi trong dẫn chiếu):

- 2109 – Cêcilia Tuồng, Sàigòn, Impr. De la Mission, 1899, 16 trang: 18cm.

- 2113 – Chúa Hài Đồng (kịch thơ ba màn),Vị Thủy, Sàigòn, Nguyệt san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp số 80, tháng 1/1956.

- 2114 – Chúa Hài Đồng Gọi (kịch), Jacques Lê Văn Đức, Eugène Đinh Văn Sắt, Quy Nhơn, Impr. de la Mission, 1924, 31 trang: 18cm.

- 2118 – Đavid Thánh Vương Nhứt Tấn, Sàigòn, Impr. de la Mission 1899, 76 trang: 18cm.

- 2122 – Gioang Lều Nhứt Tấn, Sàigòn, Impr. de la Mission, 1889, 62 trang: 18cm.

- 2132 – Ông Gióp Nhất Tấn, Sàigòn, Impr. de la Mission, 1899, 31 trang: 18cm.

- 2137 – Tiếng Chúa Gọi Bà Jeanne D'Arc (tuồng), Lê Văn Đức, Quy Nhơn, Impr. de la Mission, 1929, 22 trang: 17cm.

- 2145 – Trước Cửa Thiên Đàng (tuồng cho đồng nhi nữ), Jacques Lê Văn Đức, Quy Nhơn, Impr. de la Mission,1923, 38 trang: 17cm.

- 2148 – Tuồng Bà Thánh Xêxilia, Đỗ Trí Cơ, Quy Nhơn, Impr. de la Mission, 1922, 40 trang: 18cm.

- 2149 – Tuồng Cha Chúc Dữ Cho Con, G. Thơ dịch, Sàigòn, Impr. de la Mission, 1922, 85 trang: 18cm.

- 2151 – Tuồng Đức Mẹ Lộ Đức, kỷ niệm đệ nhất bách chu niên Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức (1858-1958), Vũ Hòa Đức, nhà sách Thánh Gia, 1959, 78 trang: 21cm.

- 2152 – Tuồng Joseph, Trương Minh Ký, Sàigòn, bản in nhà hàng Rey et Curtol, 1888, 16 trang: 18cm.

- 2153 – Tuồng 10 Điều Răn Đức Chúa Trời, Sàigòn, Impr. Joseph Viết, 1927, 42 trang: 15cm.

- 2154 – Tuồng Sinh Nhật : Mục Đồng Đi Tìm Chúa Giêsu, Kontum, trường Á Thánh Xitêphanô Thể, 1912, 76 trang: 19cm.

- 2155 – Tuồng Thánh Eutakiô, Vợ Con Cùng Các Bạn Tử Đạo, cha Thomas Thi dọn, Quy Nhơn, Impr. de la Mission, 1925, 88 trang: 17cm.

- 2156 – Tuồng Thánh Gioan và Chúa Cứu Thế, cha Sébastien Chánh dọn, cha François Xavier Truyền sửa lại, Quy Nhơn, 1926, 83 trang: 17cm.

- 2157 – Tuồng Thánh Trẻ Vitô Tử Đạo, cha Thomas Thi dọn, Sàigòn, Impr. de la Mission 1912, 82 trang: 18cm.

- 2158 – Tuồng Thương Khó, cha J.B Nguyễn Bá Tòng dọn theo sách Gẫm Sự Thương Khó và tuồng Thương Khó đã làm tại Oberammergau và thành Nancy, Sàigòn, Impr. de la Mission, 1912, 82 trang: 18cm.

- 2159 – Tuồng Thương Khó, Jacques Lê Văn Đức dọn theo tuồng Thương Khó của cha J.B Tòng, cha Anrê Miều ra công khó giúp, cha Sébatien Chánh lãnh sự dọn mấy bài hát, Quy Nhơn, Impr. de la Mission, 1926, 142 trang: 18cm.

(Thư tịch Hán Nôm Công giáo –Tuồng Đavít Thánh Vương, Nguyễn Huy Hùng, Lê Bảo Tịnh phiên âm và chú giải,

NXB Dũng Lạc Houston USA 1998)

***

3.4 Kiến trúc

Nói tới tôn giáo thì cũng phải nói tới nơi thờ tự, không một tôn giáo nào mà không có nơi thờ tự. Đối với Thiên Chúa giáo, từ thời thủ lãnh Môsê (thế kỷ 13 trước Công nguyên), đã bắt đầu có nơi thờ tự nhất định. Thánh Kinh viết: "Ông Môsê lấy một chiếc lều và đem dựng cho mình bên ngoài trại, cách một quãng xa, ông gọi lều ấy là Lều Hội Ngộ. Ai thỉnh ý Đức Chúa thì ra Lều Hội Ngộ"

(Xh 33,7).

Đến thời vua Đavít (thế kỷ 10 trước Công nguyên), ngài có ý định xây Đền thờ cho Chúa: "Vua nói với ngôn sứ Nathan: Ông xem tôi được ở nhà bằng gỗ bá hương, còn Hòm Bia Thiên Chúa thì ở trong lều vải" (2S 7,2). Ý vua rất chân thành nhưng Đức Chúa không cho phép (vì tay vua dính quá nhiều máu trong các cuộc chiến) mà dành vinh dự ấy cho người kế vị là vua Salômon. Sau khi mọi việc trong ngoài đã yên ổn, vua nghĩ ngay tới việc xây Đền thờ cho Đức Chúa: "Trẫm nghĩ phải xây một Đền thờ kính Danh Đức Chúa, Thiên Chúa của trẫm…" (1V 5,19).

Đền thờ đầu tiên do vua Salômon xây: "dài 30 thước, rộng 10 thước, cao 10 thước, tiền đình trước cung thánh của Đền thờ dài 10 thước, rộng 5 thước…" (1V 6,2-4). Đền thờ không lớn nhưng được xây dựng và trang hoàng bằng những vật liệu quý giá của cả nước: "Bên trong cung thánh được ghép toàn bằng gỗ bá hương cực quý hiếm và chạm trổ rất tinh xảo… Nơi cực thánh dài 10 thước, rộng 10 thước, cao 10 thước vua dát vàng ròng… vua dát vàng ròng phía trong cung thánh, trước nơi cực thánh cũng dát vàng ròng… tất cả Đền thờ vua đều dát vàng không trừ một chỗ nào, bàn thờ nơi cực thánh vua cũng dát toàn vàng" (1V 6,18-22). Công trình xây dựng 7 năm mới xong (1V 6,37).

Vật dụng trong Đền thờ được liệt kê như sau: "Vua Salômon đã làm tất cả các vật dụng cho Đền thờ Đức Chúa: bàn thờ bằng vàng, bàn đặt bánh tiến cũng bằng vàng, các chân đèn: 5 chiếc bên phải và 5 chiếc bên trái trước nơi cực thánh tất cả bằng vàng ròng, hoa đèn, kéo cắt bấc đều bằng vàng, chén, dao, bình rảy, bình hương, khay đựng tro bằng vàng ròng. Các chốt cánh cửa Đền thờ bên trong, tức là nơi cực thánh và các chốt cánh cửa Đền thờ tức là cung thánh cũng bằng vàng ròng" (1V 7,48-51).

Đền thờ Giêrusalem trải qua nhiều thế kỷ cùng với sự hưng vong của dân tộc Do Thái, nhiều lần bị xâm lăng và Đền thờ là đối tượng đầu tiên để cướp phá. Cho tới thời vua Hêrôđê Cả, Đền thờ được xây dựng lại lộng lẫy không kém xưa; bằng chứng hiện nay còn bức tường "than khóc" với những khối đá hàng chục tấn chồng lên nhau.

Có lần Đức Giêsu đã xua đuổi những người buôn bán ra khỏi sân Đền thờ, họ cự lại và hỏi: "Ông lấy dấu nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy ông có quyền làm như thế? Đức Giêsu đáp: Các ông cứ phá Đền thờ này đi, nội 3 ngày tôi sẽ xây dựng lại. Người Do Thái nói: Đền thờ này phải mất 46 năm mới xây xong, thế mà nội trong 3 ngày ông xây lại được sao?..." (Ga 2,18-20). Đền thờ Thiên Chúa thời Cựu Ước thì chỉ có một ngôi duy nhất mặt tiền quay về hướng Đông, nhưng mỗi làng, mỗi thành… đều có Hội đường, nơi người Do Thái tập họp vào ngày thứ Bảy để cầu nguyện, ca hát ngợi khen Chúa và lắng nghe đọc và giải thích Lời Chúa. Các Hội đường đều có mặt tiền quay về hướng Đông. Một trong những Hội đường mà Chúa Giêsu hay đến để cầu nguyện và giảng dạy là Hội đường Caphanaum, hiện nay còn phế tích, đó là một công trình kiến trúc bằng đá rất đẹp (xem hình).

Đối với Giáo Hội Công giáo, thuở sơ khai cũng lấy Hội đường Do Thái làm nơi quy tụ, nhưng chỉ ít lâu sau Giáo Hội Công giáo tách ra khỏi Hội đường Do Thái, lấy những ngôi nhà tư rộng rãi của giáo dân làm nơi quy tụ. Sách Tông Đồ Công vụ kể: "Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với nhau đơn sơ vui vẻ" (Cv 2,46).

Sau thời kỳ bị cấm cách, bắt bớ… tới thời vua Constantin (đầu thế kỷ 14), đạo Công giáo được tự do phát triển, tín hữu càng ngày càng đông, nhu cầu xây cất Thánh đường là thiết yếu. Vua Constantin trở lại đạo Công giáo và bắt tay ngay vào việc xây cất Đền thờ Phêrô ngay trên mộ của ngài. Mẹ của vua là Thánh nữ Hêlêna, một tín hữu rất sùng đạo, bà đã sang Đất Thánh tìm được Thánh giá của Chúa Giêsu và nhiều thánh tích khác đem về Roma, như là các mảnh gỗ của máng cỏ Bethlehem. Các bậc thang gỗ Chúa Giêsu đã bước lên để gặp ngài Tổng trấn Philatô trong cuộc xử án, cũng chính bà đã ra lệnh xây Nhà thờ Giáng Sinh và 7 ngôi Nhà thờ khác ở Đất Thánh và ở Roma. Các Nhà thờ bà xây ở Đất Thánh, những thế kỷ sau, vua Hồi giáo đem quân sang chiếm Đất Thánh và cả một phần châu Âu, đã phá hủy hết chỉ trừ ngôi Nhà thờ Giáng Sinh, lý do là ở đây có một bức họa Ba Vua tới thờ lạy Chúa Hài Nhi, mà cách trang phục giống như các vua Ả Rập nên họ để nguyên, nhưng trang trí nội thất lại bằng những chữ Ả Rập theo phong cách của Đền thờ Hồi giáo, và dùng làm Đền thờ của họ trong nhiều thế kỷ.

Kể từ thời vua Constantin, Giáo Hội Công giáo lan rộng tới đâu là xây cất Thánh đường tới đó. Cho tới nay thì đã có không biết là bao nhiêu Nhà thờ, Nhà nguyện, Đền thánh lớn, nhỏ trong gần 200 nước trên thế giới suốt quãng thời gian 2.000 năm, từ khi đạo Công giáo ra đời.

Trên đất nước Việt Nam hiện nay có 26 Giáo phận và có khoảng 10.000 Nhà thờ, Nhà nguyện, Đền thánh lớn nhỏ, chưa kể con số Nhà thờ được xây dựng rồi tàn rụi sau lại được tái thiết… từ gần 5 thế kỷ tới nay.

Hiện nay có nhiều Nhà thờ nổi tiếng khắp ba miền đất nước: Trong Nam có Nhà thờ Đức Bà thành phố Hồ Chí Minh; Huế có Nhà thờ Phủ Cam, Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế; Kontum có Nhà thờ Gỗ; miền Bắc có Nhà thờ Chính tòa Hà Nội, Nhà thờ Phú Nhai (lớn nhất Đông Dương), Nhà thờ và xứ đạo Đường Lâm, được xếp di tích văn hóa quốc gia và nhất là Nhà thờ Đá Phát Diệm, một công trình kiến trúc hội nhập văn hóa nổi tiếng cả thế giới, được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa (quyết định số 28-VH/QĐ ngày 18/1/1988), do Linh mục Phêrô Trần Lục xây dựng từ 1891-1899.

Khuôn viên Nhà thờ Phát Diệm dài 200m, rộng 110m, có tường bao bọc, trên vuông đất này có nhiều công trình như hồ ao, Phương Đình, Nhà thờ lớn, 4 Nhà thờ nhỏ bên cạnh, Nhà thờ Đá và 3 hang núi đá nhân tạo.

Phương Đình:

Qua cổng đá, khách vào sân lát toàn gạch ngang dọc và đường kiệu lát đá thước xanh (thước đây là thước ta bằng 40cm; những viên đá này rộng 40cm, dài từ 40cm đến 120cm), đây đó trồng nhãn rợp bóng mát. Bước vào sân, người tín hữu bắt đầu cảm thấy tâm hồn trầm lắng xuống, sẵn sàng đi vào cầu nguyện. Khách có thể đi thăm Phương Đình trước hết. Phương Đình hoàn thành năm 1899, là công trình sau cùng của Cụ Sáu, theo ý kiến của nhiều người, là kiệt tác trong toàn bộ khu này. Đứng ở sân rộng phía Nam mà ngắm, khách có cảm tưởng một cái gì đồ sộ vững chắc, đồng thời hoàn hảo về mặt nghệ thuật kiến trúc. Trong sân này, từ năm 1991 có đặt tượng 2 vị Thánh Quan thầy Giáo phận Phát Diệm: Thánh Phêrô (phía Tây) và Thánh Phaolô (phía Đông).

Phương Đình có nghĩa là "nhà vuông", hình dáng như cái đình làng rộng lớn mà trống trải, kích thước gần như vuông: chiều ngang 24m, sâu 17m, cao 25m, có 3 tầng. Tầng dưới lớn nhất, xây toàn bằng đá xanh vuông vắn, chia thành 3 lòng, trong mỗi lòng có 1 sập đá. Sập đá ở lòng giữa to nhất, là 1 khối dài 4,20m, rộng 3,20m, dày 0,30m, tương truyền là sập rồng của vua thời Nhà Hồ ở thành Tây Giai (Thanh Hóa) ngày xưa. Trên các vách có phù điêu bằng đá, tạc một số vị Thánh. Cũng đáng để ý những chấn song đá hình cây trúc. Trên các vách ngoài của tầng dưới có những phù điêu tạc sự tích Chúa Giêsu, từ khi Chúa vào thành Giêrusalem đến khi Chúa lên trời. Ở mặt chính, phía Nam, có khắc 4 đại tự "Thánh Cung Bảo Tòa", (nghĩa là Tòa quý của nơi Thánh), còn mặt phía Bắc mang những chữ Latinh "Capella in coena Domini", (nghĩa là Nhà nguyện Tiệc ly của Chúa). Những chữ khắc đó nhắc cho ta nhớ rằng ngày xưa Phương Đình dùng làm tòa đặt Mình Thánh để chầu trong ngày Thứ Năm Tuần Thánh, kỷ niệm bữa Tiệc ly. Hai bên 4 chữ "Thánh Cung Bảo Tòa" có những hàng chữ Hán nhỏ hơn, dịch "Ngày Thứ Năm Tuần Thánh, năm Kỷ Hợi, niên hiệu Thành Thái" (tức năm 1899).

Qua một cầu thang đá hẹp, khách lên tầng giữa, cũng bằng đá, ở đây đặt một trống cái, chỉ dùng các ngày Chúa nhật và lễ lớn cùng với chuông. Ở 4 góc tầng này là 4 tháp nhỏ có mái cong, trên đỉnh là tượng 4 vị Thánh chép sách Tin Mừng: Tháp phía Đông-Nam là Thánh Marcô, Tây-Nam là Thánh Luca, Đông-Bắc là Thánh Gioan và Tây-Bắc là Thánh Matthêô. Một cầu thang gỗ đưa lên lầu trên cùng, bằng gỗ, có mái, nơi đặt quả chuông Nam cao 1,90m, đường kính 1,10m, nặng gần 2 tấn. Trên 4 mặt ngoài có khắc chữ Hán và Latinh. Một mặt chữ Latinh ghi: "Thánh Maria, Thánh Giuse, Thánh Gioan Tẩy Giả. Năm Chúa Giáng Sinh 1890"; mặt khác ghi lời chuông nói: "Tôi ca tụng Chúa thật, tôi kêu gọi dân chúng, tôi tập hợp giáo sĩ, tôi khóc người qua đời, tôi đẩy lui dịch tễ, tôi điểm tô ngày lễ". Trên mặt chuông còn ghi 2 dòng chữ Hán: "Thành Thái Canh Dần tạo" (Làm năm Canh Dần, thời vua Thành Thái). Hơn 100 năm nay, sáng chiều chuông vẫn ngân vang, âm thanh vọng đi xa, có khi đến 10km, để nhắc nhở người tín hữu nâng tâm hồn lên cầu nguyện với Chúa. Từ tầng cao nhất này, khách có thể nhìn bao quát chung quanh: gần hơn là Ao Hồ, Nhà thờ Lớn và các Nhà thờ cạnh; xa hơn có thể đếm được khoảng 20 nóc Nhà thờ vùng Kim Sơn; xa hơn nữa, vào những ngày đẹp trời có thể thấy biển ở phía Nam và núi ở phía Tây.

Sân giữa và lăng Cụ Sáu

Xem xong Phương Đình, khách bước xuống sân nhỏ ở phía Bắc, giữa Phương Đình và Nhà thờ Lớn. Sân này có kích thước dài 25m, rộng 15m, tường hai bên là những chấn song tiện bằng đá. Tại đây có lăng Cụ Sáu. Cụ qua đời năm 1899, có tới 40.000 giáo dân dự Thánh lễ An táng; sau đó Cụ được mai táng ở đây, trong ngôi mộ đá bé nhỏ khiêm tốn nhưng ở vị trí tuyệt đẹp, ngay trung tâm công trình kiến trúc của Cụ.

Nhà thờ Lớn (dài 74m, rộng 21m)

Từ sân giữa nhìn lên phía Bắc, khách có thể ngắm mặt tiền Nhà thờ Lớn. Đứng trước Phương Đình, khách có cảm giác một cái gì đồ sộ oai nghiêm, còn trước mặt tiền này, khách được chiêm ngưỡng một cái gì vừa mỹ lệ tinh xảo, vừa thanh thoát lôi cuốn. Trước khi xem kỹ hơn, khách có thể đọc một tài liệu lịch sử: đó là tấm bia đặt ngang tầm mắt, ở phía cực Đông của mặt tiền (đối với người nhìn là bên phải, gần những chấn song đá của sân giữa). Bia khắc chữ Latinh, dịch như sau:

"Kính chào Mẹ của Thiên Chúa Con. Kính chào Bạn trăm năm của Chúa Thánh Thần. Kính chào Đền thờ rất Thánh của Ba Ngôi rất Thánh. Xin giải thoát chúng con khỏi tội và hỏa ngục. Lạy Đức Maria là Mẹ của Ân sủng, là Đấng dịu hiền sinh ra Đức Khoan Dung. Xin che chở chúng con khỏi kẻ thù, và đón nhận chúng con trong giờ chết. Amen – Năm Chúa Giáng Sinh 1891, năm tôi xây dựng Nhà thờ Phát Diệm này để kính Đức Mẹ Mân Côi. Phêrô Sáu ký".

Như vậy, 1891-1991 Nhà thờ Lớn này đã được chẵn 100 tuổi. Nhà thờ đã được cất lên năm 1891 chỉ trong vòng 3 tháng, nhưng công việc chuẩn bị là sắm sửa vật liệu và trị chân móng đã kéo dài cả 10 năm trước đó. Về vật liệu, gỗ thì lấy từ Nghệ An, Thanh Hóa và Sơn Tây, đá lấy ở núi Thiện Dưỡng cách Phát Diệm 30km, đá quý hơn lấy ở núi Nhồi gần tỉnh lỵ Thanh Hóa, cách 60km. Có những cây gỗ nặng tới 7 tấn, những phiến đá nặng đến 20 tấn đã được vận chuyển bằng những phương tiện thô sơ hồi đó. Còn về chân móng, nên nhớ rằng Phát Diệm xưa là biển đã được đất phù sa bồi, nên Cụ Sáu đã phải cho đóng hàng triệu cọc tre và đổ xuống biết bao là đất đá mới đặt được nền móng Nhà thờ vững chắc cho đến nay.

Trở lại xem mặt tiền Nhà thờ Lớn, ta thấy phía dưới có 5 lối vào bằng đá. Phía trên là 3 tháp vuông bằng gạch có mái cong. Trên đỉnh tháp giữa, có tượng 2 thiên thần cầm Thánh giá, 2 bên là 2 thiên thần khác thổi loa, ở dưới là 4 chữ Hán "Thẩm Phán Tiền Triệu" (Điềm báo trước ngày Phán xét).

Đá của 5 lối vào phía dưới được chạm khắc rất tinh vi, đặc biệt trên lối chính giữa là 1 phiến đá dài 4,20m, cao 1,50m, dày 0,7m, chạm một bụi hoa Mân Côi (tức hoa hồng) từ giữa tỏa ra, trên các ngành có 17 vị thiên thần. Trên mỗi lối vào có ba bức phù điêu, tạc các Mầu nhiệm Tràng hạt Mân Côi. Từ trái sang phải là: Thiên sứ Truyền Tin, Đức Bà đi viếng, Đức Bà sinh Chúa Giêsu, Đức Bà dâng Con, Đức Bà tìm thấy Con (5 Sự Vui); Chúa Giêsu hấp hối trong vườn, Chúa chịu đánh đòn, Chúa đội mão gai, Chúa vác Thánh giá, Chúa chịu đóng đinh (5 Sự Thương); Chúa sống lại, Chúa lên trời, Chúa Thánh Thần hiện xuống, Đức Bà lên trời, Đức Bà đội triều thiên (5 Sự Mừng).

Năm lối vào xây toàn bằng đá, sâu 9m, trên 5 vách có phù điêu tạc 6 thiên thần cầm bình Nước phép. Phía trên mỗi vị là một câu Latinh, nói lên thái độ phải có khi cầu nguyện, đó là: (từ Đông sang Tây) "Khi cầu nguyện, bất cứ anh em xin điều gì, hãy tin rằng sẽ được"; "Hãy cầu nguyện và xin như người thu thuế và người bệnh phong"; "Hãy chuẩn bị linh hồn bạn, đừng thử thách Chúa của bạn"; "Nơi đây đáng sợ chừng nào: đây là Nhà Thiên Chúa"; "Anh em hãy xin để cửa mở ra cho anh em, hãy tha thứ nếu anh em có hận gì với ai"; "Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ". Trong cùng là 5 cửa gỗ chạm trổ dẫn vào Nhà thờ.

Từ ngoài Nhà thờ bước vào trong, phải một lúc nhìn mới rõ, vì bên trong tối hơn bên ngoài nhiều, theo kiểu các đình chùa cổ truyền, tạo bầu không khí trầm mặc thuận tiện cho việc hồi tâm cầu nguyện. Điều đầu tiên thu hút cái nhìn là 2 hàng cột lớn ở giữa dẫn đến các bức gỗ chạm ở sau bàn thờ, chói lọi vàng son. Nhà thờ chia làm 9 gian với 6 hàng cột gỗ lim, tổng cộng là 52 cột đỡ lấy 4 mái. 16 cây cột ở giữa chu vi 2,35m, cao 11m, nặng 7 tấn, phía trong các cột này đều có chữ Latinh khắc chìm: "Pax Domini" ("Bình an của Chúa"), còn các cột ở 2 hàng ngoài cùng có chữ : "Ave Maria, Joseph" ("Kính chào Maria, Giuse"). Trước khi lên các gian trên, khách có thể thấy 2 con sư tử đá chạm bong ở 2 bên gian cuối, mà từ bên ngoài sẽ thấy rõ hơn. Điêu khắc gỗ ở xà kèo các gian dưới có những đường nét khỏe hơn, ở các gian trên thì tinh vi hơn. Ở gian cuối cùng trước Cung thánh, trên thượng lương (xà dọc cao nhất) có ghi dòng chữ Hán: "Thành Thái tam niên, ngũ nguyệt, thập thất nhật" với con số "1891". Như vậy ngày dựng nóc Nhà thờ Lớn là ngày 17/5 niên hiệu Thành Thái thứ ba, tức ngày 23/6/1891.

Cung thánh cao hơn lòng Nhà thờ hai bậc và gồm 2 gian, nhưng không có cột ở giữa nên xà vượt (xa dọc đỡ) rất to. Hai bên Cung thánh là những chấn song đá lớn chạm trổ khá đẹp. Những chấn song này đỡ 14 tấm phù điêu Đàng Thánh giá phía Tây 7 tấm, phía Đông 7 tấm. Nền Cung thánh lát gạch hoa, có mộ 5 vị Giám mục đã phục vụ trong Giáo phận Phát Diệm: Đức cha Alexandre Marcou Thành (mộ thứ 2 bên trái) người Pháp, Giám mục thứ nhất của Giáo phận (thành lập năm 1902), qua đời 1939; Đức cha Gioan B. Nguyễn Bá Tòng (mộ thứ 3), quê Sàigòn, Giám mục Việt Nam tiên khởi, qua đời 1949; Đức cha Gioan M. Phan Đình Phùng (mộ thứ 1), quê Kiến Thái (Phát Diệm), qua đời 1944; Đức cha Giuse Lê Quý Thanh (mộ thứ 5) quê Hà Nam, qua đời 1974; Đức cha Giuse Nguyễn Thiện Khuyến (mộ thứ 4), quê Thanh Hóa, qua đời 1981.

Giữa Cung thánh là một bàn thờ bằng một phiến đá dài 3m, rộng 0,90m, dày 0,20m đặt trên 2 cột đá chạm theo kiểu hình cây trúc như ở Phương Đình. Bàn thờ này mới được đặt vào tháng 10/1990 nhân dịp khai mạc Năm Kỷ niệm 100 năm xây dựng Nhà thờ Lớn. Bàn thờ cũ ở phía sau là 1 khối đá dài 3m, rộng 0,9m, cao 0,97m ba mặt có chạm trổ hoa lá. Hai bàn thờ cạnh nhỏ hơn, cũng bằng đá chạm trổ, dâng kính Trái Tim Chúa (bên trái) và Trái Tim Mẹ (bên phải).

Sau khi thăm Phương Đình và Nhà thờ Lớn, khách có thể đi xem các công trình phụ khác: các Nhà thờ cạnh và các Hang đá, đặc biệt ngôi nhà Trái Tim Đức Mẹ…

Nhà thờ Trái Tim Đức Mẹ

Đây là Nhà thờ đầu tiên Cụ Sáu xây trong khu vực này, vào năm 1883. Nhà thờ dài 18m, rộng 9m, cao 5m; nền, cột, xà, tường, chấn song, tháp, bàn thờ đều bằng đá, do đó người Phát Diệm quen gọi là Nhà thờ Đá (người địa phương khác đôi khi gọi Nhà thờ Lớn Phát Diệm là Nhà thờ Đá, nhưng như thế không đúng).

Mặt tiền gồm 1 tòa Đức Mẹ ở giữa với hai tháp 2 bên. Hai tháp này hình vuông, 5 tầng, có những nét giống Tháp Bút bên Hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội. Tòa Đức Mẹ bằng đá, có khắc 4 thứ tiếng. Trên cùng là chữ Việt: "Trái Tim Rất Thánh Đức Bà chẳng hề mắc tội tổ tông truyền, cầu cho chúng tôi" (đây là hàng chữ khắc tiếng Việt duy nhất trong toàn khu Nhà thờ Phát Diệm). Chung quanh tòa là chữ Hán: "Thánh Mẫu Tâm" (ở trên). "Vô Nhiễm nguyên tội" – "Vị thần đẳng cầu" (2 bên) nghĩa là: "Trái Tim Mẹ Thánh không hề mắc tội tổ tông, cầu cho chúng tôi". Phía dưới có chữ Pháp và chữ Latinh: "Trái Tim Vô Nhiễm Đức Maria, cầu cho chúng tôi".

Phía trong Nhà thờ bằng đá cẩm thạch nhẵn bóng, với những đường nét thanh thoát nhẹ nhàng. Vách 2 bên là những chấn song đá, gần vách có những bức đá chạm thông phong (chạm lộng) hình cây tùng và cúc (phía Đông), mai và trúc (phía Tây). Ba bàn thờ bằng đá chạm trổ; mặt trước bàn thờ chính, ở giữa có hình trái tim với lưỡi gươm đâm thâu, bên trái tạc một cái giếng đậy nắp với 2 hàng chữ Latinh nhỏ: "Puteus Signatus" (Giếng niêm phong), bên phải tạc một khu vườn rào kín: giếng niêm phong và vườn rào kín chỉ Đức Mẹ trinh khiết. Trên bàn thờ chính là Nhà Tạm bằng gỗ chạm, sơn son thiếp vàng và tòa Đức Mẹ bằng đá. Bên ngoài có những bức chạm thông phong (chạm lộng) bằng đá rất đẹp, hình chim phượng xòe cánh, mang bút nghiên, và con sư tử có bờm dài và răng nanh nhưng mặt trông như mặt người đang cười. Sau hết cũng nên xem 2 cửa đá nhỏ xinh xắn phía Bắc. Nhà thờ Đá, tác phẩm đầu tay của Cụ Sáu quả là một kiệt tác, xứng đáng với danh hiệu "Viên Ngọc" mà có người đã tặng cho.

Đến đây khách đã thăm qua một lượt toàn bộ công trình kiến trúc của Cụ Sáu trong khu Nhà thờ Phát Diệm. Khách không khỏi thán phục tài tổ chức và cái nhìn xa rộng của Cụ.

Khách ngoại quốc đến Việt Nam muốn xem một ngôi Nhà thờ tiêu biểu nhất của đạo Công giáo Việt Nam, thì đó phải là Nhà thờ Phát Diệm.

Ngày nay người ta nói nhiều đến "hội nhập văn hóa" nhằm diễn tả đạo Kitô theo sắc thái của mỗi dân tộc. Điều này Cụ Sáu đã làm từ lâu, không những trong kiến trúc, mà còn cả trong một số điểm khác, như bài vè, câu kinh, hoặc các đồ vật và y phục dùng trong các đám rước, đám tang… mặc dù không ít người thời đó có thể cho là giống các tôn giáo khác.

100 năm đã qua, tuy phải chịu đựng những tàn phá của thời gian và của chiến tranh, các công trình kiến trúc của Cụ vẫn còn ở trong tình trạng khá tốt, cho khách thập phương chiêm ngưỡng và nhất là cho các tín hữu ngày nay đến cầu nguyện. Nhà thờ phần lớn bằng gỗ, một vật liệu rất dễ bị hư hại. Vì thế trách nhiệm lớn của con cháu những giáo dân xưa đã cùng với Cụ Sáu xây dựng Nhà thờ Lớn Phát Diệm, thì nay phải thường xuyên gìn giữ, trùng tu theo đúng nguyên trạng (điều này cũng đúng với khá nhiều Nhà thờ khác ở vùng Kim Sơn, cũng với tuổi thọ xấp xỉ Nhà thờ Phát Diệm). Như thế là bảo toàn một di sản văn hóa dân tộc và một chứng tích Đức Tin của tiền nhân.

(Trích trong tập Nhà Thờ Lớn Phát Diệm, do Tòa Giám mục Phát Diệm biên soạn, NXB Hà Nội 1999)

Các đại Giáo đường ở châu Âu, châu Mỹ, châu Đại dương, châu Phi và cả châu Á nữa thật là nhiều. Những Nhà thờ nổi tiếng như Nhà thờ Đức Bà Paris 800 năm tuổi, hàng ngày có khoảng gần 10.000 lượt người tham quan (hầu như lúc nào tới cũng phải xếp hàng như thế này).

Xét về sự vĩ đại và hoành tráng thì cho đến nay chưa có Nhà thờ nào trên thế giới vượt được Đền Thánh Phêrô trên đồi Vatican trong nội thành Roma, thủ đô nước Ý (hàng năm có hơn 10 triệu du khách tới tham quan (tư liệu Wikipedia).

Nhà thờ Đức Bà Paris không thể sánh được với Đền thờ Thánh Phêrô, hoặc Đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành, hay Đền thờ Đức Bà Cả ở Roma. Paris ít công trình đá, còn Roma là lò đá đặc biệt cẩm thạch vào bậc nhất thế giới, nên các tượng và công trình kiến trúc lớn toàn bằng đá. Đứng giữa lòng Đền thờ Thánh Phêrô, ngước mắt lên trần cao hơn 20m, người viết ngẩn ngơ không thể hiểu được làm thế nào mà các kiến trúc sư thế kỷ 15-16 lại có thể làm được những chiếc quá giang (xà ngang) khoảng 25m mà không có cột béton đỡ ở giữa, chịu được sức nặng của cả trần nhà bằng chất "vữa" giống như béton, chia thành những ô, tô vẽ hình ảnh, sơn mầu, thếp vàng. Đền thờ Thánh Phêrô được Đức Giáo Hoàng Nicôla V (1447-1455) tái thiết do kiến trúc sư Bernardo Rossellino phụ trách. Công việc tiến hành tới khi Đức Nicôla qua đời vào tháng 3/1455 thì công việc tạm ngưng, mãi tới thời Đức Giáo Hoàng Giulio II (1503-1513) mới tiếp tục lại, và kiến trúc sư cũng là họa sĩ, điêu khắc gia đại tài Michelangelo được giao nhiệm vụ với dự toán chi phí 200.000 đồng tiền vàng. Việc xây dựng kéo dài tới ngày 18/11/1626, Đức Giáo Hoàng Urbano VIII mới khánh thành.

Đền thờ có chiều dài 187m, ngang 150m, diện tích chưa kể phòng thánh là 22.067m2, chứa 54.000 người, mặt tiền cao 46m, chiều ngang 115m, các cột đá cao 29m, đường kính 2,67m, vòm có đường kính gần 20m, cao 50,35m, nặng 56.208.837 tấn, chiều cao tính từ mộ Thánh Phêrô lên là 136m. Quảng trường liền trước Đền thờ hình bầu dục, dài 196m, rộng 148m. Hai dãy hành lang vòng cung như vòng tay người mẹ mở rộng ôm tất cả đoàn con, do kiến trúc sư Bermini thực hiện, gồm 284 cột đá xếp thành 4 hàng đối xứng nhau, mỗi bên 142 cột. Cột cái có đường kính 1,45m, cao 18,60m, tất cả đều bằng đá trắng ngà, trên hành lang vòng cung đặt 140 tượng, mỗi tượng cao 3,24m. Các tượng ở mặt tiền Đền thờ cao 5,65m toàn bằng đá trắng hơi xám.

Cột đá (Obélisque) tượng trưng cho uy quyền của các triều vua chúa, có lẽ ban đầu xuất phát từ Ai Cập cổ đại. Cột đá bốn mặt nhỏ dần đến chóp đỉnh. Cột đá ở quảng trường Thánh Phêrô bằng đá vân cương đỏ, từ Đông phương được đưa về Roma thời hoàng đế Nerô, sau bị đổ và bỏ phế. Cột đá cao 41,3m, nặng 312 tấn, di chuyển quãng đường mấy chục km phải mất 5 tháng (từ 30/4/1585 – 10/9/1585). Làm thế nào để di chuyển và dựng lên được là một câu hỏi mà khách tham quan đặt ra. Xin nói thêm dường như những nước văn minh xưa rất ưa dựng cột đá, ở Roma có khá nhiều, ở Paris, Thổ Nhĩ Kỳ cũng có khá nhiều, những nơi khác người viết chưa tới nên không biết.

Ngoài Đền thờ Thánh Phêrô, Roma còn nhiều Đền thờ đồ sộ khác, người ta quen gọi "Tứ Đại Giáo Đường", đó là Đền thờ Đức Bà Cả, Đền thờ Gioan Latran, Đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành. Đền thờ nào cũng làm khách tham quan sững sờ, riêng Đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành được kể là lớn nhất trong các Đền thờ Công giáo, cho tới khi hoàn thành Đền thờ Thánh Phêrô.

Đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành có chiều dài 125,64m với 4 hàng cột đá cẩm thạch đỏ có vân bóng lưỡng, liền lạc từ trên xuống dưới, hai hàng cột cái đường kính gần 1m, cao khoảng 18m, không biết người xưa lấy đâu ra những cột đá liền lạc, to lớn như vậy rồi lại còn công đẽo gọt, chuyên chở và dựng lên nữa! Thật không thể tưởng tượng được. Chúng ta cần nhớ thời đó không có máy móc, cần cẩu, không có ximăng cốt thép, mọi việc xây dựng đều dùng thủ công.

Paris cũng nhiều công trình kiến trúc hoành tráng nhưng rất ít công trình đá, các tượng ở Pháp hầu hết là ximăng, còn các công trình và các tượng ở Ý hầu hết bằng đá và cẩm thạch.

Nói về giá trị của những công trình kiến trúc Công giáo tại Trung Quốc, Bắc Kinh thừa nhận tầm quan trọng lịch sử của các tòa nhà Công giáo. 17 tòa nhà Công giáo được đưa vào danh sách 1943 di tích quốc gia mới nhất. Danh sách đầu tiên được công bố năm 1961. Các Nhà thờ này hầu hết do các Thừa sai xây theo kiểu Gothique hoặc Roman từ 1890-1930, hiện nay không thể bị phá bỏ.

Tang Guohua, Giáo sư kiến trúc và quy hoạch đô thị nói : "Việc nâng cao địa vị này cho thấy các công trình kiến trúc của Giáo Hội có giá trị lịch sử, nghệ thuật, khoa học hay xã hội quan trọng" (Ucanews 18/6/2013 – Báo CG&DT số 1913, từ 28/6 – 4/7/2013, trang 25).


... CÒN TIẾP ...