Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




TỪ PHONG THỦY ĐỀN HƯNG VŨ VƯƠNG,

BÀN VỀ SỰ TỤ TÁN NHÂN TÀI Ở QUẢNG NINH



Đây là một vấn đề tâm linh, chỉ có ý nghĩa tham khảo. Những gì cha ông ta đã nghĩ suy, chúng ta nên biết, ít nhất cũng làm phong phú thêm tư duy của mình và sau nữa có thể gợi ý cho các việc tiếp theo.

Các cụ xưa dạy rằng: sự thành đạt của con người phụ thuộc và  3 yếu tố. Một là vận hội, hai là phong thủy, ba là tài đức. Như vậy tài đức, cái rất cơ bản, chỉ là cái thứ ba. Vận hội nay ta hiểu là cơ cấu nhân sự, là sự  luân chuyển cán bộ, hay người tiền nhiệm về hưu, hoặc do các tác động khác, như được người có tín nhiệm đề cử, được “lọt vào mắt xanh” của cấp trên. Cái đó đã rõ. Còn phong thủy thì vô cùng mơ hồ, nhưng nhiều người đã nhận ra. Không phải ngẫu nhiên mà đình chùa, cúng khấn, xin quẻ, cầu tài… rầm rộ như  bây giờ. Đây cũng là một yếu tố của phong thủy. Nhưng nghĩa đen của phong thủy là gió  và nước, tác động của gió và nước vào số phận của con người, thông qua cái hướng đình, hướng đền, hướng chùa, của một vùng đất. Ca dao ta có câu: Chung qui là tại hướng đình/ Cả làng toét mắt chẳng mình gì tôi… Chả biết có đúng không? Vậy ta cứ thử bàn xem sao…

Ngày xưa, biển vào đến tận Đông Triều và cả vùng đất từ  Uông Bí đến Cẩm Phả bây giờ còn là  vùng biển đảo hoang vắng, không có người ở. Những người dân chài nghỉ ngơi trong bóng núi Truyền  Đăng, thấy núi có chữ đề của nhà vua ở  phía đông từ hai ba trăm năm trước (1468), lại thấy có một rẻo đất cao chân núi ở  phía Tây Bắc, lại có giếng nước ngọt ở  rẻo đất đó, nghĩa là ở giữa biển, rất lạ lùng, cho dân chài ghé vào, neo thuyền, lấy nước ngọt để đi biển. Cảm nhận đây là  linh địa, bèn lập một miếu thờ Thần Biển trên rẻo đất cao đó, để hi vọng Ngài che chở cho mình an toàn trước sự tàn bạo của gió to sóng cả biển khơi khi đi đánh cá. 

Điểm xuất phát chỉ có như vậy thôi. Sau gọi miếu thờ Thần Biển là Đông Hải Đại vương, nhiều tỉnh cũng có miếu thờ như thế  ở ven biển do những người dân chài thiết lập. Sau đó đền mới có tên một vị nhân thần là Hưng Vũ (Trần Quốc Nghiễn), có thể xác định được là năm 1913 sau một đợt trùng tu của 10 hộ chủ thuyền. Khoảng 3 năm trước, năm 1910, đền Cửa Ông được xây mới đã thờ em ruột của ngài là Trần Quốc Tảng. (Còn đền thờ Trần Hưng Đạo ở Long Tiên, mới có đích xác từ năm 1943 - thế là hoàn chỉnh hệ thống đền 3 nơi, thờ 3 cha con Trần Hưng Đạo, đều là các anh hùng dân tộc). Điều đó hợp với đạo trời, với lòng người, nên có cơ sở  để phát triển và một vùng đất cũng nhờ thế mà hưng thịnh thêm. Nhưng nên hiểu, đây là đền thờ vọng Trần Quốc Nghiễn, vì Ngài là danh tướng thời Trần mà chiến công hiển hách nhất trong cuộc kháng chiến chống Nguyên là ở vùng Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang Lạng Sơn ngày nay, trong đó có việc mai phục và truy kích đường rút chạy của Trấn Nam vương Thoát Hoan, tên chủ tướng (số 1) của toàn bộ cuộc Nam chinh của nhà Nguyên, dọc đường từ Thăng Long qua Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn về Trung Quốc.

Nhưng có điều kì  lạ là cái hướng đền được chọn, chứng tỏ  có trí tuệ kì tài của thầy phong thủy. Đền tựa vào rẻo đất cao chân núi Truyền Đăng, chứ không tựa hẳn vào núi Truyền Đăng, nhìn xuống biển chứ không nhìn ra cửa biển. Và như  thế, ngôi đền trở thành “nhãn địa”, thành mắt của đất, thành trung tâm tâm linh để xác  định phong thủy của một địa phương.

Từ khi người Pháp làm chủ và khai thác vùng than Hòn Gai, yêu cầu có  cảng biển là rất hệ trọng. Từ năm 1904 đến năm 1918, người Pháp đã thuê Tuần dương hạm Nga khảo sát vùng biển Cửa Lục để khơi luồng cho tầu có trọng tải lớn ra vào. Tại hồ sơ  số 1459 của Pháp còn ghi rõ cuộc khảo sát này, trong đó ta nhận ra dòng chảy từ ngàn xưa của sông Cửa Lục là từ cửa Cảng Xăng dầu B12 bây giờ, qua eo biển Hòn Gai - Bãi Cháy, đến Vũng Chùa, rồi lượn qua hòn Củ Dài - đoạn này dòng nước chảy ngang phía xa trước cửa đền và vuông góc với cửa  đền Hưng Vũ vương, rồi qua hòn Măng Đèn mà đổ ra cửa biển. Độ sâu của dòng chảy trung bình được ghi trên bản đồ là 5 mét nước. Như vậy  đền Hưng Vũ vương đã đặt đúng thế đất “tụ nhân như tụ thủy”. Nước tụ  ở trước cửa và người tụ ở sau lưng. Có thể thế chăng mà ta có vùng đất sầm uất như bây giờ, tính từ Hoành Bồ đến Cẩm Phả.

Căn cứ vào bản đồ khảo sát của Nga, ngày 23/7/1943, tại Đà Lạt, toàn quyền Pháp là Jean Decoux (ông này làm Toàn quyền  Đông Dương từ ngày 25/6/1940 đến 9/3/1945, nguyên là  Thủy sư đô đốc Pháp), đã kí văn bản số  1427 D. cho phép mở luồng biển mới, chạy thẳng tắp từ Lạch Giản - Đầu Trâu vào Bãi Cháy, với độ sâu trung bình 10 mét nước. Cho đến bây giờ, đường vào cảng Bãi Cháy vẫn đi theo luồng này. Và như  thế, luồng đường biển mới chạy vát trước cửa  đến Hưng Vũ vương, tạo ra thế nước chảy xuôi và chạy thẳng ra biển, không qua cửa đền. Với thế nước này, vùng đất mà ngôi đến này tượng trưng, ở vào thế “tán mà không tụ”. Sách phong thủy viết rằng: với vùng đất như thế, các hào kiệt phải ra khỏi đó, mới lập được chiến công hiển hách.

Chả biết điều  đó đúng hay sai. Xin các bạn ngẫm nghĩ. Nhưng từ  đó, tôi rất quan tâm đến các cháu, nếu học thành tài mà không về lại Quảng Ninh thì tôi không lấy đó làm điều buồn. Đất này sinh ra các tài năng để được sử dụng ở những nơi khác. Cũng là phục vụ đất nước cả mà, có  sao đâu.

Vậy những tài năng lại chọn Quảng Ninh làm đất sống, thậm chí cả đất chết, muốn cống hiến trọn đời cho vùng đất này, lại càng quí hơn và nên xử sự với họ  ra sao, để họ không bao giờ phải ân hận là đã không bỏ mảnh đất này mà ra đi cho sớm rồi.

Tôi đặt điều suy nghĩ  này trước các đồng chí lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh hiện nay, như một vấn đề cấp thiết  để các đồng chí xem xét, suy ngẫm.

 



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 05.10.2013.

Quay Lên Đầu Trang