Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




HAI GIẢ THUYẾT MỚI

VỀ MỘT BÀI THƠ CŨ



Bài thơ cũ là bài thơ của vua Trần Minh Tông (1300 - 1357), viết về Phó tướng nhà Trần là Trần Khánh Dư, chép trong Toàn Việt thi lục của Lê Quí Đôn. Tôi chép lại từ Tuyền thơ của các vua Trần, Hội Văn học Nghệ thuật Nam Hà xuất bản, năm 1996. Nguyên văn như sau:

DƯỠNG CHÂN BÌNH THÔN TỬ

NHÂN HUỆ VƯƠNG TRANG

gia kỉ thốc ỷ thiều nghiêu

chẩm cao miên viễn thị triều

giác dư đồ qui chính hóa

nhai nhân vật lạc ngư tiều

thanh tịch tịch triều lai thiểu

ảnh sơ sơ nguyệt thướng nhiêu

Long chuẩn hà tằng đồng điểu huệ

chu hưu phiếm Ngũ Hồ dao

      Dịch nghĩa:

ĐIỀN TRANG CỦA NHÂN HUỆ VƯƠNG

DƯỠNG CHÂN BÌNH THÔN TỬ(1)

Mấy dãy nhà trong trang, dựa vào núi cao chót vót

Một chiếc gối cao, nằm ngủ ở xa triều đình và thành thị

Miền góc biển trên bản đồ, đã theo giáo hóa của triều đình

Nhân, vật ở chân trời, vui với việc câu cá hái củi

Tiếng suối chảy lặng lẽ, nước triều ít dâng lên

Bỗng cây cam đường thưa thoáng, ánh trăng tràn ngập(2)

Mũi rồng đâu có giống mỏ chim(3)

Con thuyền xin chớ trôi nổi trên Ngũ Hồ xa xôi…(4)

      thơ:

THĂM NƠI Ở CỦA NHÂN HUỆ VƯƠNG

Nhà ai mấy khóm dựa non cao?

Chiếc gối thênh thênh lánh thị triều

Góc biển dư đồ chung giáo hóa

Chân mây nhân vật mến ngư tiều

Êm êm tiếng suối, triều lên ít

Thưa thớt lùm cây, nguyệt sáng nhiều

Mỏ quạ mũi rồng đâu phải một

Ngũ Hồ chớ nghĩ thú tiêu dao

ĐÀO PHƯƠNG BÌNH - NAM TRÂN (dịch)

      Dưỡng Chân Bình Thôn Tử là hiệu của Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư. Nếu vua Minh Tông không ghi lại, chúng ta không biết tên hiệu này của ông. Có lẽ đây là tên hiệu của ông do ông tự đặt cho mình khi đã về nghỉ hưu chăng?

      Ông có hai nơi ở.

      Nơi ở thứ nhất là huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Có thể coi đây là “đất quê” của ông. Vì là con Thượng tướng quân Trần Phó Duyệt, thuộc dòng dõi Trần Thủ Độ, lại có tài làm tướng, có công dẹp loạn ở vùng biên thùy, ông được vua Trần Thánh Tông nhận làm con nuôi, phong đến chức Phiêu kị đại tướng quân. Sau vì thông dâm với công chúa Thiên Thụy, chị ruột vua Nhân Tông, vợ Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn, con trai trưởng Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, vua khép vào tội phải đưa ra Hồ Tây đánh chết, nhưng lại dặn người thi hành công vụ là chỉ đánh vừa vừa thôi, rồi cách hết chức tước, tịch thu hết gia sản, giáng xuống làm dân thường, phải về đất phong của cha ở châu Chí Linh (Hải Dương) để sinh sống hoàn toàn như một người dân thường.

      Ông buôn bán than. Nơi ở thuở hàn vi này là vùng đất Bãi Than, nay mang tên tước của ông, xã Nhân Huệ, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, chỗ sông Lục Đầu chia nước cho sông Kinh Thầy.

      Người đời sau (thời Nguyễn) đã bịa ra bài thơ Một gánh càn khôn quẩy xuống ngàn để gán cho ông.

      Bài thơ trên rõ ràng không liên quan gì đến nơi ở này.

      Hội nghị Bình Than họp tại vũng Trần Xá, nay thuộc huyện Nam Sách, Hải Dương, nằm giữa bãi Than và bến Bình (nay là cầu Bình) của các tướng lĩnh nhà Trần, tháng 10 năm Nhâm Ngọ (1282), Trần Khánh Dư được nhận chiếu xóa tội, vua Nhân Tông ban cho áo ngự, cho ngồi ở hàng dưới các vương, trên các công hầu, cùng bàn việc quân. Vua Trần phong chức Phó đô tướng quân, giao cho ông trấn giữ vùng Đông Bắc, bao gồm cả trên biển và trên bộ - chủ yếu là các vùng đất ven biển và biên cương. ĐVSKTT (sách đã dẫn, trang 60) ghi: “Hưng Đạo vương giao hết công việc ở biên thùy cho Vân Đồn phó tướng là Nhân Huệ vương Khánh Dư”. Ông đóng đại bản doanh tại Vân Đồn (nay là đảo Quan Lạn, xã Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh), nên đời sau (từ 1497) gọi ông là Vân Đồn phó tướng. Có hiểu lai lịch này, mới hiểu nội dung hai câu kết của bài thơ.

      Ông có công lớn trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông.

      Dấu ấn nơi ở thứ hai này rất rõ trong bài thơ. Đó là dãy nhà dựa vào núi cao, xa triều đình và thành thị. Đây là miền biển ở chân trời đã được triều đình giáo hóa, nhân dân vui vẻ với việc đánh cá và kiếm củi. Tiếng suối chảy nhẹ, nước triều ít dâng lên. Bóng cây cam đường tràn ngập ánh trăng. Cây cam đường, có lẽ không có ở đảo Quan Lạn, nhà vua dùng một điển tích trong sách cổ Trung Hoa, để chỉ nơi nghỉ ngơi an dưỡng của một vị đại tướng già, ngang với tể tướng. Hai câu kết ý nghĩa rất sâu xa. Nhà vua nhắc đến Việt vương Câu Tiễn bên Trung Hoa có cái mũi mỏ quạ. Phạm Lãi, người đã giúp Câu Tiễn, đưa Câu Tiễn từ kẻ tù đầy trở thành bá vương, cho rằng, người có cái mũi như thế chỉ có thể ở được với nhau lúc gian nguy, còn khi đã là vua rồi, thì phải xa lánh ngay, kẻo nguy đến tính mạng. Vua Trần cho rằng, mình có cái mũi rồng, không có cái miệng mỏ chim, nên Trần Khánh Dư chớ nghĩ như Phạm Lãi, bỏ triều đình mà đi ngao du ở Ngũ Hồ xa xôi.

      Bài thơ viết về nơi ở của vị tướng triều trước, lời lẽ thấm thía, từ tốn, rất thực về cảnh, rất chân về tình, cho ta có cơ sở để đưa ra hai giả thuyết, rằng:

      Một, Trần Khánh Dư khi “về hưu”, đã không về “đất quê” sinh sống mà ở hẳn đảo Quan Lạn, đặt tên hiệu lúc nghỉ dưỡng già là Dưỡng Chân Bình Thôn Tử, nơi ông đóng đại bản doanh thời trẻ, từng làm nên chiến thắng Vân Đồn - Cửa Lục nổi tiếng, cuối tháng 12 năm Trùng Hưng thứ 3 (1287), góp phần quan trọng vào đại thắng Bạch Đằng ngày 8 tháng 3 năm Trùng Hưng thứ 4 (1288).

      Hai, vua Trần Minh Tông đã đến đảo Quan Lạn, một đảo xa, tiếp giáp với biển Đông, (ngay đến bây giờ, việc đến thăm xã đảo này cũng không phải là việc dễ dàng đối với một nguyên thủ quốc gia), vào lúc Nhân Huệ vương đã già, nghỉ hưu tại đảo này. Bài thơ cũng phác ra những hình ảnh rất quí hiếm về đời sống và tâm trạng nhân dân trên đảo ở thời ấy, dù điều đó, không hề được ghi trong chính sử hay trong dã sử, cũng là điều bình thường. Ngay cuộc duyệt binh trên sông Bạch Đằng của vua Lê Thánh Tông, do chính vua Lê ghi lại trong bài thơ khắc vào vách đá núi Truyền Đăng, tháng 2 năm Quang Thuận thứ 9 (Mậu Tí, 1468), Đại việt sử kí toàn thư, bộ chính sử hoàn thành ở ngay thời Lê Thánh Tông, cũng không ghi lại.

      Cùng với giá trị nghệ thuật, bài thơ đã làm sáng tỏ hai điều, mà tôi tin là có cơ sở, nên mạo muội đưa ra để các quí vị tham khảo, xem xét, dù hai điều này, không có sách sử nào ghi chép lại. Và chỉ với riêng hai điều đó thôi, bài thơ đã có một giá trị lớn về văn hóa, lịch sử và xã hội, đáng để cho chúng ta suy xét, nghiên cứu.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 18.10.2013.