Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


CHÚT SUY TƯ

NHÂN MÙA VU LAN





Tháng Bảy là mùa của Mưa Ngâu. Bầu trời lúc nào cũng âm u, mưa gió sụt sùi. Từng cơn Bão lớn nhỏ nối đuôi nhau không dứt. Mọi người cho đó là nước mắt của vợ chồng Ngâu mừng mừng tủi tủi vì mỗi năm chỉ được gặp lại 1 lần trong dịp này. Cũng có thể là nước mắt của những người con tưởng nhớ đến cha mẹ nay không còn nữa. Lúc nghèo thì không có điều kiện để chăm lo cho cha mẹ miếng cơm, manh áo. Nay tài sản dư thừa thì cha mẹ đã theo ông bà, vì Tháng 7 cũng là mùa Vu Lan được tổ chức ở các Chùa. Theo tích xưa của nhà Phật thì mẹ của Đại Hiếu Mục Kiền Liên là Bà Thanh Đề bị rớt Địa Ngục. Nhờ vào việc Ngài cúng dường Trai Tăng mà sau đó mẹ Ngài được thoát Địa Ngục, sinh lên cõi trời. Sau này các Phật Tử cũng đua nhau bắt chước để làm theo. Một số Chùa cũng nương dịp này để tổ chức cài Bông Hồng Đỏ cho người mẹ còn hiện tiền, và Bông Hồng Trắng cho người có mẹ đã qua đời, như một sự nhắc nhở về lòng hiếu kính.

Kinh viết: Mục Kiền Liên thấy mẹ bị rớt Địa Ngục, khóc than thảm thiết, cầu xin Phật cứu mẹ. Phật động lòng thương, rưới nước tắt lửa Địa Ngục. Nhưng Bà thoát Địa Ngục này lại sinh vào Địa Ngục khác. Cho tới khi Ngài Mục Liên nghe lời Phật dạy, Cúng Dường Trai Tăng thì mẹ mới thoát. Bài đã đăng trong Nôi San số 16, cách đây đã 6 năm. Xin tóm tắt lại và thêm một vài nhận định mới như sau:

“Vào thời Phật tại thế, ở thành Vương Xá, có người trưởng giả tên là Phó Tướng. Ông có vợ tên là Thanh Đề và có 1 con trai tên là La Bốc. Sau khi cha chết. La Bốc thưa với mẹ, xin chia tài sản ra làm 3 phần. Một phần xin dâng mẹ. Một phần để cúng dường Tam Bảo. Phần còn lại ông lấy làm vốn đi buôn.

Khi La Bốc di rồi, thì bà Thanh Đề chẳng những không cúng dường Tam Bảo, mà còn dặn tôi tớ, “Nếu có thấy Chư Tăng đến thì vác gậy đuổi đánh. Số tiền dành cúng Trai tăng để mua gà, vịt, heo, bò, dê, ngựa, giết để tế thần rối ăn cho sướng cái miệng. Tội gì phải cúng Tăng!”

Sau ba năm, La Bốc buôn bán phát tài, giàu to, quay trở về . Tới ngoại thành, ông chưa vội về nhà mà cho gia nhân về trước, thông báo. Tỳ nữ báo tin cho Bà Thanh Đề hay. Bà lập tức sai người bày biện phan, phướn, bàn, ghế như đã cúng Trai Tăng. Thấy gia nhân, bà Thanh Đề hỏi con bà đang ở đâu? Gia nhân trả lời là còn đang ở ngoại thành. Bà nói với gia nhân là sau khi La Bốc và ngươi đi rồi, ta liền thết tiệc đã Chư tăng hơn 500 vị. Gia nhân bước vào nhà lại thấy phan, phướn, giường, chiếu, chén bát còn ngổn ngang đó, nên vội quay lại báo với chủ. La Bốc hết sức vui mừng, vội vã trở về nhà, vừa đi, vừa lạy.

Họ hàng quyến thuộc thấy vậy ngạc nhiên hỏi La Bốc: “Trước không có Phật, sau không có Tăng, ông lạy ai ?” La Bốc trả lời là “Tôi lạy mẹ tôi, vì khi tôi đi rồi mẹ tôi đã Thiết Trai, cúng dường hơn 500 vị Tăng”.

Họ hàng cho biết: “Khi ông đi rồi thì mẹ ông chỉ gây nghiệp. Đánh đuổi Tăng chúng. Hàng ngày giết trâu, bò, gà, vịt, tế thần rồi ăn”. La Bốc nghe vậy té xỉu, giây lâu mới tỉnh.

Bà Thanh Đề nghe vậy chạy tới cầm tay con thề: “Trời cao lồng lộng, biển rộng thênh thang. Nếu sau khi con đi rồi mà mẹ không có Thiết Trai cúng dường Tăng thì xin về nhà liền bị bệnh chết. Sau khi chết bị đọa Địa Ngục, chịu mọi tội báo”. Nghe vậy La Bốc mới chịu về nhà.

Về đến nhà, Bà Thanh Đề lâm trọng bệnh, chỉ trong 7 ngày là qua đời. La Bốc chôn mẹ, rồi cất chòi ở cạnh mộ mẹ trong 3 năm. Cúng dường tượng Phật. Thắp hương lễ kính. Thọ trì, tụng niệm kinh kệ hồi hướng mẫu thân. Sau đó ông đến núi Kỳ Xà Quật xin Phật cho xuất gia. Phật đặt tên cho Ông là Mục Kiền Liên.

Ngài Mục Liên chuyên tu Thiền Định, đắc thần thông rất cao. Muốn báo ân mẹ, Ngài lên các cõi trời tìm mà không gặp. Xuống các cõi địa Ngục cũng không thấy mẹ đâu. Ông buồn rầu tới bạch Phật. Phật cho biết, mẹ ông lúc sống không tin Tam Bảo, lại bỏn xẻn, nên khi chết phải đọa Địa Ngục rất nặng. Ngài Mục Liên trở xuống các Địa Ngục mà không thấy mẹ, lại thấy các tội nhân chịu hành hình rất đau khổ. Ngài thưa với chúa ngục xin chịu thay. Nhưng chúa ngục bảo: “Tội ai làm nấy chịu, không thể chịu thay được”. Mẹ ngài lại bị giam trong một ngục mà phải mượn gậy, áo, bát của Phật mới vô được.

Khi Ngài tới, chúa ngục tra sổ sách và gọi Bà Thanh Đề, báo cho biết là có con là Mục Kiền Liên đến thăm. Nhưng gọi mà bà không lên tiếng. Chúa Ngục hỏi vì sao thì bà bảo: “sợ chịu quả báo nên không dám nói, vì lúc còn sống bà có một người con, nhưng mang tên khác”. Sau khi Chúa Ngục hỏi lại, thì Ngài Mục Liên bảo khi còn cha mẹ Ngài tên La Bốc. Khi cha mẹ mất, Ngài mới xuất gia và có tên là Mục Liên. Bà Thanh Đề lúc đó mới dám nhận.

Khi chúa Ngục dắt Bà Thanh Đề ra, Ngài Mục Liên thấy mẹ bị dao đâm khắp mình, toàn thân có lửa cháy, mình mang gông sắt… thì khóc lóc nói với mẹ: “Thiết Trai Tăng gồm 500 vị, tưởng đã sinh thiên, nào ngờ gặp mẹ ở đây. Ba Thanh Đề nghẹn ngào nói: “Tưởng là mẹ con không bao giờ còn gặp nhau nữa”. Mục Liên hỏi: “Con ở dương gian làm mọi Phật Sự sớm tối không ngơi, trai nghi cúng mẹ có ích gì không?” Bà Thanh Đề trả lời: “Cúng tế vô ích. Có ăn được đâu. Phải lập công đức mới cứu được mẹ. Mẹ không tu phúc, nhưng nói dối với con nên ngày nay phải đọa Địa Ngục khổ sở vô cùng”. Bà kêu Ngài Mục Liên bạch Phật để tìm cách cứu mình.

Mục Liên về bạch Phật xin tìm cách cứu mẹ. Cảm động trước tấm lòng hiếu tử. Phật cùng đệ tử đi lên hư không, phóng hào quang xuống làm cho dụng cụ hành hình biến thành hoa quả. Giường sắt biến thành giường sư tử. Tất cả đại chúng thấy được thân Phật liền được thoát khổ. Nhưng Bà Thanh Đề vừa thoát ngục này liền sinh xuống địa ngục khác. Ngài Mục Liên lại tìm mẹ. Gặp được mẹ liền dâng cơm. Nhưng cơm chưa tới miệng bà Thanh Đề đã biến thành lửa. Mục Liên lại khóc lóc bạch Phật. Phật dạy: “Thỉnh các Đại Đức đã tu đắc đạo, đã chứng Thiền Định, thiết La Bồn Trai, cúng dường Tam Bảo, Sám Hối thay mẹ”. Ngài Mục Liên làm theo, sau đó Bà Thanh Đề được sinh lên cõi thiên”.

Nếu không đọc Kinh, hoặc đọc một cách hời hợt, hẳn chúng ta sẽ cho đó là cách thức Phật dạy chung cho tất cả con cái có cha mẹ qua đời. Nếu ngày Lễ VU LAN, mà mọi người thiết Trai Tăng để cầu Siêu thì thân nhân quá cố sẽ siêu thăng. Nhưng có đọc kỹ, chúng ta thấy kinh giảng về Nhân Quả từng việc rõ ràng như sau:

1/ Bà Thanh Đề đã nhận 1/3 gia sản với lời giao ước dùng đó để cúng dường Tam Bảo. Nhưng bà đã không làm, nên dù đã chết, bà vẫn nhớ là còn mang món nợ đó.

2/ Thiếu ai thì trả nấy. Nợ thứ gì thì trả thứ đó. Bà Thanh Đề không có nợ Phật. Nên Phật không thể tha cho bà được, dù Ngài sẵn sàng cùng Thánh Chúng lên hư không rưới nước tắt lửa Địa Ngục. Nhưng Bà thoát Địa Ngục đó lại sinh vào Địa Ngục khác. Cho tới khi Ngài Mục Liên làm Trai Tăng thì bà mới được giải thoát.

3/ Tội ai làm nấy chịu. Ngài Mục Liên không thể chịu tội thay, dù đó là mẹ ruột.

4/ Kinh đã mượn miệng bà Thanh Đề để nói: “Cúng tế vô ích, có ăn được đâu” để chúng ta đừng bày mâm cao, cổ đầy cúng người đã khuất cho phí tiền.

5/ Phật dạy Thiết Trai phải “thỉnh chư Đại Đức đã tu Đắc Đạo, đã Chứng Thiền Định”, không phải cúng dường bất kỳ vị Tăng nào!

Bà Thanh Đề có nợ Thiết Trai Tăng, nên con bà muốn trả nợ giùm mẹ thì phải làm điều đó thay cho mẹ. Nếu chúng ta cũng muốn muốn noi gương Ngài Mục Liên, trả nợ thay cho ông bà, cha mẹ của chúng ta thì cần xét lại xem họ nợ cái gì? Nợ của ai thì trả cho đúng chủ, hay con cái nhà đó, thì người quá cố mới hết vướng mắc. Nợ ông A đâu thể trả cho bà B? Bà B đâu có quyền nhận tiền rồi xóa nợ thế cho ông A? Đó là thuận đời mà cũng hợp đạo. Giả sử cha mẹ ta ngày xưa cướp tài sản của người nào đó, không lẽ sau này con cháu mang tiền đi cúng chùa là xong? Chẳng lẽ ông bà cha mẹ ta ăn ở ác đức, rồi lễ Vu Lan ta làm Trai Tăng là xóa hết được sao? Phật dạy người tu phải Quán Sát, phải Tư Duy. Vì thế, chúng ta đừng máy móc bắt chước người khác, mà nên xem kỹ lời Phật dạy để thực hành cho đúng, thì thân nhân quá cố của ta mới thật sự được nhờ.

Đó là việc báo hiếu đối với cha mẹ đã qua đời. Nhưng theo tôi, báo hiếu cho cha mẹ còn sống mới quan trọng hơn. Đạo Phật cũng không dạy người tu làm gì khác hơn là giữ trỏn đạo làm người, vì Bốn Trọng Ân mà Phật dạy người tu phải báo đền, thì Ân Cha Mẹ đứng hàng đầu. Bởi hơn ai hết, Đức Thích Ca là người quán sát các pháp một cách hết sức tinh tế, vì vậy mà phương tiện Ngài lập ra cũng không ngoài cách dạy con người phải cư xử đúng Đạo Làm Người. Kinh ĐẠI PHƯƠNG TIỆN PHẬT BÁO ÂN có ghi ra từng chi tiết những việc để làm thành 32 Tướng Tốt của Phật. Không phải là “Hào quang sáng chói. Nhìn đó là lóa mắt. Nghĩ đến là ý loạn” như nhhiều người vẫn tưởng tượng, mà đó là những việc rất thường tình của con người có đạo đức: Phụng dưỡng cha mẹ. Hiếu kính Thầy. Giúp đỡ bạn bè. Cúng dường cha mẹ và người có đức. Giữ Giới. Làm điều thiện. Giảng hòa những cuộc tranh chấp... Để ai muốn có những Tướng Tốt này bắt chước mà thực hiện theo. Không phải chỉ Phật mới làm được. (Xin đọc trong Bản Tin số 11 và 12). Tiếc thay, nhiều đời mọi người cứ hiểu lầm lại đề xướng dùng Vàng, Ngọc, bạc, đồng, xi măng, gỗ đúc tạc để Thờ, để cầu xin, bất chấp lời khuyến cáo của Chư Tổ. Trách sao Đạo Phật lần hồi biến thành Thần Quyền không khác gì các Tôn Giáo khác!

Nói đến lễ Vu Lan là nói đến lòng hiếu kính cha mẹ. Không lẽ ta đợi cha mẹ mất đi mới tỏ lòng hiếu kính? Điều cần thiết là ta nên chăm sóc, yêu thương lúc họ đang sống. Một miếng ngon, chút sự quan tâm khi trái nắng trở trời là đã có thể làm ấm lòng cha mẹ. Nhất là người già không bịnh nọ, cũng tật kia. Họ đã một đời hy sinh, gian khổ vì ta rồi. Bản thân họ cũng đâu có muốn mang bệnh, chẳng may căn đày, kiếp đọa nên phải chịu mà thôi. Họ cũng tủi thân lắm. Nhưng lực bất tòng tâm, đành phải làm khổ con cái! Nhiều người hầu hạ cha mẹ thì bực dọc, nặng lời! Chúng ta đừng quên, cả một chuỗi ngày thơ ấu, cha mẹ đã phải hầu hạ, hốt dọn cứt đái cho mình tới lớn. Giờ mình trả lại thì cũng là lẽ thường thôi. Lẽ nào lại ngược đãi, hất hủi cha mẹ cho đành!

Có người còn đối xử với mẹ chồng không ra gì. Mỗi lần mẹ chồng đến chơi thì dặn người làm xét giỏ trước khi bà về, vì sợ bà lén lấy đường, sữa, bột ngọt của mình đem về cho con ruột, trong khi đó sẵn sàng cúng Chùa hàng tấn gạo! Mẹ chồng thì khác gì mẹ của mình. Dù không sinh đẻ, nuôi dưỡng mình, nhưng sinh đẻ, nuôi dưỡng chồng mình, để ngày nay có người yêu thương, lo lắng cho mình. Lẽ nào ta thương chồng mà lại coi thường mẹ chồng? Người chồng thấy vợ cư xử với mẹ mình như vậy thì làm sao vui được! Phật dạy: “Cha mẹ trong nhà là Thích Ca, Di Lặc”. Là Phật Tử, chúng ta đừng quên điều đó. Cúng Phật nào, Chùa nào cho bằng cúng người đã tạo ra hình hài và nuôi dưỡng mình, có khi còn để lại cả sản nghiệp cho mình! Không có cha mẹ, làm sao có mình, có chồng để yêu thương mình? Người chồng hay vợ thấy người bạn đời của mình cũng yêu thương, kính trọng cha mẹ mình thì lại tăng thêm lòng yêu quý nhau. Trên thuận, dưới hòa. Hạnh Phúc gia đình lại được nhân lên. Việc làm tốt có kết quả ngay hiện kiếp, và ngược lại.

Nhiều người chỉ tôn sùng, kính trọng Phật, sẵn sàng hy sinh cuộc đời để phụng sự cho Phật , tưởng là chỉ có xuất gia tu hành để“cứu nhân độ thế”là quan trọng, mà quên đi bổn phận làm con. Đức Phật không hề khuyến khích điều đó qua câu chuyện sau: Thời Phật tại thế, có một anh chàng là con trai độc nhất, sống với mẹ già. Nhưng nghe Phật giảng, quá mến mộ, nên mặc cho mẹ năn nỉ, anh ta cũng quyết đinh bỏ nhà để theo Phật xin tu học. Đến nơi, gặp Phật, Phật từ chối và dặn anh chàng hãy trở về, chờ khi gặp được vị nào mà mang lộn dép, chân nọ qua chân kia. Đó là vị Phật mà anh ta cần theo hầu. Đó cũng là tu hành, khỏi cần xuất gia. Bị Phật từ chối, anh chàng buồn bã thất thểu ra về.

Đường thì xa, nên về đến nhà thì trời đã khuya. Anh ta kêu cửa. Bà mẹ đang mỏi mòn thương nhớ con. Nghe tiếng con thì mừng quá, vội vả quýnh quáng xỏ dép để chạy ra mở cửa nên mang lộn dép. Chiếc nọ sang chân kia! Trông thấy thế, anh ta biết ý Phật bảo anh nên ở nhà hầu hạ mẹ già cho trọn đạo làm con. Tử đó anh bỏ ý định xuất gia.

Một sự thật rất đáng buồn là chưa bao giờ Đạo Đức con người lại xuống cấp một cách trầm trọng như bây giờ. Người ta sẵn sàng giết nhau chỉ vì một câu nói, vì một chút va quẹt nhỏ. Thậm chí chỉ vì chướng mắt! Cơn nóng giận đã làm cho họ quên rằng luật đời cũng như luật Đạo, tội giết người là tội nặng nhất. Không biết kềm chế bản thân. Đợi đến khi đối diện với Tòa Án, hối hận thì đã muộn! Những người đó không chỉ tự hại bản thân, mà đồng thời cũng làm cho những đấng sinh thành ra họ và nạn nhân cũng phải đau khổ suốt cuộc đời còn lại! Tệ hại hơn nữa là thời gian gần đây, ngày càng xuất hiện nhiều nghịch tử xuống tay giết cha, giết mẹ một cách tàn nhẫn, lạnh lùng! Cuộc sống khó khăn làm cho con người dễ nổi nóng hay con người do thiếu giáo dục, rèn luyện về mặt đạo đức, hoặc cả hai? Họ sẵn sàng giết me ruột vì những lý do hết sức nhỏ nhặt: Đứa thì bị Mẹ chửi bới vì không chịu làm ăn. Đứa thì xin tiền chơi game mẹ không cho! Một đại gia bỏ mẹ bịnh hoạn ở một mình trong căn nhà hôi hám với lý do “chưa thuê được người trông nom”! Con trai và con dâu đóng đinh vào chân mẹ, hành hạ cho chết, rồi mang bỏ xuống giếng sau vườn. Sau đó tỉnh bơ báo với hàng xóm là mẹ mình đã bỏ nhà đi đâu mất, để kêu bán cái nhà của bà. Cho tới khi hàng xóm phát hiện báo với chính quyền!

Không biết những người đó có phải là con người hay không? Không biết họ có con hay không, để thấy nuôi được một đứa con trưởng thành, những bà mẹ cực khổ biết bao nhiêu! Nâng niu từng miếng ăn, giấc ngủ. Lo sốt vó khi con bịnh hoạn. Chỉ cần con bị con muỗi, con kiến đốt cũng thấy xót xa. Nhà nghèo thì làm quần quật để kiếm miếng cơm, manh áo cho con. Thậm chí gần đây, một bà mẹ quá nghèo đã chấp nhận hy sinh cả mạng sống của mình, chọn biện pháp treo cổ chết, để mong có số tiền phúng điếu cho con đóng học phí! Thật là xót xa, và điều đó cũng cho ta thấy tấm lòng hiền mẫu bao la dường nào!

Có lẽ mọi người đều biết, đâu phải bà mẹ nào từ lúc có mang đến khi sinh con đều xuôi chèo, mát mái! Có bà suốt thai kỳ ăn vào là ói tới mật xanh. Có bà thèm những món quái dị. Thử hỏi, mang trên người một khối cả chục ký lô, ngày cũng như đêm, trong 9 tháng trời. Đi, đứng, tới, lui nặng nề, khó khăn biết dường nào?! Thế mà lúc trở dạ, chỉ cần một chút sơ xuất của Bác sĩ, Y tá, là mất mạng như chơi. Nhiều phụ nữ đang tuổi thanh xuân đã chết vì sinh con! Có người phải chịu mỗ xẻ đau đớn. Ông bà ta gọi sinh đẻ là: “banh da xẻ thịt”quả không sai! Việc sinh nở nguy hiểm đến nỗi người ta ví người đi sinh là “Vượt cạn”!

Mang nặng, đẻ đau là vậy, sinh được đứa con là cha mẹ vui mừng còn hơn bắt được vàng. Nhưng con người đâu có được mạnh khỏe như thú rừng, để rời dạ mẹ ra là có thể tự chạy nhảy? Phải mất mấy tháng bú mớm, đút từng ngụm nước thì xương đứa bé mới bắt đầu cứng dần. Nó mới tập lẫy, tập trường, bò, rồi dần dần mới gượng đứng, đi. Mỗi mỗi đều phải có người giữ gìn, trông coi. Người mẹ từ lúc có con thì đâu có giấc ngủ nào được trọn vẹn. Đang ngủ mà con cựa mình là phải thức giấc. Đang ăn mà nghe tiếng con khóc là phải bỏ đũa để dỗ dành. Ru con hết hơi khi nó khó chịu trong người quấy khóc. Tập cho con từng bước chân chập chững. Từng tiếng nói đầu đời. Bón cho con từng muỗng bột, muỗng cháo. Sợ con nghịch ngợm rồi bị nguy hiểm, mẹ phải không rời mắt. Ngày đêm cầu trời, khấn Phật, vái van phù hộ cho con được mạnh giỏi. Ít lắm là 3, 4 năm đầu đời, không bà mẹ nào dám bỏ con một mình. Con lớn thì tìm trường hay, thầy giỏi cho học. Khuyên răn, kềm cặp, uốn nắn, theo dõi con từng bước trưởng thành.

Những đứa con đối với cha mẹ là “báu vật trời cho”. Họ nâng niu, chiều chuộng hết mực. Nhường cho con những gì tốt đẹp nhất. Phải nói hình hài của mỗi người không phải chỉ là cơm, rau, thịt, cá, mà trong đó có cả tình yêu thương, chăm sóc của cha mẹ. Mồ hôi nhọc nhằn mưu sinh của cha. Nước mắt của mẹ và những đêm thức trắng hồi hộp canh chừng từng hơi thở của con khi con ấm đầu, đau bụng! Và chúng ta đã trả những công ơn đó ra sao?

Nhân Mùa Vu Lan, có lẽ chúng ta cũng nên xem lại cách sống, cách cư xử của mình sao cho trọn đạo làm người trước khi nghĩ đến việc thành Thánh, thành Phật và cũng đừng đợi lúc cha mẹ mất đi mới bày mâm cổ cúng, mới khóc kể nói lên lòng hối hận, thương tiếc muộn màng. Nước mắt lúc đó còn làm được gì? Kể lễ thì có ai nghe? Đám ma cho rình rang thì người chết có hãnh diện? Quan tài bạc tỷ. Mộ phần vương giả nằm trong nghĩa trang cao cấp nhất. Quanh năm có người chăm sóc. Cây kiếng xanh tươi bốn mùa để cho ai thưởng thức? Liệu người chết có cần hay không? Có ai đó đã nói: “Lúc sống thì chẳng cho ăn. Đợi đến khi chết làm văn tế ruồi”! Nghe mỉa mai làm sao!

Một nhạc sĩ đã viết: “Mỗi mùa xuân sang ngày tôi xa mẹ càng gần”. Thật vậy. Chúng ta đều biết ngày đó rồi sẽ phải đến. Vậy tại sao ta không yêu thương chăm sóc cha mẹ hết lòng, để đến lúc họ ra đi ta không phải hối hận vì biết rằng không còn cơ hội để chuộc lỗi nữa! Nhiều người lại nghĩ rằng chỉ có đi tu mới là báo hiếu cho cha mẹ. Nhưng nếu đọc kỹ lời Phật, lời Kinh, ta sẽ thấy: Tu chỉ có một nghĩa là Sửa. Kinh dạy: Bất cứ ở đâu. Ăn mặc như thế nào? Làm bất cứ nghề gì? miễn “Y Pháp tu hành” thì cũng Thành Phật. Đâu nhất thiết phải bỏ cha mẹ già bơ vơ không nơi nương tựa, để đôi khi tu hành không xong, ngoài lỗi với cha mẹ còn mang thêm nợ áo cơm của thế nhân! Phật chỉ là người chỉ đường cho ta hướng thiện. Cha mẹ mới là người mang nặng, đẻ đau, dưỡng dục cho ta nên người. Cho nên, Tu ở đâu ? Phụng thờ ai ? Báo đáp ai cho bằng cho cha mẹ? Vì đó là hai ân nhân lớn nhất trong cuộc đời của mỗi chúng ta. Họ đã ban tặng cho ta sự sống. Cho ta cả cuộc đời. Bởi thế, Ông bà ta có câu nói rất đời mà cũng rất Đạo: “Tu đâu cho bằng tu nhà. Thờ cha, kính mẹ hơn là đi tu”.


Mùa Vu Lan 2013



Quay Lên Đầu Trang