Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới










ĐẠI CƯƠNG VỀ THƯ PHÁP










Đại cương về thư pháp

Thư pháp (Calligraphy) là nghệ thuật viết chữ đẹp của người Trung Quốc với các công cụ gọi là "văn phòng tứ bảo" (bút, nghiêng, giấy, mực). Thư pháp không chỉ là nghệ thuật, mà còn là một "đạo sống" (Thư pháp giả, Đạo giả). Cổ nhân cũng từng nói: "Học tập Thư pháp khả dĩ tu thân, dưỡng tính, đào dã tâm tình". Nhận thấy chữ Hán có những nét khá độc đáo, cho nên có người muốn dùng trong hội họa. Đó là thư pháp.

Người đầu tiên đưa ra sử dụng là Vương Hy Chi (321 - 379) đã định nghĩa như sau:

"Mỗi nét ngang là một đám mây trong một thế trận, mỗi nét móc là một cây cung giương lên, có sức mạnh khác thường, mỗi nét chấm là một tảng đá rơi xuống từ đỉnh núi cao, mỗi nét phẩy là một cái móc bằng đồng, mỗi nét sổ dài là một thân cây cổ kính, mỗi nét phóng khoáng mãnh mai là một lực sĩ chạy thì ở tư thế sẵn sàng lao lên phía trước".

Thư pháp chỉ là cách vẽ. Chỉ khi nào đạt được tư tưởng Thiền trong thư pháp thì mới phả vào đó một tinh thần, gọi là "thư pháp Thiền"; tâm không ổn định, thì không có thư pháp hay được. Người Nhật Bản từ thuở tiếp xúc với văn hoá Trung Quốc, đã nhận ra giá trị ưu việt của bộ môn nghệ thuật kỳ diệu nầy, đã không gọi tên là "thư pháp", mà gọi nó là "thư đạo" (Shodo). Không những thế, nó là một môn học hẳn hoi, với đầy đủ cơ sở lý luận, từ đời nhà Hán đã từng gọi là "thư học".

Các đại gia thư pháp trước khi thành danh đã luyện tập viết mấy chục năm trời ròng rã. Danh từ "lâm trì" là thuật ngữ ám chỉ sự khổ luyện nầy, được kể ra vô số câu chuyện ẩn dụ về tính kiên trì hiếm có nầy.

Sài Ung đời nhà Hán để lại một thiên lý luận về môn thư pháp, có tên là "bút pháp". Vỹ Đản đời Tấn đã ra công sưu tầm được tài liệu quý giá nầy, xem là trân bảo. Khi đó Chung Diêu cầu mãi mà không được, cho nên uất ức phát bệnh trầm trọng, đến nỗi Ngụy Thái Tổ phải ban cho ngũ linh đan mới cứu khỏi được. Khi Vỹ Đản qua đời, Chung Diêu âm mưu lén quật mồ lên, đánh cắp thiên "bút pháp" và ngày đêm không rời, khổ luyện rất công phu, thậm chí khi nằm trên giường cũng lấy tay viết lên chăn gối.

Trương Chi đời nhà Hán mỗi lần tập viết xong thì đem rửa bút ở ao, lâu ngày nước đen như mực (lâm trì học thư, trì thủy tận mạc).

Từ đó mới có thuật ngữ "lâm trì", có nghĩa là khổ luyện cách viết chữ. Đời Tấn, Vương Hy Chi phải trải qua 15 năm chuyên tâm rèn luyện thư pháp, bắt đầu một chữ "vĩnh" (dũng tâm thập ngũ niên, thỉ công nhất "vĩnh" tự).

Đời Tùy, nhà sư Thích Trí Vĩnh (tục gọi là Vĩnh Thiền Sư) cháu 7 đời của Vương Hy Chi, trụ trì ở chùa Vĩnh Hân, ở huyện Ngô Hân; ông lên lầu chùa rồi không xuống, ở đó suốt 40 năm để luyện thư pháp (đăng lâu bất hạ tú thập niên). Ông dùng bút cùn (thoái bút) chất cao thành một gò, gọi là "thoái bút trủng" (trủng là gò mả).

Khi thành danh, người người đến xin chữ, khiến cho ngạch cửa nhà ông bị dẫm hư, đến nỗi phải lấy sắt lá bao lại, gọi là "thiết môn hạn". Vua Đường Thái Tông (Lý Thế Dân) lúc rỗi, tay không viết chữ trong không khí (Trừu không luyện tự). Nửa đêm tốc dậy, đốt đuốc luyện Lan Ðình ký, tức là mặc tích của Vương Hy Chi (dạ bán khởi bá chúc học Lan đình ký).

Nhà sư Thích Hoài Tố đời Đường, thuở nhỏ nhà nghèo không tiền mua giấy, chỉ còn biết khổ luyện trên những tàu lá chuối mà thành công, được người đời ca tụng là bậc "thảo thánh" (bậc Thánh về lối chữ thảo), mực đẩm lâm ly, bút pháp tiêu sái, dường như cuồng phong, nhưng lại không hề rối loạn.

Nổi tiếng về lối chương thảo thì có "Thảo thành nhị vương" tức là hai cha con Vương Hy Chi và Vương Hiến Chi. Nổi tiếng về Cuồng thảo phải kể Trương Húc và Hoài Tố, mà thế nhân thường gọi là "điên Trương, túy Tố" (Trương Húc điên, Hoài Tố say"...

Thư pháp Thiền ở Nhật có kể giai thoại như sau: Khi một người bước chân lên đền Obaku ở Tokyo, sẽ nhìn thấy trên cổng đền bằng gỗ chạm mấy chữ "Đệ nhất đế". Chữ chạm to lớn khác thường và những ai thích chữ đẹp đều luôn luôn chiêm ngưỡng như là một kiệt tác.

Những chữ nầy do thiền sư Kosen vẽ lên 200 năm về trước. Kosen vẽ trên giấy và người thợ chạm theo đó mà chạm lớn vào gỗ. Trong lúc Kosen phác họa trên giấy, chú đệ tử nhỏ can đảm của Kosen đã mài mực cho Kosen đến mấy lần để "viết cho đẹp mới thôi".

Chú nói với Kosen như thế. Kosen viết lần thứ hai và quay lại hỏi đệ tử. Cậu bé lắc đầu: "Bức nầy lại còn tệ hơn bức trước kia nữa!" Kosen vẫn kiên nhẫn viết lần nầy qua lần khác lên đến 41 tấm và lần nào hỏi ý kiến cho đệ tử mình, thì cậu ta vẫn chê chỗ nầy, chê chỗ kia.

Sau đó chú đệ tử bước ra ngoài. Khi đó Kosen thầm nghĩ: "Bây giờ là lúc ta tránh được con mắt sắc bén của câu bé". Kosen viết nhanh, với cái tâm không lo lắng "Đệ nhất đế". Chú bé bước vào, reo to lên "một kiệt tác".

Những câu chuyện về thư pháp như đã kể trên đây thì nhiều vô số. Điều nầy cho thấy những công trình "trị thư" của ngưòi xưa chuyên cần, trì chí đến mức độ nào!

Người Trung Hoa viết theo những thể dáng và bố cục khác nhau: chân thư, hành thư, thảo thư, triện thủ (đại triện và tiểu triện), Họa thư. Cũng có thể dưạ theo kiểu viết của từng tác giả nổi tiếng và có ảnh hưởng lớn, được gọi là các “thế” như Nhan thế (thế chữ của Nhan Chân Khanh), Liễu thế (thế chữ của Liễu Công Quyền), Âu thế (thế chữ của Âu Dương Tuần)...

Trong cách viết thư pháp, tùy theo bút lực, tâm lực, trí lực, cũng như về nguồn cảm hứng thể hiện trong từng thời điểm khác nhau, người viết có thể dùng những động tác khác nhau: ức (nhấn xuống), dương (nâng cao lên), tốn (dè dặt, thận trọng trong từng đường nét), Tỏa (ha dần xuống), trì (khoan thai, chậm rãi), tốc (viết nhanh, thanh thoát), hoàn (vuốt lại), khẩn (viết gấp tùy hứng), khinh (nhẹ nhàng), trọng (nặng tay, nét đậm).

Thiên tài thư pháp Trung Quốc

Chữ Hán theo lối tượng hình, ra đời rất sớm trong lịch sử nhân loại, cho nên thư pháp cũng được phát triển ngay từ đầu. Những di tích khảo cổ học khai quật ở Ðôn Hoàng đã cho thấy những loại chữ đầu tiên, theo kiểu tượng hình đó.

Vốn là một nghệ thuật viết chữ đẹp, sự phát triển của loại chữ Hán quan hệ mật thiết với sự diễn tiến không ngừng của những thế chữ khác nhau, cũng như những thay đổi của các dụng cụ về viết (bút, nghiên, mực, giấy...).

Về thế chữ, chữ Hán khởi đầu bằng loại giáp cốt (viết trên mu rùa), rồi sau đó, xuất hiện những loại chữ kiểu đại triện, tiểu triện, lệ thư; sau dẫn lại diễn biến thành loại khải thư như chữ thông dụng ngày nay.

Nghệ thuật thư pháp Trung Quốc đã phát sinh và tiến triển từng bước theo những thay đổi trong quá trình đó, trở thành một tài sản nghệ thuật quý báu trong kho tàng văn hoá cổ truyền Trung Quốc. Những nhà nghiên cứu về thư pháp ngày càng nhiều, nên có thêm nhiều khám phá mới lạ trong từng thời kỳ.

A- Giáp cốt văn là loại viết chữ cổ nhất của người Trung Hoa. Theo nghiên cứu, người xưa đã từng dùng dao (hay những dụng cụ sắc bén khác) để khắc vạch lên mai rùa, xương thú mà thành. Ngoài ra cũng dùng trong thuật bói toán.

Loại chữ giáp cốt còn được lưu truyền trong sách sử ngày nay, đa phần xuất hiện vào đời nhà Thương; một số nhỏ thì thuộc Tây Chu (theo Lâm Ngữ Ðường). Giáp cốt văn được xem là thư pháp đầu tiên của Trung Quốc.

Vào đời Tây Chu, loại chữ “đại triện” xuất hiên; một số nhà nghiên cứu cho rằng loại chữ nầy do vị quan Thái sử đời vua Chu Tuyên Vương là Trứu (Hoàng Trứu) nghiên cứu để sáng tạo ra, biến đổi của giáp cốt văn. Loại chữ nầy còn được gọi là “Trứu văn”.

Ða số những vương thất quý tộc vào đời nhà Thương và nhà Chu thường sai người chế tác ra rất nhiều lễ vật dùng trong cúng bái, như chuông vàng bằng kim loại, mà trên đó bao giờ cũng khắc chữ; do đó, người đời gọi là “kim văn”.

Trên nguyên tắc bố cục và hình thành thì loại “kim văn” của đời nhà Thương có nhiều điểm giống như loại giáp cốt văn ngày trước; cho đến đầu đời nhà Chu, nhờ công trình của Quách Thế Giai, thể “kim văn” đã được chỉnh đốn lại, với khí thế mạnh mẽ; nét chữ mới nầy tương đối phóng khoáng hơn.

B- Loại chữ triện: Cho đến những năm cuối thời Chiến Quốc, (206 trước CN) thì lại có thêm những thay đổi thêm, tỏ rõ bước chuyển biến, để sau nầy trở thành loại chữ “triện” ( đại triện và tiểu triện).

Tiểu triện là lối chữ được hai vị danh nho đời nhà Tần là Lý Tư và Triệu Cao sáng tạo ra, đã được giản lược khá nhiều so với loại đại triện, cho nên khi viết được tiện lợi hơn và nhanh chóng hơn nhiều. Bản thân vị Thừa tướng Lý Tư cũng là một nhà đại thư pháp đời Tần. Theo những di tích còn lại, thì thể viết tiểu triện của ông rất mềm mại, hoạt bát, cho nên được các danh nho thời đó mệnh danh là loại “ngọc cân triện”.

Cũng trong giai đoạn nầy, loại bút lông đã được phổ biến nhiều; vật liệu để viết nầy là những vải lụa và những thẻ tre, những bản gỗ mềm mại, cho nên những thể chữ viết đã có phong cách khác với loại chử khắc trên giáp cốt ngày xưa. Thư pháp được chỉnh đốn thêm nhiều.

C- Loại chữ Lệ: càng ngày chữ Hán lại được canh cải thêm. Ðể cho việc viết sách được tiện lợi hơn, loại “chữ lệ” được ra đời sau đó. Loại chữ nầy đời Tần thì gọi là “Tần lệ”. Sau khi triều đại Tây Hán được kiến lập, chỉnh đốn mọi sinh hoạt văn hoá, quan thừa tướng Tiêu Hà ra quy định: Thư pháp là một trong những nội dung thi cử từ trung ương đến địa phương; những người đạt được những thành tích tốt thì có thể giao phó đảm nhiệm công việc văn thư trong các cơ quan chính quyền.

Tuy trong giai đoạn nầy, vẫn còn dùng đến loại chữ đại triện và tiểu triện, nhưng loại chữ “lệ” được xem là quan trọng hơn và phổ biến hơn. Trong nguyên tắc nầy, loại chữ “lệ thư” đã trở thành thói thời thượng trong cơ quan chính quyền khắp nơi trong xã hội.

Cho đến đời vua Thuần Ðế nhà Ðông Hán, cách viết chữ theo hình giống như chữ “bát”, cho nên gọi đó là “bát phân thể”. Loại chữ lệ vào đời nhà Hán nầy nếu đem so sánh với cách viết của đời nhà Tần thì có những thay đổi khá lớn về cách thể hiện, bố cục, cũng như về ý nghĩa của từng chữ, trong thể tượng hình và hài thanh.

Chữ lệ đời nhà Hán (206 trước CN-24) còn truyền lại cho đến nay đa phần đều được ghi khắc trên những bi ký vào hai thời Hoàn Ðế và Linh Ðế là giai đoạn hưng thịnh nhất của triều đại nầy.

Nghiên cứu những văn bản nẩy (theo bản dập in), có những thể viết rất tinh tế, sắc bén, đạt được cái “thần vận siêu dật” (theo Lương Khải Siêu), nét chữ chắc khoẻ, đều đặn, gân guốc, nổi tiếng về những tư thế kỳ lạ, phong túng; biểu hiện được phong cách đa dạng của loại chữ lệ được biến cách đời Hán.

Trong số những nhà thư pháp nổi tiếng trong thời đại nầy thì Thái Ung (cuối đời Ðông Hán) được ca tụng nhất về cách tu dưỡng cao siêu và đầy tính chất sáng tạo cho loại chữ Lệ Vào thời vua Linh Ðế, ông đã viết bản “lục kinh” trên bia đá: đó là tấm “thạch kinh” Hỷ Bình nổi tiếng trong lịch sử.

Khi tấm bia nầy hoàn thành và được dựng lên, người đếm xem đông đúc vô tả, mỗi ngày có hàng ngàn cỗ xe từ bốn phương đổ về đế kinh để thưởng ngoạn.

D- Loại chữ chân: Thời gian sau đó, chữ lệ lại biến cách dần; cho đến đời Tam Quốc, thì Hán lệ lại được phát triển lên thêm một bực nữa; nét chữ cũng như cách kết cấu chữ lệ nghiêm chỉnh, đẹp đẽ thêm nhiều, hình thành chữ “chân” cũng được gọi là “chính khải”. Trong số những nhà thư pháp trong giai đoạn nầy, thì loại chữ “chân của Chung Do vào cuối đời nhà Hán được ca tụng là “cổ nhã tuyệt diệu” khó mấy ai sánh kịp.

Sau nầy, Lý Thái Bạch khen lối viết chữ “chân” của Chung Do là “Hạc múa trên trời; chim hồng giỡn sóng”. Từ đó được nhiều người sao lục để truyền bá khắp nơi. Thư pháp thời nầy cũng nở rộ.

Trong việc truyền bá, “lệ thư” được ra đời và tu chỉnh nhanh là do muốn sao chép cho nhanh chóng và tiện lợi, kể cả việc sử dụng trong trường thi. Nguyên tắc chính là: “lệ thư dùng để viết nhanh chữ tiểu triện”.

E- Loại chữ Chương thảo: Sau khi lệ thư được ra đời và hoàn chỉnh, thì trong học giới lại có thêm một loại chữ viết nhanh khác, gọi là “chương thảo”, nhưng chỉ được dùng trong dân gian mà thôi. Với những tiến bộ về cách viết chữ như vậy, nhiều tác phẩm nổi tiếng kiệt chúng cũng xuất hiện. Chẳng hạn như vào thời Nguyên Ðế nhà Tây Hán, danh nho Sử Du đã viết “cấp tựu chương” bằng loại chữ mới, được xem là tác phẩm “chương thảo sớm nhất” trong lịch sử văn học Trung Quốc.

Như thế, loại chương thảo nầy vừa bảo tồn được những tinh túy của lệ thư trước kia, mà lại thêm những đường nét mới: nét chữ như sóng, không có sự nối liền giữa các chữ, vừa không hoàn toàn căn cứ vào những quy củ viết chữ của lệ thư. Nhờ thế, đường nét vô cùng phóng khoáng, nhiều bản văn thể hiện rất đặc sắc.

F- Loại chữ Kim thảo và Hành thư: Sự biến hoá của chữ Hán càng ngày càng phong phú thêm. Cũng trong đời nhà Hán, loại chữ “kim thảo” và chữ “hành thư” lần lượt ra đời, nhưng chỉ được truyền bá trong một số danh gia. Một số nhà nghiên cứu cho rằng: nhân vật đầu tiên đã biết sáng tạo ra chữ “kim thảo” là Trương Chi (?). Nhưng giả thuyết nầy về sau nầy vẫn bị phản bác.

Theo cách viết mới, loại chữ “kim thảo” khác với “chương thảo” là nét chữ không có sóng, giữa các chữ được kết liền lại với nhau. “hành thư” là loại chữ viết nằm giữa loại “khải thư” và loại chữ “kim thảo”; tương truyền là do danh nho Lưu Ðức Thăng ra công sáng tạo nên. Những bản văn của ông lưu truyền lại cho thấy: chữ viết của ông bay bướm, mềm mại, vó những nét độc đáo, ít ai theo kịp được.

Như thế, cho đến đời nhà Hán thì cả ba thể viết “khải”, “hành” và “thảo” đã được phổ cập trong dân gian rất hoàn chỉnh, không còn những thay đổi khác nữa. Qua những chuyển biến của chữ Hán, có thể hiểu theo một hệ thống rằng: “lệ thư” là kế tục của “triện thư” và sau đó đã mở ra “thảo thư” và “khải thư”.

Cũng nên kể thêm đến việc sáng chế ra giấy trong giai đoạn nầy để thay thế cho những bảng gỗ, cho nên việc truyền bá văn học dễ dàng, nhanh chóng và sâu rộng.

Vào thời Ngụy Tấn, những cuộc tranh chấp triều chính không mấy khi xuất hiện, văn hoá cũng phát triển. Trong thời nầy, nghệ thuật thư pháp Trung Quốc đã tiếp tục phát triển thêm nhiều, khởi đầu dùng thể “lệ thư” của nhà Hán làm căn bản; sau lại được chuyển qua thể “chân”, “hành”.

Nghệ thuật thư pháp đã đạt được mức độ cao nhất, với sự xuất hiện của vị “thư thánh” là Vương Hy Chi. Tài năng của ông là sự tập hợp tất cả tinh hoa của thư pháp ngày trước, lại thay đổi phong cách chất phác thời Hán và thời Ngụy, tạo ra thể thư pháp mới. Như đã trình bày, “Lan Ðình tự” được người đời tôn sùng, là tác phẩm tiêu biểu của ông.

Hai trường phái: Cho đến thời Nam Bắc Triều, do nhiều học phái khác nhau xuất hiện, cho nên thư pháp lúc nầy cũng được phân chia thành 2 trường phái khác nhau: trường phái phương Nam và trường phái phương Bắc.. Phong thổ và sinh hoạt từng vùng đã ảnh hưởng đến thư pháp hai vùng. Mỗi miền có đặc tính khác nhau: miền Nam thì nổi bật về những nét hoa mỹ; miền Bắc thì lại trội hơn về lối nghiêm chỉnh. Trong những tư liệu văn học về giai đoạn nầy, người ta thường kể đế những loại bia đá vốn được khai sinh từ thời Bắc Ngụy, vững chải vào thời Nam Bắc Triều, đều mang phong cách phong phú, đa dạng.

Những nhà phê bình đều khẳng định giá trị “Lệ khảo biến hoá, đa dạng, đa thể” của thư pháp thời nầy, chuẩn bị cho một giai đoạn khai triển lớn mạnh sau nầy. Vào đời nhà Tùy, Trung Quốc được thống nhất, do đó, thư pháp tiến đến thời kỳ “hợp lưu”, để từ đó, mở đường cho sự phát triển mới của thư pháp đời Ðường.

Vào đời Ðường: (618-907) Chưa có giai đoạn trước đó, mà thư pháp lại được giới văn học thưởng thức và sáng tạo phong phú cho bằng lúc nầy. Tất cả các thể “triện”, “lệ”, “chân”, “thảo” “hành” đều có những trường phái thư pháp riêng biệt, hoạt động trong những lãnh vực khác nhau. Người ta thường nhắc đến tên tuổi của Lý Dương Băng sành về lối chữ “triện”, Trương Húc, Hoài Tố hai nhân vật xuất chúng về lối “cuồng thảo”. Chẳng những thư pháp được mến chuộng và được sưu tầm của hoàng thân, quốc thích, quan lại trong triều, mà ngoài dân gian cũng được dấy lên một tư trào tìm kiếm không kém.

Vào thời Sơ Ðường, phong trào tôn sùng thư thánh Vương Hy Chi rất mạnh, thiên hạ đua nhau sao chép lại các bút tích hiếm hoi còn lưu lại của ông; rồi đến lượt các tác phẩm của Âu Dương Tuần, Ngu Thế Nam, Chữ Toại Lương, Tiết Tắc... của giai đoạn nầy cũng được mọi người ái mộ.

Tuy những phong cách của thư pháp gia Sơ Ðường vẫn chưa thoát ra khỏi thư pháp đời Tần, tuy nhiên, trong nét bút và thể chữ của họ đã có những biến dạng về hình thức, khuôn mẫu, khác với thể dẹt của lối “chữ lệ” vào đời Hán.

Một nhân vật khác chiếu sáng lên thời đó là Nhan Chân Khanh. Theo những nhà văn học thời đó, thư pháp họ Nhan được đánh giá là : “Ông đã đưa phương pháp cổ vào trong ý tưởng mới, đã tìm cách sáng tạo ra phương pháp mới bên ngoài ý cũ, đã sản sinh một phong cách mới: ngay ngắn mà không cẩu thả, trang trọng nhưng không bí hiểm, kỳ vĩ, đẹp đẽ mà pháp độ lại thung dung, phóng khoáng”.

Ðến đời Trung Ðường, lại có thêm một số biến chuyển mới. Tiêu biểu là thiên tài Liễu Công Nguyên, lập ra “Âu thế”, cùng với những bạn đồng liêu của mình sáng tạo kiểu chữ mới: nét thanh tao hơn, tráng lới viết béo đậm ngày trước, thế chữ nghiêm mật, gân guốc, mạnh mẽ. Câu nói về hai thiên tài nầy đứng bên cạnh nhau là “Nhan cân, Liễu cốt”, xứng đáng là những mẫu mực cần thiết cho những ai muốn luyện thư pháp sau nầy.

Cho đến thời Vãn Ðường thì có Dương Ngưng Thức, cũng là một bậc kỳ tài trong ngành thư pháp Trung Quốc, có nét chữ vô cùng phóng khoáng, phiêu diêu. Phong cách nầy được xem là bước chuyển mình của thư pháp đời Ðường chuyển sang đời Tống. Chỉ tiếc là thời kỳ nầy gặp nhiều tao loạn, chính bản thân Dương Ngưng Thức cũng khó tránh tai ương, cho nên khó tìm được nhiều bút tích của ông. Ða phần là chữ được ghi trên bia đá.

Vào đời Tống: (960-1127) Ðược dấy lên cao vào đời nhà Ðường, cho nên đến đời Tống, thư pháp lại nở rộ, Nhiều nhà thư pháp phương Nam lẫn phương Bắc dồn dập xuất hiện. Bốn nhà thư pháp lớn trong tiêu ngữ “Tô, Hoàng, Mễ, Thái” dồn vang trong dân gian chính là Tô Thức (Ðông Pha), Hoàng Ðình Kiên, Mễ Phất (Mễ Phí hay Mễ Nam Cung) và Thái Tương. Họ cũng là những thi sĩ khét tiếng.

Thuật viết chữ đẹp vào đời nhà Tống đã trở thành một công việc khắc chạm chữ đẹp trê đá và trên gỗ trong nghệ thuật trang trí. Về sau, lấy các chữ cà lên trên giấy và biên soạn các phần nầy thành tập bản sao lưu truyền trong các văn khố. Công việc nầy trở thành một phương pháp thịnh hành trong việc nghiên cứu, học hỏi các kiểu chữ đẹp khác

Thư pháp của Tô Ðông Pha (Tô Thức) thường đưa những ý mới vào trong pháp độ chữ viết của mình “có xương, có thịt”, dấu kín sự khéo léo trong những nét thô sơ. Hoàng Ðình Kiên thì thường dùng những thế chữ bí hiểm, khó đọc, nhưng lại có sức hoành dật, toàn bài đều biến hoá vô cùng.

Vào đời Nguyên, (1271-1368) thư pháp Triệu Mạnh Phủ có dạng chữ rất đẹp trong toàn diện, bao gồm các loại chữ “lệ”, “chân”, “hành”, “thảo”.

Vào đời Minh (1368-1644) , các văn nhân thường sở trường về lai loại “hành” và “thảo”, mà tiêu biểu là Chúc Doãn Minh, Văn Trưng Minh, Ðổng Kỳ Xương, Thần Áng, Giang Tân, Văn Thành Minh, Vương Long, Chúc Ngôn Minh, Hưng Ðồng, Trương Thụy Ðồ, Trung Kỳ Xương, Tống Khắc, Thần Ðộ... Họ thường trở lại phong cách thư pháp đời Tấn và đời Ðường. Ảnh hưởng của họ truyền về những thế hệ sau nầy rất mạnh mẽ.

Vào đời Thanh, thư pháp ban đầu vẫn nối tiếp phong cách đời Tống và đời Nguyên, thịnh hành về “thiếp học”. Vào đời Khang Hy, Càn Long, thư pháp của Triệu Manh Phủ, Ðổng Kỳ Xương được kế thừa sâu sắc nhất.

Về sau, kim thạch văn khai quật được nhiều, người đều mến mộ, nẩy sinh ra lối “bi học” để thay thế cho “thiếp học”. Một thời, hai thể “bi” và “thiếp” cũng cạnh tranh nhau.

Thư pháp vào đời nhà Thanh có thể phân chia làm hai thời kỳ: Thời kỳ đầu kể từ đầu nhà Thanh cho đến triều vua Gia Khánh (1796-1820) và Ðạo Quang (1821-1850). Trong thời kỳ nầy, việc nghiên cứu các bản sao vẫn tiếp tục không sút giảm; những người viết chữ đẹp được ưa thích phải kể đến: Hoàng Từ Thành, Phù Sơn, Trương Triệu, Vương Văn Trị, Lưu Dung.

Còn thời kỳ sau bắt đầu với các triều vua Hàm Phong (1851-1861) và vua Ðồng Trị (1862-1874).

Cùng với sự quan tâm về việc khảo cổ nhiều nét chữ được khắc chạm trên đồ đồng và bia mộ đã được khám phá, người ta còn thu lượm được những nét chữ “từ văn” và “bắc văn”, và do đó, đã nảy sinh ra một trường phái thư pháp độc đáo nữa của đời Thanh, bước sang thời Dân Quốc. Những nhân vật hàng đầu của trường phái nầy phải kể đến: Ðặng Thạch Như, Hà Thiếu Tề, Trương Ngọc Lưu.

Chuyển biến thư pháp Trung Quốc

Giới thư pháp Trung Quốc từ đời Tống đến đời Thanh đã xảy ra một cuộc tranh chấp; nguyên nhân là do sự đối chọi của các nhà thư pháp phía Hoa Bắc và phía Hoa Nam. Lịch sử văn học Trung Quốc gọi là "Bắc tính" và "Nam tính".

Một bên thiên về cách viết thiếp, còn một bên thì hướng về cách viết trên bia đá. Có thể đọc những khác biệt nầy trên những bài khảo luận của Triệu Mạnh Kiên đời Tống hay của Nguyễn Nguyên đời Thanh thì mới rõ hai chủ trương trái ngược đều có nguyên nhân của mỗi thể loại.

Theo hai nhà bình luận nầy thì: Hai cách "khắc trên bia" và "viết trên thiếp", bên nào cũng có hệ thống phát triển riêng biệt, do bối cảnh từng vùng mà ra.

Bắc phái: Khắc bia là đặc tài của những nhà Thư pháp phía Hoa Bắc. Lối nầy vốn phát triển qua các triều đại: Triệu, Yên, Ngụy, Tề, Châu, Tùy. Những thiên tài trong cách viết khắc trên bia đá phải kể đến: Chung Do, Vệ Quán, Sách Tịnh, Lư Trạm, Thôi Duyệt. Hai nhà Thư pháp Âu Dương Tuân và Chử Toại Lương cũng sành về cách viết khắc trên bia.

Nam phái: Nam phái sành về cách viết thiếp. Loại nầy bắt đầu từ đời Đông Tấn, được tiếp nối qua Tống, Tề, Lương, Trần. Tiêu biểu là Vương Hy Chi, Vương Hiến Chi, Trí Vĩnh, Ngu Thế Nam. Cho đến nay vẫn có những ý kiến trái ngược hẳn nhau về sự khác biệt và tranh chấp của hai miền Bắc Nam nầy.

Trong thực tiễn, có người khởi đầu từ cách viết khắc trên bia đá, có người thì khởi đầu bằng cách viết trên thiếp, nhưng sau thì thay đổi, với phong cách viết chữ khác nhau. Có người thì hợp chung cả hai lối viết thành một.

Như thiên tài Vu Hữu Nhậm, thế kỷ XX, đã nhào nặn ra bút pháp chữ lệ, chữ khải (về loại hành), đã sử dụng chung cả cách viết trên bia và trên thiệp, trở thành phong cách độc đáo của ông, mà cả hai phái đều ngợi ca, tán tụng là thuộc về môn phái của mình. Chính cách thử nghiệm nầy đã có nhiều nhà thư pháp thực hiện một cách hoàn chỉnh.

Thư thể

Trong quá trình biến chuyển, chữ Hán cũng đã trải qua nhiều biến đổi về kiểu chữ, đại cương có nhiều thể loại. Hán tự có từ bao giờ? Cho đến nay, dù dùng cả khoa khảo cổ học, vẫn còn là nghi vấn! Những tư liệu có được về những di tích, di chỉ khảo cổ họ cũng chỉ là những truyền thuyết và những cổ tịch. Người ta cho rằng: Những giai đoạn ban sơ của văn tự Trung Quốc là "thắt nút giây, để ghi nhớ sự việc" (kết thằng thời đại); sau đó thì dùng đến những "khắc vạch" (thư khế).

Giáp cốt văn

Giáp cốt văn thời Ân Thương cũng thuộc giai đoạn dùng "kết thằng" như đã trình bày. Bấy lâu nay, người ta thường cứ lầm tưởng là Giáp cốt văn là hệ quả của việc bói toán thuần túy thời Cổ đại Trung Quốc. Thuật ngữ "bốc phệ" gói trọn hai phép bói: một là "bốc" là bói giáp cốt và "phệ" là bói bằng cỏ thi. Bói Giáp cốt phổ biến thời Ân Thương, cả hai phép bói nầy phổ biến vào đời Chu.

Nhiều nhà nghiên cứu gần đây (trường hợp Phùng Hữu Lan trong Văn học sử Trung Quốc chẳng hạn) thì gọi chung cả hai loại nầy là "quy thi", tức là nhấn mạnh vào công cụ bói toán. Những phát hiện di chỉ khảo cổ học gần đây (Tế Nam) đã chứng minh rằng: Giáp cốt văn là hệ văn tự biệt lập, nhưng việc khắc chữ lên những mảnh "quy giáp" (mai rùa) và "thú cốt" (xương thú) để ghi chép những lời bói (bốc tự), đã khiến người ta dễ ngộ nhận sự bói toán là căn nguyên của Giáp cốt văn.

Đây là dạng chữ viết của đời nhà Thương, được khắc trên mai rùa hay trên những xương thú. Vì công dụng chính thời nguyên thủy là dùng vào việc ghi chép những điều bói toán là chính, cho nên, còn được gọi là "bốc từ" (những lời giải về bói toán) hay "khế văn" (chữ khắc bằng loại "khế đao", một loại tiền cổ).

Trên một lãnh vực khác, loại chữ nầy đã được phát hiện ở vùng Ân Khư (cố đô thời Hậu Thương, nay thuộc huyện An Dương, tỉnh Hà Nam) cho nên cũng được gọi là "Ân Khư văn tự" (chữ viết tại Ân Khư). Trong số bốn ngàn chữ giáp cốt đã thu thập được trên các loại bia văn, di chỉ khảo cổ học, thì chỉ có vào khoảng 1,000 chữ là có thể đọc được và cũng giải thích được phần ý nghĩa.

Trên đại cương, đây là dạng chữ viết đã tương đối hoàn chỉnh, tuy nhiên, vẫn còn có nhiều nét viết và "thiên bàng" (bộ thủ) chưa hoàn toàn ổn định, tạo nhiều khó khăn trong nghiên cứu sử liệu. Ngoài ra, một số chữ giáp cốt thuộc thời kỳ đầu tiên của nhà Chu cũng đã được phát hiện. (Theo tài liệu Ngôn ngữ học Trung Quốc). Trong lịch sử, thư pháp lấy chữ Hán làm lý do để tồn tại (reason for being); bởi vì không có chữ Hán thì không có thư pháp.

Người đời sau, cũng có kẻ dùng mẫu tự La tinh để viết thư pháp, hay dùng chữ Ả Rập để thư hoạ kinh Koran; tuy nhiên, cũng chỉ là những cố gắng trong khả năng nhất định nào đó mà thôi.

Mỗi chữ Hán gồm có 3 thành tố, biến đổi theo thời gian: hình, âm và nghĩa. Thành tố "hình" tức là thư thể. Nó rất đa dạng, từ thời Tiền Tần cho đến ngày nay.

Cùng là một chữ, nhưng lại có nhiều lối thư thể; chẳng hạn: giáp cốt văn, đại triện, tiểu triện, lệ, khải (gồm có hành và thảo) nguỵ bi (bia đá) , giản, phồn. Có những người tinh thông Hán văn (kể cả người Hoa) nhưng chưa hẳn là đã tinh thông các thư thể, đặc biệt là thảo thư, hành thư, giáp cốt và triện thư.

Do đặc tính nghệ thuật cao độ của thảo thư, cho nên sử dụng máy móc không thể nào thay thế tay người; mà dù cho cố ý tạo ra đi chăng nữa, là cũng chỉ là những xác chữ, vô hồn!

Giai đoạn thư khê

Giai đoạn thư khê bao gồm cả việc khắc chữ lên chuông và đỉnh vạc; hệ văn tự nầy gọi là "chung đỉnh văn". Tiền thân của loại văn tự thư khê là "bát quái" do Phục Hy vẽ ra. Còn chữ Hán văn, căn cứ theo truyền thuyết là do Thương Hiệt, một sứ quan của Hoàng Đế tạo ra. Thuyết "Thương Hiệt tác thư" của thời Tam hoàng (Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế) cho đến nay vẫn trong vòng tranh cãi. Những nhà văn tự học hiện đại không cho rằng Thương Hiệt là người sáng tạo ra Hán tự.

Họ lý luận rằng: Người sáng tạo ra phải là "nhân dân Trung Quốc", Thương Hiệt chẳng qua chỉ là người có công hệ thống lại cho có quy củ mà thôi! (Nhân dân Nhật báo).

Những thư thể khác

Thời Xuân Thu Chiến Quốc lưu hành nhiều thư thể như "điểu trùng thư" (giống dấu vết côn trùng, chim chóc), chữ "khoa đẩu” (giống con nòng nọc), “lựu văn” (thứ văn tự do Thái sư họ Lựu đời Chu Tuyên Vương sáng tạo, tức là chữ đại triện)...

Loại chữ khắc hay đúc trên chuông đỉnh (chung đỉnh văn) cũng gọi là "kim văn". Đời Đông Chu, có một loại chữ gần giống như chữ triện, chuyên khắc trên trống đá (thạch cổ), nên gọi là "thạch cổ văn". Ngô Xương Thạc (1844-1927) khởi đầu luyện lối chữ thạch cổ văn, về sau thành đại thư họa gia; mặc tích thạch cổ văn của ông là tác phẩm mẫu mực cho người học thư pháp hiện nay nghiêm tập.

Nguyên tắc cấu tạo chữ Hán

Chữ Hán có sáu nguyên tắc cấu tạo, gọi là "Lục Thư". Lục thư là: tượng hình, chỉ sự, hội ý, hình thanh, chuyển chú, giả tá.

Tượng hình: dựa theo hình các sự vật mà viết thành chữ, như hình núi có các ngọn núi, cho nên chữ "sơn" biểu thị bằng ba nét nhọn. Chữ "mộc" nghĩa là cây, cho nên có ngọn, có gốc. Chữ "điền" là ruộng thì có từng thửa đất.

Chỉ sự: dưạ theo sự việc mà đặt ra chữ. Chẳng hạn: trời mưa thì có mây đen che phủ, rồi nước rơi xuống, vì vậy, chữ "vũ" có những chấm "thủy". Vì vậy, khi nhìn thấy mặt chữ ta có thể hiểu ngay đại thể, quan sát kỹ thì có thể hiểu được ý nghĩa của nó.

Hội ý: lấy hai chữ hợp lại mà thành một chữ có ý nghĩa mới; nói cách khác là ghép vài ba ký hiệu tượng hình để biểu thị ý nghĩa mới của một từ. Ví dụ: 1 cây đơn độc thì dùng chữ "mộc" nhưng nhiều cây ghép lại 2 chữ "mộc" lại thành chữ "lâm" nghĩa là "rừng"; còn cây cối chằng chịt thì phải ghép 3 chữ "mộc" thì thành ra chữ "sum" nghĩa là rừng rậm.

Hình thanh: ghép những chữ có sẵn thuộc loại tượng hình và loại âm thanh để hình thành loại chữ mới; vì vậy đây cũng là loại chữ hợp thể. Đó là điểm khác với chữ tượng hình và chỉ sự.

Tuy ghép những chữ có sẵn thành chữ mới, nhưng thế nào cũng có một chữ thuộc về "âm thanh"; điểm nầy khác với chữ hội ý. Ví dụ: chữ "chi" (nghĩa là cỏ thơm) thì kết hợp bởi chữ "thảo" (là cỏ) cọng thêm với chữ "chi" là thanh.

Chuyển chú: Nguyên chữ Hán nhiều chữ đồng âm mà khác nghĩa, hay nghĩa đồng mà âm lại khác, nên thuờng lấy chữ này để làm chữ khác. Nói cách khác, "chuyển chú" là lối đặt chữ có cùng một bộ thì thanh âm gần nhau, ý nghĩa giống nhau và có thể chú thích cho nhau.

Ví dụ: chữ "khảo" và chữ "lão" vốn hai chữ cùng một nghĩa và viết giống nhau; về sau để phân biệt hai chữ khác nghĩa. chữ "khảo" được chuyển thành chữ hình thanh.

Giả tá: Trong chữ Hán, ngoài cách dùng lối "hình thanh" để biểu âm, lại dùng chữ "đồng âm" để đại biểu cho những chữ có nghĩa mới, mà không cần sáng tạo ra chữ mới, thì gọi là "giả tá".

Chữ "giả tá" hoàn toàn xuất phát từ thanh âm giống nhau hay gần nhau, giữa chữ vay mượn và chữ được vay mượn có thể không quan hệ nhau về mặt ngữ nghĩa. Ví dụ: chữ "vạn" ngày xưa dùng để chỉ con bò cạp, nhưng sau dùng để chỉ 10,000. Chữ "trưởng" (trưởng thành) trong thanh âm gần giống chữ "trường" (trường đoản) nên mượn lấy.

Quy tắc

Như thế, chữ Hán phải tuân thủ theo những quy tắc nào trong lối viết chữ? Chữ Hán là một loại chữ ghi ý, mỗi ký hiệu tượng hình (chữ) ghi một từ hay một hình vị, về mặt âm ứng với một âm tiết. Họ sử dụng các nét, lập đi lập lại trong những kết hợp khác nhau để tạo ra các chữ. Các nét thông dụng mà ta thường thấy như nét chấm, nét ngang, nét mác, nét phẩy, nét khung, nét móc...

Khi viết, người ta tuân theo quy tắc thuận áp dụng cho từng nét khác nhau: trên trước, dưói sau; trái trước, phải sau; ngang trước, sổ sau; phẩy trước, mác sau; ngoài trước, trong sau; vào trước, đóng sau... Cho dù là chữ một nét như chữ "nhất" hay 27 nét như chữ "ký" (ngựa chạy ngàn dặm) cũng đều phải thu gọn vào trong một ô vuông.

Trung Quốc là một quốc gia có nhiều dân tộc, trên lãnh thổ nầy hiện nay có 56 dân tộc khác nhau. Người Hán có ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết riêng, đó là ngôn ngữ Trung Quốc, được sử dụng rộng rải trong nước và những vùng có Hoa Kiều sinh sống. Nhưng 55 tộc người khác cũng có ngôn ngữ riêng của họ.

Theo hệ thống phân loại ngôn ngữ học trong "Tự Điển Bách Khoa" của Trung Hoa thì 29 ngôn ngữ thuộc ngôn ngữ Hoa - Tạng, 17 thuộc họ Antai, 3 thuộc họ Nam Á, 3 thuộc họ Ấn - Âu. Ngôn ngữ của người Cao Sơn ở Đài Loan thuộc loại ngôn ngữ Indonésia.

Hiện có một ngôn ngữ chưa xác định được thuộc tính của nhóm nào?

Chữ trên bia đá (Ngụy bi thể)

Ngụy bi thể là thư thể được khắc trên bia đá với kỹ thuật khá tinh vi. Trong lịch sử văn tự Trung Quốc, loại chữ nầy được thực hiện từ đời Bắc Ngụy, rồi sang Tây Ngụy, Đông Ngụy, Bắc Tề, Bắc Chu.

Các đế vương thời Nam Bắc triều ưa thích khắc những bài văn hay những công văn cần thiết lên bia đá để phổ biến và lưu truyền. Thư thể nầy mang dáng dấp của loại chữ khải (chân phương) và loại chữ lệ (chữ được giản hoá). Những công trình khảo cổ học tại Trung Quốc trong vòng 100 năm nay đã khai quật nhiều chứng liệu về ngụy bi thể. Ngành "bi học" cũng được củng cố và đưa ra nhiều nguyên lý.

Trong lịch sử cận đại, những nhà canh tân văn hoá Trung Quốc như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Bao Thế Thần đã cổ súy việc nghiêm tập về loại ngụy bi thể.

Khang Hữu Vi đã ca tụng 10 vẻ đẹp sắc sảo của Ngụy bi thể như sau: - Phách lực hùng cường - Khí tượng hồn mục - Bút pháp khiêu việt - Điểm hoạch tuấn hậu - Ý thái kỳ dật - Tinh thần phi động - Hứng thú hàm túc - Cốt pháp đổng đạt - Kết cấu thiên thành - Huyết nhục phong mỹ.

Loại chữ triện (đại triện và tiểu triện)

Vào năm 221 trước Công nguyên, Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc, cả nước lập ra chế độ trung ương tập quyền. Nhà vua sai Tể tướng Lý Tư đem 8 loại chữ: đại triện, tiểu triện, chữ khắc, chữ dấu, thự thư (chữ ký), thù thư (chữ khắc trên ngọn giáo) và lệ thư thống nhất lại thành ra "Tần triện" (chữ triện đời nhầ Tần).

Thừa tướng Lý Tư (được giới thư pháp gia Trung Quốc xem là thư pháp gia đầu tiên của Trung Quốc) phụ trách việc hệ thống hoá và cải cách các loại thư thế đương thời, tạo thành loại chữ "tiểu triện" cũng gọi là "Tần triện".

Hứa Thận đời Đông Hán viết trong Thuyết Văn giải tự rằng: "Tần Thủy Hoàng sơ kiêm thiên hạ, thừa tướng Lý Tư nãi tấu đồng chi, bãi kỳ bất dữ Tân Văn hợp giả. Tư tác "Thương Hiệt thiên", trung xa phủ lịnh Triệu Cao tác "Ái lịch thiên", thái sư Hồ Mậu Kính ác "Bác học thiên" , giai thụ sử Lựu đại triện hoặc pha tỉnh cải, sở vị Triệu triện giả dã".

Nghĩa là: "Tần Thủy Hoàng lúc mới thâu gồm thiên hạ xong, thừa tướng Lý Tư bèn trình tấu xin đồng nhất (văn tự), bãi bỏ những thư thể không hợp với Tần văn. Lý Tư đã viết ra "Thương Hiệt thiên", quan Trung phủ Triệu Cao viết ra "Ái Lịch thiên", qua Thái sử Hồ Mậu Kính viết ra "Bác học thiên", tất cả đều giữ lấy chữ đại triện của Thái sử Lựu hay chế biến, tinh giản đi, gọi là tiểu triện vậy"...

Đáng tiếc là cả 3 thiên trên đã không còn được lưu truyền đến ngày nay nữa.

Loại kim văn (đại triện)

Đây là dạng chữ được khắc hay đúc trên dụng cụ bằng đồng thau vào thời Thương Chu, còn được gọi là "chung đỉnh văn" (tức là chữviết trên chuông và đỉnh). Loại chữ nầy về hình thể lúc đầu gần giống như loại giáp cốt Văn, có chữ còn mang dấu vết của văn tự đồ họa buổi ban đầu; cho đến giai đoạn sau, loại chữ nầy gần giống như loại tiểu triện.

Còn về mặt kết cấu hình thể, loại chữ nầy đã tương đối hoàn chỉnh. Vào thời nhà Chu, đã có văn bản chữ kim dài tới 500 chữ. Vào đời nhà Chu, ngoài loại chữ kim, còn có những thể chữ khác khắc trên nhiều thứ vật liệu khác nhau (tre, gỗ, đá).

Chẳng hạn: khi chư hầu và khanh đại phu kết giao với nhau, ký minh ước, thì phải viết chữ trên những phiến ngọc đá: đó là loại "chữ minh ước" (hay minh thư). Nếu bản văn được ghi chép trên phiến gỗ, gọi là "thẻ gỗ"; chữ viết trên thẻ tre gọi là "thẻ tre"; chữ viết trên đôn đá hình trống thì gọi là "chữ trống đá".

Hình thể những chữ nầy khác nhau rất lớn, lại thêm tình trạng phân chia thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc, đã làm cho kiểu chữ viết thêm phức tạp, không có trật tự. Tần Thủy Hoàng còn dẫn những quan đại thần đi thị sát các quận, huyện, trèo non lội suối, tìm thú núi sông, phàm nơi nào nhà vua đặt chân đến đều phải dựng bia đá khắc, để ca ngợi oai hùng và công tích của mình "quét ngang lục hợp, uy vang tứ hải" bảy lần.

Đá khắc của tể tướng Lý Tư còn truyền lại cho đến nay thì có: đá khắc Thái Sơn Phong Sơn, đá khắc Lang Nha, đá khắc Dịch Sơn... Trên những bia đá nầy còn thể hiện những thể loại thư pháp khác nhau:

Đá khắc Phong Sơn: Đây là tác phẩm tiêu biểu cho loại chữ Triện Tần (tức là tiểu triện). Những chấm trên chữ đều thành đường nét, to nhỏ khác nhau, đầu cũng tròn, cuối cũng tròn. Thể chữ nầy trông đoan trang, chặt chẽ, có thực, có hư, nơi thưa, nơi dày đều thích đáng, trông ung dung, đều đặn, mà lại khoẻ khoắn, sức lực dồi dào.

Nhiều nhà bình phẩm về thư pháp cho rằng: "Nét chữ nầy hình như sắt đá, dáng khoẻ ngàn cân"; kết cấu chữ thì trên căng, dưới chùng, chân thòng kéo dài, có tư thế oai nghiêm từ trên cao nhìn xuống, hầu như bắt người đọc phải ngước nhìn lên mới thấy rõ được.

Còn về chương pháp thì: hàng hàng chỉnh tề, quy cách hài hoà. Phong cách chỉnh tề thống nhất, nhất trí với lý tưởng chính trị của đời nhà Tần. Loại đá khắc vào đời nhà Tần, nhìn chung, có phong cách nghệ thuật thung dung, khoẻ khoắn, thống nhất với thời đại của vương triều nhà Tần.

Lối khắc chữ "giáp cốt" của những danh sĩ đời Ân và đời Thương, được xem là "sự giao hòa giữa thần và người", đã đạt tới sự cảm ứng với thế giới thần bí trong từng nét chữ.

Lối khắc chữ trên những đồ đồng của đời Thương, Chu thường dùng trong cúng tế các Thần linh, hay ghi lại những biến chuyển của triều chính, vua chúa, đề cao vương quyền.

Những đá khắc của Tần Thủy Hoàng thường đem dựng lên trên những đỉnh núi nổi tiếng nhất của Trung Hoa, nhằm đề cao những công tích của nhà vua từng thống nhất sáu nước, tuyên dương uy nghiêm của Vương quyền, lòng tin tưởng mãnh liệt của triều đình nhà Tần, biểu đạt ý nguyện thống trị thiên hạ "thiên thu vĩnh cửu, thọ dữ thiên tề".

Loại tiểu triện

Tiểu triện là loại chữ thông dụng vào thời nhà Tần, nên còn gọi là "Tần triện". Trong thời Chiến Quốc, chữ viết ở các địa phương Trung Quốc có hình dạng khác nhau và cách phiên âm cũng khác nhau cho nên gây nhiều bất tiện trong giao dịch.

Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc, đã chỉnh lý lại toàn thể các văn tự địa phương, đồng thời cũng đã giản hoá chữ viết trong dân gian. Trên cơ sở của loại "đại triện" (còn được gọi là "trụ văn", một loại chữ thông dụng ở nước Tần vào thời Xuân Thu Chiến Quốc), nhà Tần đã quy định một dạng chữ viết chuẩn gọi là "tiểu triện".

Sự thống nhất hoàn toàn Trung Quốc thời nhà Tần đã có tác dụng lớn đối với việc quy phạm hoá chữ Hán.

Loại chữ Lệ

Kết cấu của chữ lệ: Lệ thư là dạng chữ thông dụng vào thời nhà Hán, bắt đầu từ cuối nhà Tần đến thời Tam Quốc. Loại nầy còn được gọi là "Hán lệ", "tả thư", hay "bát phân". Ở giai đoạn đầu, lệ thư còn bảo lưu một số dạng nét của tiểu triện, thời gian sau đó, những nét mác lượn sóng tăng lên dần, trở thành đặc điểm nổi bật của loại chữ nầy.

Lệ thư xuất hiện làm cơ sở cho khải thư sau nầy, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển của chữ Hán. Đó là giai đoạn cổ văn tự chuyển sang giai đoạn "Kim văn tự".

Tương truyền vào đời nhà Tần, có một nô lệ tên là Trình Mạc mắc tội với Tần Thủy Hoàng, bị giam vào ngục tối. Trình Mạc thấy thẻ bài của quan coi ngục thời đó viết bằng thứ chữ triện rất phiền phức, bèn cải cách nó, chuyển phức tạp thành đơn giản, sáng lập ra thứ chữ mới. Tần Thủy Hoàng xem xong rất khen ngợi, chẳng những xá tội cho, mà còn phong anh ta làm Ngự Sử, và quy định đem thứ chữ nầy phổ biến.

Vì Trình Mạc là một tên nô lệ, thứ chữ ban đầu ứng dụng trong công việc nô dịch, nên gọi là chữ "lệ" (nô lệ).

Câu chuyện trên đây được ghi trong Trung Quốc ngoại sử. Vì là "ngoại sử" nên nhiều người thắc mắc. Có thể đây là chuyện hư cấu, khiêm cưỡng. Thực ra, cũng như việc ra đời của thư pháp, chữ lệ cũng phải tích lũy dần dà theo năm tháng, do nhiều người việc sáng tạo; việc Trình Mạc làm có thể chỉ làm công việc chỉnh lý lại mà thôi.

Xét những tài liệu khảo cổ khai quật được tại Thiễm Tây, những văn tự khắc trên thẻ gỗ và thẻ tre đã có khuynh hướng thể chữ triện đơn giản hoá, giảm bớt một số nét, hình dạng chuyển sang suông dẹt, bút pháp có khuynh hướng làn sóng. Đó là mầm mống của loại chữ lệ. Thời Tây Hán, thành phần của loại chữ lệ trong thư pháp có tăng thêm nhiều hơn... Tranh lụa "Lão Tử" thời Tây Hán, khai quật ở khu di chỉ gò Mã Vương, thành phố Trường Sa, đã có chữ lệ rõ rệt. Chữ lệ thuần thục vào thời Đông Hán. Thời Hán Hoàng Đế (147-167), Hán Linh Đế (168-189) là thời kỳ thịnh hành của loại chữ lệ.

Chữ lệ xuất hiện lại là một thay đổi lớn trong lịch sử thư pháp, cũng như lịch sử chữ viết Trung Quốc. Từ đó, thư pháp chia tay với chữ viết cổ từng kéo dài trên 3000 năm, để bắt đầu bước vào thời kỳ chữ viết hiện nay, kết cấu chữ không còn nghĩa tượng trưng như chữ viết cổ, mà hoàn toàn trở thành những phù hiệu.

Chữ lệ tiếp trước, mở sau; trước tiếp chữ lệ, sau mở chữ khải, là một chuyển viết trong lối viết.

Nghệ thuật chữ lệ: Với tư cách là nghệ thuật thư pháp, nó đã phá vỡ sự hạn chế bút pháp đơn nhất của loại chữ triện trước nay. Nguời thời xưa gọi loại chữ triện là "đũa ngọc", tức là đôi đũa làm bằng ngọc, ngang bằng sổ thẳng, cân bằng đầy đặn. Chữ kết cấu có quy tắc nghiêm ngặt, tương đối ít thay đổi. Nhưng khi chuyển sang loại chữ lệ thì không như vậy; nó điểm vạch rõ ràng, nhỏ to vừa mức, nét chữ "đầu tằm đuôi én", một nét ba gợn. Bút pháp có vuông, có tròn, hay kiêm cả hai loại vuông và tròn.

Kết cấu hoặc cao hiểm trầm bổng, cứng khoẻ vững chải; hoặc đều đặn đẹp đẽ, tròn trĩnh xinh xắn; hoặc giữ chắc cung giữa, nhấn dừng trang trọng; hoặc mở to vòng lớn, khí phách bay bổng, thật đúng là biến hoá vô cùng, đua nhau khoe tốt. Đây thực là một chương đẹp nhất trong lịch sử thư pháp.

Khang Hữu Vi, danh sĩ đầu thế kỷ XX tôn sùng hết mức chữ lệ đời Hán; trong tác phẩm "Quảng Nghệ Châu song tập", ông viết: "Viết chữ không thời nào phát triển bằng thời Hán, không chỉ riêng thể chữ có phong độ cao, mà nó biến chất nhiều nhất, cao vững muôn đời. Đỗ Độ viết chữ thảo, Thái Ung viết phi bạch (giữa nét chữ có những điểm trắng), Lưu Đức Thăng viết hành thư, đều là những nhân vật thời nhà Hán cả. Cuối mùa, biến thành chữ chân khải, người đời sau không ai vượt qua được. Tóm lại, thể chữ đến mức cao nhất là vào thời nhà Hán, biến hoá vô cùng...".

Phong cách hùng mạnh, chất phác của thư pháp thời Hán có quan hệ với phong cách của xã hội đương thời. Loại chữ lệ thời Hán tiềm ẩn một khí thế rất lớn, chất chứa và dâng trào, tiềm ẩn một sức mạnh trong việc thực hiện thư pháp Trung Quốc.

Chữ lệ thời Hán (Hán lệ) tinh đẹp, tuyệt diệu cho đến nay, vẫn lan toả sức hấp dẫn nghệ thuật vô cùng tận. Hán lệ ngày nay đưọc bảo lưu dựa trên những bi ký khắc từ thời đó, mà các nhà khảo cổ học đã khai quật được.

Đáng tiếc, tác giả viết những lối chữ đó (trên bia) không lưu lại tên họ, người đời sau đành chỉ có thể đặt tên theo từng tấm bia hay theo nội dung khắc trên từng tấm bia, mà học giả Hồ Thích đã ghi chép.

Chẳng hạn: bia Ất Anh, Bia Sử thần (sử xuất hiện rất sớm), bia Lễ Khí (dùng trong tế lễ), tụng thạch môn (xa tụng cửa đá), bia Hoa Sơn, bia Tào Toàn, Tụng Tây Hiệp, bia Trương Cảnh, bia Trương Thiên... Thư pháp của đời nhà Hán, ngoài loại bia khắc ra, còn có thể Hán, được viết trên các phiến gỗ (miền Hoa Bắc) hay trên các phiến tre (miền Hoa Nam).

Chữ Hán Lệ viết trên thẻ không nghiêm chỉnh, trang trọng, khi thế có thể được khoáng đạt như trên bia khắc, tuy nhiên lại hoạt bát, linh động, biến hoá nhiều vẻ, thậm chí ngẫu hứng, giàu chất hài hước.

Nếu ta ví loại khắc bia chẳng khác nào "công bút" thì thể Hán lại giống như "vẽ tả ý". Thể Hán có thể chữ hồn nhiên hay đầu thô tùy tiện, không có viền mép, thậm chí trông như qua loa, nhưng trong đó thì lại hiện ra những mẫu mực về loại viết chữ thảo của đời nhà Tấn.

Đặc tánh chữ lệ

Thực ra, đời nhà Tấn đã dùng cả hai thứ chữ triện và chữ lệ, tuy nhiên, trong các văn thư chính thức của triều đình thì dùng toàn loại chữ triện, mà các di tích còn bảo lưu cho thấy điều đó. Đến đời Hán, chữ lệ mới trở thành thư thể hình thức trong tất cả các loại văn thư hành chánh. Lệ thư biến thể từ triện thư và cổ văn (Cổ văn bao quát giáp cổ văn, chung đỉnh văn và khoa đẩu văn). Như vậy, có 2 Lệ thư: Tân lệ thư (cũng gọi là bát phân) của đời nhà Tần và Hán lệ thư của đời Hán.

Công cụ để viết

Ngoài ra, công cụ viết cũng đã góp phần vào sự biến hoá của thư thể trong giai đoạn nầy. Theo những chứng liệu của Léon Wieger cho biết: Một vị tướng (?) nhà Tần là Trình Mạc đã chế loại bút bằng que gỗ, đập dẹp một đầu và chấm sơn mà viết chữ ở trên thẻ tre (trúc giản), trên thẻ gỗ (mộc giản) và trên vải lụa (bạch thư).

Thời gian sau đó, tướng Mông Điềm (đời Tấn) cải tiến nhiều lần để thành ra bút lông trong giai đoạn sơ khai.

Trong tác phẩm "Thiên tự văn" của Chu Hưng Tự đời Lương có viết rằng: "Điềm bút luân chi" là ý nói: Mông Điềm đời Tấn đã phát minh ra bút lông. Thái Luân đời nhà Hán đã chế tạo ra giấy. Cũng trong tài liệu nầy có ghi: Đời Tần dùng sơn để viết chữ; mãi đến đời Hán Hình Di mới phát minh ra mực.

Chính những công cụ viết chữ nầy lý giải đường nét thẳng hay tròn đều của loại chữ triện. Với việc pháp minh ra bút lông, chữ lệ đã có nét uyển chuyển hơn, sinh động hơn, vì động tác nhấn nhá cây bút đã tạo ra những nét mảnh mai hay to đậm khác nhau một cách dễ dàng hơn trước kia nhiều.



. Cập nhật theo nguyên bản của chuyển từ HoaKỳ ngày 28.9.2013.