Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




VĂN HỌC NAM HÀ

文 學 南 河





KỲ THỨ 8.

Người Tự Hào Giữ Ải Địa Đầu

của Vùng Đất Nam Hà.

Mạc Thiên Tích.



Mạc Thiên Tích (1) sanh năm 1706 (mồng 7 tháng 3 Bính Tuất) tại Trũng Kè (2) (Réam), cha là Mạc Cửu (3), mẹ người Việt, họ Nguyễn. Ông chủ danh Tông, tên thật là Thiên Tích, sau đổi thành Thiên Tứ (cũng đều có nghĩa ban cho), tên tự Sĩ Lân.

Mạc Cửu vốn là người Trung Hoa không chấp nhận nhà Thanh nên sang khai khẩn  đất Hà Tiên và qui phục Chúa Nguyễn từ năm Giáp Ngọ (1714) được Tộ Quốc Công Nguyễn Phúc Chu phong chức Tổng Binh cho cai quản vùng đất đang khai thác.

Năm Ất Mão (1735), Mạc Cửu mất, Thiên Tích thay cha, được Đĩnh Quốc Công Nguyễn Phúc Trú phong chức Hà Tiên Trấn, Tổng Binh Đại Đô Đốc, Tông đức Hầu.

Thiên Tích “tánh tình trung hậu, chân thật, nhân từ, nghĩa dũng, đầy đủ tài đức, thông kinh sử, không có sách nào không đọc, thêm vào lại giỏi tài thao lược, hậu đãi hiền tài” (4)

Năm Đinh Dậu 1775, sau khi quân Tây Sơn chiếm Gia Định chúa Định Vương Nguyễn Phúc Thuần bị giết ở Cà Mau, Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương bị bắt ở Ba Vạt, quân Nguyễn hầu như rắn mất đầu, Mạc Thiên Tích vẫn hết lòng phò tá người kế vị  và được Nguyễn Vương nhờ hướng dẫn Hoàng tử Xuân sang Xiêm cầu viện.

Lúc nầy Vua Xiêm là Trịnh Tân, một thương gia người Triều Châu nhờ loạn lạc nên chiếm được ngôi vua, vốn có hiềm khích với Thiên Tích nên bức bách ông, không giúp đỡ, cũng không cho trở về Gia định.

Năm 1780 (ngày 05 tháng 10 năm Canh Tý) Thiên Tích vì quá phẫn uất nuốt vàng tự tử tại Vọng Các.

Về sau, năm 1804, con cháu họ Mạc đem tro tàn về mai táng tại núi Bình San (làng Mỹ Đức, Hà Tiên)

Cuộc đời Mạc Thiên Tích về văn học quan trọng nhất ở chỗ ông đã thiết lập nên Chiêu Anh Các 

Chiêu Anh Các:

Chiêu Anh Các có nghĩa là  gác mời những người tài hoa anh hùng, được thành lập vào năm Bính Thìn (1736) nhân dịp một danh sĩ Trung Quốc người Việt Đông là Trần Trí Khải tự  Hoài Thủy sang Hà Tiên và được Mạc Thiên Tích ngỏ ý mời họa “Hà Tiên thập vịnh” do ông sáng tác. Trí Khải họa lại và sau đó về Trung Quốc có gởi sang những bài họa khác của các văn nhân bổn quốc.

Trong khi ấy, ở Hà  Tiên, Thiên Tích cũng hợp một số người Việt  ở Thuận Quảng (1) để xướng hoạ. Do đó nhóm Chiêu Anh Các được thành lập. Trên giấy tờ gồm 37 vị (2) nhưng chắc chắn ở Hà Tiên không có đủ con số nầy.

Chiêu Anh Các ngoài việc xướng họa thơ còn lập đền thờ Khổng Tử  và lập nghĩa thục để truyền bá văn chương đạo lý.

Tác phẩm:

1. Hà Tiên thập vịnh (3) (Hán) viết xong năm Bính Thìn (1736) (4) khắc in tại Hà Tiên mùa hạ năm Đinh Tỵ (5) (1737) Nguyên tập gồm:

Bài tự của Mạc Thiên Tích nói về nguyên lai Chiêu Anh Các và tập thơ.

Bài bạt của Dư Tích Thuần tự Kim Ngũ ca tụng cảnh Hà Tiên và người cai trị tài giỏi.

Bài bạt của Trần Trí  Khải tự Hoài Thủy nói về Mạc Thiên Tích và  nguyên nhân có 10 bài họa của mình.

Mười bài xướng của Mạc Thiên Tích tả mười cảnh đẹp ở Hà Tiên.

Ba trăm mười (310) bài họa của 31 vị có chân trong Chiêu Anh Các.

Vậy tổng cộng Hà Tiên thập vịnh gồm 320 bài vịnh mười cảnh.

2. Minh bột di ngư (Hán).

Do Mạc Thiên Tích sáng tác. Sách gồm 32 bài đường luật tả cảnh “Lư Khê nhàn điếu”: cảnh câu cá nhàn rỗi ở bến Lư, và một bài phú rất dài hơn 100 câu là Lư khê nhàn điếu phú.

Không có bản in đầu tiên và tài liệu nên ta không biết xuất hiện vào năm nào. Tập nầy về sau, năm 1821 được Trịnh Hoài Đức tái khắc bản với nhan đề “Minh bột di ngư thi thảo” và viết một bài tân tự rất quan trọng ghi được tâm sự của tác giả: (Mạc Thiên Tích) ngụ mối u hoài cảm khái tự chốn thâm tâm, chớ nào phải vì chén rượu câu thi mà xướng họa hão đâu ... chính vì Ngài canh cánh nỗi cảm hoài cố quốc đô thành khuôn cảnh “Thử ly” (đồng lúa oằn oại thay cảnh đô thành của nhà Châu bị giặc khuyển Nhung chiếm cứ). Cảnh mất nước. Ngài tư tưởng, uất ức: “dằn lòng trung phẫn hư vô, gởi dòng sóng bạc, mòn mắt tử phần muôn dặm, trông đám mây ngàn”, nên Ngài mượn lối thi thơ để giãi bày tâm sự, ta há nên bình nghị Ngài về chỗ vui chơi, nhàn hạ như ai đâu” (6).

3. Thụ Đức hiên tứ cảnh (Hán):

Đây là một tập thơ xướng họa theo thể thuận nghịch đọc gồm:

- Bài tự của Phương Thu Bạch .

- 4 bài xướng của Mạc Thiên Tích, tả bốn cảnh xuân hạ thu đông ở nơi dọc   sách (Thụ Đức hiên)

- 88 bài họa của 32 vị  (1) trong Chiêu Anh Các

Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục ghi bài họa gồm 88, vậy một vài vị đã họa không đủ số. Mặt khác những bài Lê Quý Đôn trích lại cho ta nhận xét các bài thường không giữ thể thuận nghịch độc.

4. Hà Tiên vịnh vật thi tuyển.

5. Châu thị trinh liệt tặng ngôn.

6. Thi truyện tặng Lưu tiết phụ.

7. Thi thảo cách ngôn vị tập (2)

8. Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh (Nôm)

 

Những bài thơ Nôm nầy - tác phẩm thứ 8 - chưa được khắc bản ấn hành, chỉ được truyền khẩu trong vùng Hà Tiên, theo Đông Hồ dân gian còn gọi bằng tên khác: “Hà tiên quốc âm thập vịnh” 3.

Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh gồm:

334 câu lục bát song thất; bắt đầu bằng hai câu lục bát, kế đến 2 câu thất, mô tả mười cảnh đẹp ở Hà Tiên.

10 bài thơ luật Nôm xen giữa mô tả từng cảnh một.

1 bài thơ luật Tổng vịnh4.

Cũng như Hà Tiên thập vịnh, Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh tả mười cảnh sau:

1. Kim dự lan đào: Đảo vàng ngăn sóng lớn .

2. Bình san điệp thúy: Núi dựng một màu xanh.

3. Tiêu tự thần chung: Chuông sớm ở chùa vắng.

4. Giang thành dạ cổ: Trống đêm ở đồn bên sông .

5. Châu nham lạc lộ: Đàn cò đáp xuống núi châu báu.

6. Đông hồ ấn nguyệt: Hồ phía đông in hình bóng trăng.

7. Nam phố trừng ba: Bãi nam sóng lặng.

8. Thạch động thôn vân: Động đá nuốt mây.

9. Lộc trĩ thôn cư: Nông trại ở mũi Nai

10. Lư khê ngư bạc: thuyền đánh cá đỗ bến Vược5

Chiêu Anh Các để lại nhiều thơ, nhưng tác giả hầu hết đều thuộc người Trung Quốc và chưa sống ở Việt Nam, thơ  văn lại gò bó trong việc họa vần, hạn đề nên không phản ảnh nếp sống, tâm tư người Việt. Chúng ta ngày nay, mặc dầu ghi nhận sự hiện hữu của nhóm thi nhân nầy nhưng không thể xét về mặt tư tưởng cũng như ngôn từ như là  đối tượng của việc nghiên cứu một trường phái  ở Việt Nam để tìm hiểu về một giai đoạn của lịch sử văn học Việt. Chúng ta có thể xem xét riêng trường hợp Mạc Thiên Tích và Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh vì tác giả sống ở Việt Nam, hòa đồng cuộc đời với dân tộc Việt, sự khảo sát, do đó lợi ích vì giúp ta hiểu thêm một người Việt, cũng như tư tưởng của một người gắn bó với vùng đất mới, ưu tư vì nó, lo lắng vì nó.

Đại cương tư tưởng của Mạc Thiên Tích nổi bật ở những điểm:

A. Nói lên được niềm kiêu hãnh của mình.

Thừa hưởng sự nghiệp  đồ sộ của cha, giữ vai trò quan trọng đối với Chúa Nguyễn, nhận tước lớn của triều đình lúc mới ba mươi tuổi, Mạc Thiên Tích chắc chắn có  sự tự hào riêng. Thơ ông, mặc dầu xuất phát từ cảm hứng, từ tinh thần sùng thượng văn chương, vẫn bộc lộ niềm kiêu hãnh của một vị tướng trẻ đang nắm quyền tuyệt đối ở địa phương và rất có thế giá  với triều đình.

Nền tự hào nầy thể  hiện ở chỗ Mạc Thiên Tích ca tụng đất Hà Tiên, ông coi:

a. Hà Tiên như cửa  ải của Nam Hà.

Về địa thế cũng như chiến lược, Hà Tiên đóng vai trò  cửa ải án ngữ đường vào nội địa Đàng Trong. Quân Cao Miên hay Xiêm La muốn quấy rối Chúa Nguyễn không thể không đụng đầu với họ Mạc. Có thể nói vai trò của Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích cũng như vùng đất biên thùy dưới quyền họ làm “phên che giậu chống” cho đất Chúa Nguyễn. Các vị chúa như Phúc Chu, Phúc Trú  chỉ có thể yên ổn mặt Nam với sự  trung thành và lòng tận tâm của họ Mạc.

Nhận thức được vai trò  quan trọng của mình, Mạc Thiên Tích luôn luôn ca tụng vùng đất thuộc quyền như một nơi hiểm yếu, chớn chở  do thiên nhiên tạo dựng, quân giặc không thể tấn công được. Trong đoạn mô tả cảnh “Kim dự lan đào”, “Bình San điệp thuý”, tác giả bộc lộ niềm kiêu hãnh đó, nhiều khi đến mức độ tuyệt đối, thách đố cả các sức mạnh siêu nhiên: “dầu quỷ thần hẳn âu chớn chở”:

Giữa trời một đỉnh cao xây,

Sáu ngao ấy giá, năm mây là lầu.

Trải nghìn thu con vua ngậm đá.

Suy hình hài như thả ngọc phong.

Kim thang đứng sựng giữa dòng.

Công cao nhạc lộc tuổi đời kiền khôn,

Chốn hải môn, tiết còn rành rạnh1,

Chốn miếu  đường một cảnh vơi xa.”

(Kim Dự  lan đào)

Hoặc 

Thợ trời sao khéo tạo hình;

Đá giăng lưng hạm cây đoanh khúc rồng”.

(Bình San điệp thuý)

Mặc dù thiên nhiên hiểm yếu, thuận lợi cho người cai quản, nhưng nếu chủ  tướng bất tài, chểnh mảng việc phòng bị, không biết tổ chức quân sự, địa thế chiến lược cũng mất. Do đó Mạc Thiên Tích ngầm nói lên công lao với Chúa Nguyễn bằng cách mô tả những công trình xây dựng của mình như đắp thành để ngăn nước, lập hải cảng quân sự để tăng cường khả năng chiến đấu ...

Bồi thành dài (2), mặt chóng nước xa.

Ghe phen 3 chiến hạm vào ra,

Thu hào vỡ  mật, phục ba kinh lòng”.

(Kim Dự  Đào lan).

Về quân sự ông đã thực hiện được sự canh phòng hoàn hảo: chiều vừa xuống quân lính đã bố trí cơ đội phân minh cẩn thận canh chừng suốt đêm. Bài Giang thành dạ cổ, tác giả dùng một đoạn thật dài  để nói về sự việc nầy:

Dụt vạc sôi (4), bốn phương thạnh phước,

Phép nhà  binh mỗi chước mỗi hay

Ác vàng vừa lặn hang Tây,

Liễu dinh tiếng trống vang dầy sơn xuyên.

Lịnh một truyền cửa viên giải áo.

Vạc lậu  đồng vừa báo sơ canh. (5)

Nhung hàng cơ  thứ phân minh”.

Kết quả sự cực nhọc của quân sĩ trong việc canh phòng: quân giặc không giám động tịnh:

Giao nghe nhởm gáy, chuột rình nép hơi.”

Việc xếp đặt thứ  tự trong cơ quan đầu não dưới quyền cũng được chú ý cặn kẽ, người trên kẻ dưới phân minh, có thể nói tổ chức ở đây qui củ, hoàn bị giống như nơi có truyền thống lâu đời, nơi kinh đô, đô hội:

Biết phân ngôi, biết phân chủ khách,

Tuy giang thôn, nào khác Trường An.”

b. Hà Tiên như vùng đất đẹp đẽ, thanh tú.

Nếu vùng đất thuộc quyền chỉ quan trọng ở thiên nhiên hiểm trở, được bố phòng cẩn mật, có tổ chức qui củ, có  lẽ Mạc Thiên Tích cũng chưa hãnh diện mấy vì  như vậy Hà Tiên sẽ như một biên thùy xa xăm không ai muốn đến và người cai quản chẳng khác nào một vị tướng quân bị lưu đày. Hà Tiên trái lại, dưới mắt Mạc Thiên Tích không hoang vắng tiêu sơ, mà đẹp đẽ, thanh tú, đó  đây phô bày phong cảnh hữu tình, thần tiên.

* Cảnh “Bình San điệp Thuý” lúc nào cũng um tùm, phơi phới, sinh động với ngàn hoa ong bướm, mát mẻ, xanh tươi với cây xanh, mây phủ thu hút mọi người.

Lược đông phong chải đầu điệp thuý,

Lúc mưa xuân rơi phỉ muôn cành.

Rờn rờn trúc lục thông xanh.

Chồi Xuân non bện, là quỳnh phới gie.

Ong với ve om sùm cụm liễu,

Bướm dập dìu lẽo đẽo chòm hoa.

Mây liền ba khóm một tòa,

Dưới trên bích mát, gần xa xanh giè”.1

* Cảnh “Nam phố trừng ba” mặt nước phẳng lặng như tấm lụa xanh trải rộng một bức vóc long sa mà tay nhân tạo không thể dệt nên.

Cảnh Nam Phố đẹp như  cảnh phượng hoàng trì trong ngự uyển, điểm nhiễm có con cá đớp mực, bơi lội thung thăng có  những con hạc tránh khói bay lượn quanh quẩn, có những đàn nhạn đàn âu tụ tập, vui vầy hớn hở  đón mừng quang cảnh buổi xuân thiên minh mị.”2

Đố ai dệt được long sa cho tài,

Phẳng lặng thay bãi dài biển rộng.

Mây phượng trì một giống quan tinh.

Đã hay ai lai láng dòng xanh,

Cá phung nước mực hạc quanh khói trà. 

Nhạn gần xa hãy còn hiệp lũ

Chốn bãi nồm bay phủ mừng Xuân!”

* Cảnh “Kim Dự lan đào” dễ mê hoặc lòng người vì trời cao, biển rộng, núi vượt lên không kéo dài ra tận bãi tạo thành gành vịnh đẹp đẽ, quyến rũ. Du khách đến đây thấy lòng thảnh thơi như bước vào cõi tiên cảnh phật:

Khách thoạt nhìn sực nhớ Bồng Lai.

Thú mầu quến rũ lòng ai,

Say sưa biển rộng dùi mài non Tiên.

Thế tự  nhiên, gành câu vịnh lưới,

Nước cùng non, trên dưới đều ưa”.

* Cảnh “Thạch Động thôn vân”: tác giả mô tả cảnh huyền ảo của một cửa động chập chùng đá dựng, quanh năm mây tỏa lung linh, người đứng phía trước có cảm tưởng như lạc bước Thiên Thai gần cũng đó, xa xôi cũng đó:

Chập chùng đá lập cao dày,

Một hang khép mở năm mây ra vào.

Tưởng động đào năm mây lại sót.

Đoái tư bề ngun ngút khí linh.

Trời gần gang tấc chẳng chừng.

Kề tòa Bắc Đẩu dựa đình Tử Hư”

Bước vào động đá, cảnh thăm thẳm hiện ra, hang dài không biết đâu cùng, gió  lộng, mây luồng, mỗi cơn gió thoảng, từng cùm mây tỏa ra lơ lửng, chập chờn tạo thêm sự huyền bí, kỳ ảo. Lúc trời yên tĩnh, mây tụ lại lưng chừng thạch động, gây cảnh lung linh, xa cách thế tục:

Một hang thăm thẳm thay là,

Đã phun tấm gió, lại hà năm mây.

Khi tan bay hòa trời lóm khóm.

Khi tụ  về một đám lung lưng.

............................................

Khắp bốn phương gồm về một động,

Mây hư  linh hồ rộng khắp xa.

Rỡ ràng sắc cỏ màu hoa.

Đào say thức ráng, mai lòa đóa trăng”

B. Chí khí họ  Mạc .

Chọn mười đề tài đưa ra ngâm vịnh. Mạc Thiên Tích có lý do riêng của  ông, bày tỏ niềm kiêu hãnh và phô diễn chí  khí mình. Lê Quí Đôn trong Kiến Văn tiểu lục, mục Thiên Chương, sau khi chép lại hai bài xướng Lộc trĩ thôn cưLư khê ngư bạc đã hạ bút: “Khá biết chí khí của Họ Mạc!

Nhưng chí khí gì  không thấy Lê qúí Đôn nói, chúng ta phải tự  mình tìm hiểu thôi.

Ta nên biết bài xướng bằng Hán văn của Mạc Thiên Tích cùng đầu đề và diễn  ý tương tợ với bài vịnh quốc âm. Trong bài Lộc trĩ thôn cư nôm tác giả mô tả thanh bình, long thạnh dưới quyền quản trị của ông:

Người bốn phương vầy làm một tác1,

Tranh cỏ  sưa lưu lạc dưỡng an.

Khóm non tiếng nước chan chan.

Thú vui bốn thú dân nhàn bốn dân 

Dầu muôn dân  đợi thời mây gió,

Lòng chưa nguôi chúa ngõ2 tôi ngay.”

Như vậy chí khí  họ Mạc không ở chỗ làm người tướng quân cai trị một mảnh đất nhỏ bằng oai lực, mà  nắm nơi điểm ra tay vỗ về, tạo lập êm  ấm cho nhân dân vì chính ông tự sửa đổi mình trở thành bậc lãnh tụ tài giỏi.

Ông cho rằng mình ra oai, đem tài thi thố, vùng đất Hà Tiên mặc dầu xa xôi cũng trở nên phồn thạnh như kinh đô Trung Quốc:

Đồng Châu nội Vũ ra tay,

Khi câu nước trị, khi cày nhà an.

Người thanh nhàn vật thì long thạnh,

Dân bang kỳ  ỷ sáng kỳ Tây”

Nhờ đó dân cư sống đời nhàn hạ:

Bên sông có mấy nhà ngư,

Xa xem bóng ngỡ bức đồ đan thanh.

Sánh thị  thành lấy làm nhàn nhã”

Bài Lư khê ngư bạc, hầu hết phô diễn ý đó, tác giả bên ngoài mô tả cảnh người chài lưới làm việc với những dụng cụ thô sơ, với công tác lao nhọc, bên trong hàm ý nói về mình như một vị tướng tài đánh Đông dẹp Bắc, quân giặc lớn bé đền kinh, nép mình sợ hãi, do đó vùng đất ông cai quản đựơc vô cùng yên ổn:

Đăng, nò hai loại một môn,

Lụa kình nhử  ngạc sóng cồn lao xao.

Thiếp ba đào kia người đóng đáy.

Tóm trăm loại một đãy lược thao.

Chia nhau lớn bé thấp cao.

Cá rồng mệt mắt, kình ngao lẫn tròng.

Đã càn sông lại càn tới rạch.

Chờ cạn cồn mỗi cách mỗi hay.”

Tư tưởng Mạc Thiên Tích luôn luôn hướng về việc bày tỏ vai trò mình, tài trí mình nên tác phẩm thường ngụ ý đề cao, chẳng hạn ông khen mình: Gõ gươm thần vũ, dân lành khỏi nghiêng hay ca tụng đàn cò về núi Châu Nham: Biết chỗ mà nương ấy mới khôn.

Thật ra đây chỉ là  những cách nói: mình tài đức dân chúng biết lo xa, biết thấy trước cuộc sống dễ dàng của vùng đất Hà Tiên, kéo nhau về ...

Chí khí họ Mạc không nằm trong vài câu, năm ba chữ mà bàng bạc khắp mọi bài thơ, ẩn tàng trong các đề tài. Chọn một phong cảnh đặt một đầu đề, tác giả  đều có dụng ý. Ông Đông Hồ đã thấy  được tâm can của Mạc Thiên Tích khi viết: “Chọn và đặt tên mười đầu bài nầy ngoài việc vịnh danh thắng, ca tụng phong quang họ Mạc còn có dụng ý nói lên chí khí tâm sự của mình, tuyên truyền qui quyền thế lực của mình, phô trương trù phú phồn thịnh của đất nước do tay mình khai thác, mở mang, nghiễm nhiên hùng cứ một tiểu quốc độc lập ở chốn hải giác biên đình.

1. Kim Dự  và Bình san là hai cảnh hải đảo sơn cương. Giới thiệu địa thế vững vàng như thái sơn bàn thạch.

2. Tiêu tự  và Giang thành là hai cảnh kiến trúc qui mô, một biểu thị cho đạo đức là chùa chiền và  một biểu thị cho quân sự là đồn luỹ.

3. Thạch động và Châu nham là hai cảnh sơn nham thạch cốc bí  tàng phong phú, thiên bảo vật hoa.

4. Đông hồ  và Nam phố là hai cảnh hồ hải khoáng hoạt tung hoành, tự nhiệm tiêu dao trong vân thủy yên hà.

5. Lộc trĩ  và Lư Khê là hai cảnh sinh hoạt thôn trang nhà đủ người no, nhân dân an cư lạc nghiệp1

Mạc Thiên Tích ngâm vịnh như  một phương tiện để bày tỏ niềm kiêu hãnh cũng như hé cho người khác thấy sự quan trọng của ông. Trong bài tựa Hà Tiên thập vịnh, đề năm Đinh tỵ (1737) ông ca tụng cha mình, gián tiếp  đề cao người tiếp nối cơ nghiệp đồ sộ  được để lại: “Trấn Hà Tiên, nước An Nam xưa vốn vùng hoang dã, xa xôi. Khi tiên quân ta mở mang đến giờ, hai ba mươi năm qua, dân cư mới được yên ổn đo lường và trồng trọt ...Mới biết rằng non sông Hà Tiên nầy đã được thấm nhuần phong hóa của tiên quân ta mà mà thêm phần tráng lệ.”2

Thơ Mạc Thiên Tích trôi chảy, nhiều ý thơ mới lạ, chữ dùng chính xác, âm hưởng thanh tao ...

Nhưng kỹ thuật đó không quan trọng, tư tưởng Mạc Thiên Tích mới quan trọng. đó là tư tưởng của người mang niềm kiêu hãnh riêng lúc nào cũng muốn bộc lộ, mang hoài bão lớn3 nhưng ở vị thế đặc biệt nên chỉ dám nói xa gần.

Hà Tiên Thập cảnh khúc vịnh vì vậy như một bức thơ, một sứ điệp của Họ Mạc gởi cho Chúa Nguyễn, nếu chỉ chú ý đến chỗ trang hoàng, đến màu hoa sắc là chúng ta sẽ sao lãng nội dung và không hiểu ý họ Mạc.

Chúa Nguyễn ngày xưa đã biết được ẩn ý đó của Mạc Thiên Tích nên trọng vọng ông. Điều nầy giúp ta hiểu tại sao Mạc Thiên Tích dốc lòng trung thành với Nguyễn  Ánh và giúp ta giải thích nguyên nhân gần nửa thế  kỷ cuối đời, ông không sáng tác thêm tác phẩm Nôm nào nữa.

 

Phụ lục I:

HÀ TIÊN THẬP CẢNH KHÚC VỊNH

(nôm)

Tác phẩm của Mạc Thiên Tích.

 

1. Kim Dự  lan đào

Kim Dự  đây là núi chốt then.

Xanh xanh giành trấn cửa Hà Tiên.

Ngăn ngừa nước dữ khôn vùng vẫy.

Che chở  dân lành khỏi ngửa nghiêng,

Thế cả  vững vàng trên Bắc Hải,

Công cao đồ sộ giữa Nam Thiên.

Nước an chẳng chút lông thu động,

Rộng bủa nhơn xa khắp bách xuyên.

2. Bình San điệp thuý.

Một bước càng thêm một thú yêu,

Lằng cây vít  đá vẽ hay thêu?

Mây tòng khói liễu bay chồng chập,

Đờn suối ca chim giọng thấp kiêu.

Ngọc luật Châu Công chăng phải trỗi,

Ngòi sương Ma Cật cũng thua nhiều.

Đến đây mới biết lâm tuyền quới,

Dám trách Sào Do lánh Đế Nghiêu.

3. Tiêu Tự  thần chung .

Rừng thiền xích xác án ngoài tào,

Chuông gióng chùa Tiêu tiếng tiếng cao.

Chày thỏ  khắp vang muôn khói sóng.

Oai kình tan tác mấy cung sao

Não phiền kẻ nấu sôi như vạc,

Trí huệ  người mài sắc tợ dao.

Mờ mịt gẫm dường say mới tỉnh,

Phù sanh trong một giấc chiêm bao.

4. Giang Thành dạ cổ 

Trống quân giang thú ỏi oai phong,

Nghiêm gióng đòi canh dậy núi sông.

Đánh phá lũ gian người biết mặt,

Vang truyền lịnh sấm chúng kiêng lòng.

Phao tuông đã thấy an ba vạc.

Nhặt nhiệm chi cho lọt mảy lông.

Thẻ lụn sớm hầu trưa bóng ác,

Tiếng xe rầm rạc mới nên công.

5. Thạch Động thôn vân.

Quỉ trổ  thần xoi nổi một tòa,

Chòm cây khóm  đá dấu tiên gia.

Hang sâu thăm thẳm mây vun lại.

Cửa rộng thinh thinh gió thổi qua.

Trống lổng bốn bề thâu thế giái,

Chang bang một  đãy chứa yên hà.

Chưn trời mới biết kho trời đấy

Cân đái hèn chi rỡ ỷ la.

6. Châu Nham lạc lộ.

Biết chỗ  mà nương ấy mới khôn.

Bay về  đầm cũ mấy mươi muôn.

Đã giăng chữ nhất dài trăm trượng.

Lại xấp bàn vây trắng mấy non.

Ngày giữa ba thu ngân phấn vẽ.

Đêm trường chín hạ tuyết sương còn.

Quen cây chim thể người quen chúa 

Dễ đổi ngàn cân một tấm son.

7. Đông Hồ  ấn nguyệt.

Một hồ  lẻo lẻo tiết thu quang.

Giữa có  vừng trăng nổi rõ ràng.

Đáy nước chơn mây in một sắc.

Ả Hằng nàng Tố lố đôi phang.

Rạng banh đã hứng thuyền Tô Tử

Lạnh lẽo càng đau kiểng Nhạc xương.

Cảnh một mà tình người dễ một.

Kẻ thì  ngả ngớn kẻ sầu thương.

8. Nam Phố  trừng ba.

Dòng Nam vững rạng khách dầu chơi.

Hai thức như  in nước với trời.

Bãi khói dưới không hương lại bỏ.

Hồ gương trong có gấm thêm rơi 

Sóng chôn vảy ngạc tình khôn xiết.

Nhạn tả  thơ trời giá mấy mươi.

Một lá  yên ba dầu lỏng lẻo.

Đong trăng lường gió nước vơi vơi.

9. Lộc Trĩ  thôn cư.

Lộc trĩ  ai rằng thú chẳng thanh ?

Nửa kề  nước biếc nửa non xanh.

Duỗi co chẳng túng càn thôn hẹp.

Cúi ngửa vì  vưng đức giáo lành.

Lưu lác(1) hưởng dư ơn nước thạnh.

Ê hề sẵn có của trời dành.

Đâu vui thì  đấy là an lạc.

Lựa phải chen chơn chốn thị thành.

10. Lư Khê  nhàn điếu.

Bến Vược thuyền ngư chật mấy tầng.

Trong nhàn riêng có việc lăng xăng.

Lưới chày phơi trải đầy trời hạ,

Gỏi rượu hi ha toại nghiệp hằng.

Nghề Thuấn hãy truyền bền trác trác.

Dấu Nghiêu còn thấy đủ răn răn.

Suy trong mười kiểng thanh hòa lịch

Họa kiểng Bồng Lai mới sánh bằng.

Tổng vịnh.

Mười kiểng Hà Tiên rất hữu tình.

Non non nước nước gẫm nên xinh.

Đông Hồ, Lộc Trĩ luôn dòng chảy.

Nam Phố, Lư  Khê một mạch xanh.

Tiêu Tự, Giang Thành, chuông trống ỏi.

Châu Nham, Kim Dự cá chim doanh.

Bình Sơn, Thạch Động là trường cột,

Đồ sộ muôn đời cũng để danh.

Theo Đông Hồ  - Văn học Hà Tiên - ; Lê Sum - Quốc âm văn uyển (trang 27 - 29), Nông cổ mín đàm (số 159 ngày 29 - 9 - 1904).

 

Phụ lục II.

HÀ TIÊN THẬP VỊNH (hán)

Tác phẩm của Mạc Thiên Tích

1. Kim Dự  lan đào.

Ngyên văn:

Phiên Âm:

Nhất đảo thôi ngôi điện bích liên.

Hoành lưu kỳ  thắng tráng Hà Tiên.

Ba đào thế  tiệt đông Nam hải 

Nhật nguyệt quang hồi thượng hạ thiên.

Đắc thủy ngư long tùy biến hóa.

Bàng nhai bách thụ tự liên phiên.

Phong thanh lãng tích ưng trường cứ.

Nùng đạm sơn xuyên dị quốc huyền.

Dịch thơ:

Một dẫy non xanh nước bích liền.

Giăng ngang cho mạnh đẹp sông tiên.

Đông Nam sóng biển bằng trang cả.

Trên dưới trăng trời sáng rực lên.

Rồng cá  vẫy vùng trong cõi nước.

Đá cây xan xát khắp ven miền.

Nghìn thu tiếng gió quanh chân sóng.

Đậm nhạt trăng treo nét lạ nhìn.

(Đông Hồ dịch).

2. Bình San điệp thuý.

Nguyên văn:

Phiên âm:

Lông thông thảo mộc tự thiều nghiêu.

Điệp lĩnh bình khai tử thúy kiều.

Vân ái táp quang sơn thế cận.

Vũ dư  giáp lệ vật hoa nhiêu

Lão đồng thiên địa chung linh cửu 

Vinh cộng yên hà chúc vọng dao.

Cảm đạo Hà Tiên phong cảnh dị.

Lam đồi uất uất thụ tiêu tiêu.

Dịch thơ:

Cây xanh ngăn ngắt vút cao cao.

Ngọn dựng bình giăng đẹp mĩ miều 

Mây sáng vây quanh hình núi rõ.

Mưa tàn thêm nổi bóng non theo.

Đất trời bền vững nền linh tú,

Mây khói vời xa nỗi ước ao.

Danh thắng Hà Tiên đâu dám bảo.

Cây ngàn mơn mởn biếc xanh gieo.

(Đông Hồ  dịch).

3. Tiêu Tự  thần chung.

Nguyên văn:

Phiên âm:

Tàn tinh tiêu lạc hướng thiên phao.

Mậu dạ  kình âm viễn tự xao.

Tịnh cảnh nhân duyên tinh thế giới.

Cô thinh thanh việt xuất giang giao.

Hốt kinh ngạc lệ nhiễu phong thụ,

Hựu súc  ô đề ỷ nguyệt sao.

Đốn giác thiên gia y chẩm hậu.

Kê truyền hiểu tín diệc liêu liêu.

Dịch thơ:

Lác đác trời tàn nhạt sánh sao,

Chuông chùa xa vẳng tiếng đưa vào.

Mơ màng cõi tục người tiên lẫn

Đồng vọng bờ cây bến nước xao.

Hạc để tiếng vương cành gió thoảng.

Quạ đưa lời gởi ngọn trăng cao.

Gối nghiêng giấc tỉnh đêm mê mộng

Sớm giục canh gà tin khát khao.

(Đông Hồ  dịch)

4. Giang Thành dạ cổ.

Nguyên văn:

Phiên âm:

Thiên phong hồi nhiễu đống vân cao,

Tỏa thược trường giang tương khí hào.

Nhất phiến lâu thuyền hàn thủy nguyệt,

Tam canh cổ  giác định ba đào

Khách nhưng cánh dạ tỏa kim giáp 

Nhân chính can thành ủng cẩm bào.

Vũ lược thâm thừa anh chủ quyến,

Nhật Nam cảnh vũ lại an lao.

Dịch thơ:

Gió cuốn trời cao mây lạnh tung,

Sông dài vây tỏa khí anh hùng.

Lâu thuyền dãi bóng trăng sương lạnh,

Trống mõ  cầm canh sóng nước trong.

Kim giáp  đã nhờ đêm chặt chẽ

Cẩm bào cho được chốn thung dung.

Lược thao đem đáp tình minh chúa.

Nước Việt biên thùy vững núi sông.

(Đông Hồ  dịch)

5. Thạch Động thôn vân .

Nguyên văn:

Phiên âm:

Sơn phong tủng thúy để tinh hà.

Động thất linh lung uẩn bích kha

Bất ý  yên vân do khứ vãng.

Vô ngân thảo mộc cộng bà sa.

Phong sương cửu lịch văn chương dị 

Ô thố tần di khí sắc đa.

Tối thị  tinh hoa cao tuyệt xứ.

Tùy phong hô  hấp tự tha nga.

Dịch thơ:

Xanh xanh ngọn  đá chạm thiên hà 

động bích long lanh ngọc chói lòa.

Chẳng hẹn khói mây thường lẩn quất.

Không ngăn cây cỏ mặc la đà.

Phong sương càng dãi màu tươi đẹp

Nhật nguyệt chi ngừng bóng lại qua

Chót vót tinh hoa đây đã hẳn.

Theo chiều gió lộng vút cao xa.

(Đông Hồ  dịch)

6. Châu Nham lạc lộ 

Nguyên văn:

绿

Phiên âm:

Lục ấm u vân xuyến mộ hà,

Linh nham phi xuất bạch cầm tà.

Vãn bài thiên trận la phương thụ.

Tình lạc bình nhai tả ngọc hoa.

Bộc ảnh cộng phiên minh nguyệt tụ 

Vân quang tề  táp tịch dương sa.

Cuồng tình thế lộ tương thi kế.

Lục lục thê  trì thủy bạch nha.

Dịch thơ:

Bóng rợp mây dâm phủ núi non.

Bay la bay lả  trắng hoàng hôn.

Góc trời thế  trận giăng cây cỏ.

Đóa ngọc hoa rơi khắp bãi cồn.

Trăng dãi non treo làn thác đổ.

Chiều tà  cát lẫn ánh mây tuôn.

Trên đường bay nhảy bao xuôi ngược Nghĩ cảnh dừng chân bến nước còn.

(Đông Hồ  dịch)

7. Đông Hồ  ấn nguyệt.

Nguyên văn:

Phiên âm:

Vân tể  yên tiêu cộng diểu mang,

Nhất loan phong cảnh tiếp hồng hoang

Tình không lãng tịnh truyền song ảnh,

Bích hải quang hàn tiển vạn phương.

Trạm khoát  ứng hàm thiên đãng dạng.

Lẫm linh bất quí hải thương lương.

Ngư long mộng giác xung nan phá.

Y cựu băng tâm thượng hạ quang.

Dịch thơ:

Khói lạnh mây tan cõi diểu mang.

Một vùng phong cảnh giữa hồng quang.

Trời xa mặt sóng in đôi bóng.

Biển bạc vành gương dọi bốn phương.

Rộng đã sánh cùng trời bát ngát,

Sâu còn so với biển mênh mang.

Cá rồng tỉnh giấc chi tan vỡ,

Một tấm lòng băng vẫn chói chang.

(Đông Hồ  dịch)

8. Nam Phố  trừng ba.

Nguyên Văn:

Phiên âm:

Nhất phiến thương mang nhất phiến thanh.

Trừng liên giáp phố lão thu tình.

Thiên hà  đái vũ yên quang kiết 

Trạch quốc vô phong lãng mạt bình.

Hướng hiểu cô phàm phân thủy cấp.

Xu triều dung phảng tải vân khinh.

Tha tri nhập hải ngư long nặc.

Nguyệt lãng ba quang tự tại minh

Dịch thơ:

Một vùng xanh ngát một doành khơi.

Bãi nối màu thu tiếp sắc trời.

Mưa khéo mây  đem về kết tụ 

Gió nào cho sóng động tăm hơi.

Biển hâng hẩng sáng triều tuôn dẫy,

Buồm nhẹ  nhàng đưa khói thoảng trôi.

Vực thẳm cá rồng còn ẩn náu.

Êm đềm nước ngậm bóng trăng soi.

(Đông Hồ  dịch)

9. Lộc Trĩ  thôn cư.

Nguyên văn:

鹿

沿

鹿

Phiên âm:

Trúc ốc phong qua mộng thủy tinh.

Nha đề thiềm ngoại khước nan thinh.

Tàn hà  đảo quải duyên song tử 

Mật thụ  đê thùy tiếp phố thanh,

Dã tính thiên đồng viên lộc tĩnh

Thanh tâm mỗi tiễn đạo lương hinh.

Hành nhân nhược vấn trú hà xứ.

Ngưu bối nhất thanh xuy địch đình.

Dịch thơ:

Lều tre giấc tỉnh gió lay mình,

Tiếng quạ  ồn chi trước mái tranh.

Ráng xế  treo ngang khung cửa tím 

Cây vườn che lợp luống rau xanh

Tánh gần mộc mạc hươu nai dại 

Lòng thích thơm tho nếp tẻ thanh.

Ai đó hỏi thăm nơi chốn ở.

Lưng trâu tiếng sáo lặng làm thinh.

(Đông Hồ  dịch)

10. Lư Khê  nhàn điếu.

Nguyên Văn 

Phiên âm:

Viễn viễn thương lang hàm tịch chiếu 

Lư khê  yên lý xuất ngư đăng.

Hoành ba yểm  ánh bạc cô đính.

Lạc nguyệt sâm si phù tráo tăng

Nhất lãnh thoa y sương khí bách

Kỷ thanh trúc trạo thủy quan ngưng.

Phiêu linh tự  tiếu uông dương ngoại 

Dục phụ  ngư long khước vị năng

Dịch thơ:

Bóng chiều nắng ngả dòng sông thẳm,

Rạch Vược đèn ngư khói chập chùng

Bến cũ  nhấp nhô thuyền đỗ sóng

Bờ xa san sát lưới phơi trăng

Cánh tơi  áo thấm sương pha buốt,

Mái trúc chèo khua nước sáng trưng.

Lồng lộng vời trông cười thử hỏi

Cá rồng vùng vẫy chốn nầy chăng.

(Đông Hồ  dịch)

 

 

1 Chữ Mạc vốn không có bộ ấp, Chúa Nguyễn muốn phân biệt với họ Mạc người Việt nên thêm bộ ấp bên cạnh; sự thêm còn ngụ ý ghi công lập ấp, mở mang vùng biên địa của dòng họ mới nầy.

2 Trũng Kè ngày nay thuộc hải cảng Sihanoukville, dưới Cộng Hòa Khmer đổi lại là Kompong - Som.

3 Mạc Cửu theo Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí, người xã Lê Quách, huyện Hải Khang, phủ Lôi Châu, Quảng Đông, từng làm quan với nhà Minh.

4 Vũ Thế Danh - Hà Tiên trấn, Hiệp trấn. Mạc thị gia phả, trích theo Đông Hồ văn học Hà Tiên.

5 Tức Thuận Hóa, Quảng Nam, vùng thuộc Chúa Nguyễn.

6 Số nhân vật trong Chiêu Anh Các có thể còn nhiều hơn nữa, vì những người họa Thụ Đức hiên tứ cảnh khác với những người họa Hà Tiên thập vịnh. Tuy nhiên ta biết chắc chắn một điều trong số nầy chỉ có sáu người Việt Nam. Theo Lê Quý Đôn - Kiến văn tiểu lục (mục Thiên chương) đó là Trịnh Liên Sơn, Phan Thiên Quảng, Trần Trịnh, Đặng Minh Bản, Mạc Triều Đáng và Nguyễn Nghị (Lê Quý Đôn trong Kiến văn lục, có chép lại bài họa Thạch Động thôn vân của ông nầy).

7 Theo bài tân tự của Trịnh Hoài Đức trong “Minh Bột di ngư thi thảo” nhan đề tập nầy: “Bát Tiên thập cảnh toàn tập”.

8 Theo bài tựa của Mạc Thiên Tích.

9 Về sau, Nguyễn Cư Trinh lúc vào Long Hồ có họa thêm 10 bài năm 1755, nhưng khi ấy sách đã khắc in khá lâu nên không có trong Hà Tiên thập vịnh. 10 bài này Lê Quý Đôn cho chép lại trong “Phủ Biên tạp lục”. Xem phần phụ lục của Nguyễn Cư Trinh.

10 Bản dịch của Ngạc Xuyên Ca Văn Thỉnh – “Đại Việt tạp chí” số 12 ngày 01 - 04 - 1943.

11 Danh sách 32 vị nầy xem trong Kiến văn tiểu lục, mục Thiên chương. Ba mươi hai vị nầy khác với những tác giả họa Hà Tiên thập vịnh.

12 Bốn quyển 4,5,6,7, chúng tôi ghi theo lời tân tự của Trịnh Hoài Đức trong “Minh Bột di ngư thi thảo”: “Tôi vào tuổi thành đồng (hai mươi) đã từng thấy ... các bộ sách nầy xuất bản lưu hành”.

13 Đông Hồ - Văn Học Hà Tiên - Quỳnh Lâm, Sài Gòn, 1970, trang 143.

14 Mười bài thơ luật và bài tổng vịnh in lần đầu tiên bằng quốc ngữ trong tuần báo Nông Cổ Mín Đàm số 159 ngày 29/9/1904.

15 Một vài đầu đề của Mạc Thiên Tích có tính cách cổ điển như “Lan đào”, “Thần chung”, “Ngư ca” ... ở Việt Nam năm 1736 Ngụy Tiếp, hiệu Ngọc Dung tự Xuyên Chu đến Kinh đô (Thăng Long) có sáng tác “An Nam kinh đô bát cảnh” (Còn gọi là Thăng Long bát cảnh) cũng có vài đề tài tương tự. Cũng khoảng thời gian nầy Ngô Thời Sĩ có mười bài vịnh cảnh đẹp ở chung quanh núi Bàn A (Thanh Hoá) đề tài cũng trùng vài mô thức đó.

16 Sáu ngao ấy giá: Điểu nghiêu tải, theo sách Liệt Tử, phía đông Bột Hải, có nhiều hang núi, trong đó có năm hòn không chân, trời ngại trôi nên sai 15 con ngao đội giữ lại. Ở đây tác giả dùng chữ sáu ngao vì đảo kim dự có hai, Đại Kim Dự và Tiểu Kim Dự; giá: kệ; Sáu con nghiêu làm kệ đở 2 hòn Kim Dự (Chú thích theo Đồng Hồ Sđd). Năm mây là lầu: năm mây tức mây ngủ sắc được cho là mây lành; tác giả nói đảo cao, luôn mây lành bao phủ, vừa mô tả cảnh đẹp, nguy nga vừa mô tả khí vượng. Con vua ngậm đá: Điển tinh vệ hàm thạch: chim tinh vệ ngậm đá núi Tây đen đến bể đông để lấp, tác giả muốn nói cảnh đẹp do thiên nhiên tạo dựng. Kim thang: do chữ kim thành, thang trì; thành vàng ao (hào) nước sôi. Chỉ chỗ phòng thủ kiên cố. Nhạc lộc: núi đẹp, chân núi đẹp. Rành rạnh: rõ ràng hẳn hoi.

17 Bồi thành dài: Tác giả nói mình đã xây đắp một dải ttrường thành dọc theo bờ biển để chống lại sóng (thu hào, phục ba), để làm chỗ đậu cho thuyền chiến.

18 Ghe phen: nhiều phen.

19 Dụt vạc sôi: Làm tắt chảo lớn đang sôi, dẹp yên những nguyên do sanh tai họa (dụt biến âm của diệt: trừ khử, làm cho hết cháy).

20 Cửa viên: dịch chữ viên môn nơi doanh trại. Đào Duy Từ dịch là cửa xe, bài Ngoạ Long Cương: Cửa xe đài án việc rồi. Vạc lậu đồng: đồ dùng để cho biết giờ ngày xưa. Sơ canh: canh đầu từ 8 đến 10 giờ.

21 Cả câu đề: gió đông như cái lược chải cho núi xanh thêm đẹp thêm. Phỉ: trang hoàng, pha màu, cả câu; mưa Xuân điểm sắc cho cành lá. Non bện: lá non, đan vào nhau. Phới gie: chồi non đưa ra ngoài. Giè (?) có lẽ chữ này xưa có nghĩa như một trạng từ (xanh thật xanh), (bích mát: xanh giè).

22 Đông Hồ Sđđ trang 265.

23 Một tác: một nhóm, giờ ta còn nghe nói bạn tác.

24 Chúa ngõ: Chúa hiền, có đức; ngõ, tiếng cổ có nghĩa hiền như thành ngữ “ghen hiền ghét ngõ”.

25 Đông Hồ - Văn học Hà Tiên - Sđđ, trang 36.

26 Trích dịch trong “Văn Tịch Chí” của Phan Huy Chú.

27 Các ông Dật Sĩ và Nguyễn Văn Hầu - “Thất Sơn mầu nhiệm” - Từ Tâm - in lần II - Sài Gòn, trang 36 có lý phần nào khi cho rằng họ Mạc ếm dân tộc Việt Nam.

28 Lưu lác: Theo Huình Tịnh Của thì là lưu loát, nghĩa là dư giả, không thiếu vật gì, đối với ê hề ở câu dưới. Là chữ cổ, còn thấy trong vở tuồng Trương Ngáo.

 



Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa chuyển từ Hoa Kỳ ngày 12.10.2013 .
Trang Trước
Trang Tiếp Theo

Quay Lên Đầu Trang