Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




VĂN HỌC NAM HÀ

文 學 南 河





KỲ THỨ 6.

Nhà Nho Đặt Vấn Đề Tận Dụng Nhân Lực

Để Mở Mang Miền Nam:

NGUYỄN CƯ TRINH



Sanh năm 1716, Nguyễn Cư Trinh 阮居貞dòng dõi họ Trịnh ở Huyện Thiên Lộc, Hà Tĩnh. Tổ tiên xưa là Trịnh Cam, Binh Bộ thượng thơ dưới triều Lê. Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê (1527) Trịnh Cam trốn vào Thuận Hóa chiêu tập dân chúng chống nhà Mạc, việc chưa thành thì mất. Con cháu đến xã An Hòa 1 lập nghiệp. Đến đời Nguyễn Đăng Đệ, đời thứ bảy, nổi tiếng học giỏi, thông minh, thi đỗ Sinh Đồ được bổ làm Huấn đạo rồi thăng Tri huyện Minh Linh. Chúa Nguyễn Phúc Chu, lúc bấy giờ thương tài cho ông đổi ra cho họ Nguyễn. Con út của Đăng Đệ là Nguyễn Cư Trinh tên tục Nghi, hiệu Đạm Am, nhờ sinh trưởng trong gia đình văn học nên cũng thành đạt: Đậu Hương cống năm Canh thân (1740) và được bổ làm Tri Phủ phủ Triệu Phong. Khi Nguyễn Phúc Khoát xưng vương (1744), Nguyễn Cư Trinh coi việc soạn thảo công văn. Năm 1750 ông được cử giữ chức Tuần Phủ Quảng Ngãi, nơi đây thường có giống dân Đá Vách (dân thiểu số ở Quảng Ngãi) khuấy phá, ông phải đem quân đánh dẹp. Để khích lệ quân sĩ trong công cuộc bình định nầy ông có đặt ra tuồng Sãi Vãi. Năm 1753 ông được phái đi đánh Thủy Lạp và góp công lớn vào cuộc mở mang đất đai ở miền Tây.

Năm 1765 Nguyễn Phúc Thuần lên ngôi, mới 12 tuổi, Nguyễn Cư Trinh được gọi về làm quan trong triều, đến năm 1767 thì mất, được thờ ở quốc miếu.

Ngoài Sãi Vãi (nôm) ông còn Đạm Am thi tập (Hán, đã mất) 10 bài họa Hà Tiên Thập Cảnh với Mạc Thiên Tích (Hán, hiện còn chép ở sách Phủ biên tạp lục của Lê Quí Đôn), một số thơ Hán rải rác (trong Nam hành đắc ký tập của Phạm Nguyễn Du).

Ý HƯỚNG SÁNG TÁC của quyển Sãi Vãi:

1. Sãi Vãi được tác giả viết để nâng cao tinh thần quân sĩ khi đi bình giặc Đá Vách, một nhóm người thiểu số, rất dữ, thường tàn hại người Việt Đàng Trong thuở đó:

“Đến đâu là tảo tận.

Bắt đặng ắt giết tươi,

Đã vào làng cướp của hại người.

Lại ra nội đuổi heo bắt ngựa”.

Ông đặt ra để diễn trong quân thứ, trước tạo dịp quân sĩ mua vui, sau để giải thích tận tường lý do phải bình định.

* Ở mục đích mua vui, tác giả không viết bằng giọng văn trầm lặng độc điệu, cũng như không dùng lối độc thoại tràng giang trái lại thỉnh thoảng thêm vào những đoạn trào phúng, khôi hài có tình cách bông lơn, bỡn cợt, những lời đối thoại đi ra ngoài câu chuyện để tạo một không khí vui tuơi, chẳng hạn những câu giễu cợt của ông Sãi:

- “Sãi yêu vì đạo,

Sãi dấu vì dươn.

Thấy Mụ Vãi nhan sắc có hơn,

Cho Sãi tu hành kẻo thiệt.”

- “Sẵn đồ, sẵn đạc,

Liêu sau cũng gần đây,

Vào cùng Vãi tu hoài tu hủy.”

- “Vãi nầy cũng lạ,

Chớ nói mà sầu

Uổng năm dây đờn gảy tai trâu,

Hoài muôn hộc nước xao đầu vịt.”

- “Sãi không có biết,

Sãi chẳng có hay.

Ghé cho khỏi cánh tay,

Kẻo mà tuông trái vế.”

- “Kề tai lại mà nghe,

Ghé vú ra kẻo chạm.”

- “Như yêu sự lăng quăng, chi cho bằng yêu mụ Vãi.”

- “Hãy tu đây cho dễ,

Ắt qua đó khó lòng.

Chớ đi mà nó bắt Vãi đi,

Nỡ bỏ Sãi bồ côi bồ cút”.

Hay các câu hỏi không cần thiết của mụ Vãi, chỉ có tính cách đong đưa, gợi ý để ông Sãi dễ bề thố lộ ý mình:

- “Chẳng hay ông Sãi quê quán ở phương nào?”

- “Lời nói sao ngụy,

Chẳng phải tánh chơn

Tu làm sao lo thiệt lo hơn,

Tu làm sao tham tài tham sắc?”

- “Ông có biết sự đời,

Nói nghe chơi cũng khá?”

Nhân vật mụ Vãi vì vậy xuất hiện như một phương thế để không khí thêm phần trào lộng, khỏi tẻ nhạt, mặt khác người nghe (đọc) không phải nín hơi theo dõi một lời độc thoại quá dài, dễ gây nhàm chán, nhất là trường hợp quân sĩ nơi đồn trại mà khung cảnh và kiến thức không cho phép.

Dụng ý nầy của Nguyễn Cư Trinh rất hợp tình hợp cảnh, nhưng không phải hoàn toàn do ông độc sáng nếu ta để ý rằng trước ông có người viết tuồng rồi, nhưng tiếc rằng nay những tác phẩm nầy đã thất lạc2.

2. Từ năm 1673, năm Nam Bắc hưu chiến đến năm 1750 năm Nguyễn Cư Trinh viết quyển Sãi Vãi3 Nhân dân Nam Hà hưởng gần 80 năm thái bình nên việc quân sự có phần chểnh mảng, suốt thời gian nầy Đàng Trong tuy chúa Nguyễn đã thi hành những cải cách đáng kể (thi cử ăn mặc) nhưng tuyệt nhiên không có những cải cách về quân sự, gần như mọi người đều quên cảnh chiến tranh trước đây. Đâu đâu cũng phô bày cảnh tận hưởng sang giàu. Trong phủ chúa Nguyễn Phúc Khoát và dinh thự của thuộc hạ, theo Lê Quí Đôn, trong Phủ Biên Tạp Lục , cảnh yến tiệc xa xí và đồ quí giá đã trở nên thường tình, phương bắc đã có các lũy Trường Dục và Nhật Lệ cản ngăn, miền Nam thì dễ dàng mở rộng. Mọi người chỉ thấy cảnh nhàn nhã, yên ổn, sung sướng trước mặt.

Nhưng khi Nguyễn Cư Trinh được cử làm Tuần Phủ Quảng Ngãi, thực tế mới bày ra: giặc Đá Vách hung dữ đánh phá chặn đường Nam tiến. Mọi người đang quen với thái bình giờ đây nhận chân nguy nan trước mặt nên chồn chân nản chí, ông thấy cần phải động viên tinh thần các giới để cứu nước, ông viết quyển Sãi Vãi.

* Động viên bằng cách chỉ về hướng Nam và coi đây như con đường độc nhứt để mưu tìm cuộc sống của nhân dân Nam Hà bởi vì các đường khác đã bị chặn hết rồi, phía Tây dãy Trường Sơn điệp điệp trùng trùng, phía Bắc quân Trịnh án ngữ, phía Đông biển cả mênh mông ...

“Tây phương không đường tới,

Bắc Phương khó nẻo qua.

Có một đường chẳng gần chẳng xa.

Nhưng mà ngặt nhiều mọi Đá Vách”.

Tiến về phía Nam tìm sanh lộ để giải quyết vấn đề đất đai cằn cỗi chật hẹp và núi non hiện tại. Việc đánh quân Đá Vách, do đó không phải chỉ thuần là một công cuộc bình định mà còn là việc mưu tìm cuộc sống.

* Động viên bằng cách vạch ra sự ác độc dã man của người Đá Vách đối với dân Việt:

“Tưởng càng lạc phách,

Nhớ đến kinh hồn.

Nó chém người như trùn,

Nó giết người như rận....”

Sự ác độc này có lý do, người Đá Vách những năm mất mùa, đói kém, lụt lội nên bắt buộc phải hành động như vậy để tìm đường sống4. Người Nam Hà trong khi trừ người Đá Vách chỉ cũng giải quyết cuộc sinh tồn cho chính họ.

Ta thấy ngay đường lối khôn khéo của Nguyễn Cư Trinh trong vấn đề này. Ông “Cho lập Quảng Ngãi đồn dinh với sáu đạo lo nghiêm việc canh phòng. Ông cho cất trại, mở đồn điền, làm kế như ở lâu, “Người Đá Vách” thấy thế hoảng sợ ra đầu thú. Bấy giờ ông mới vỗ về”5 .

Thực hiện cách thế nầy Nguyễn Cư Trinh đã thấy được nguyên do của việc nổi loạn, của sự dã man. Ông trị không bằng cách giết chóc trả thù, ông khôn khéo hơn: vỗ về và giải quyết nguyên do sự bất mãn của họ. Sử chép ông dâng lên vua những phương cách làm cho dân chúng bớt khổ6 .

* Động viên bằng cách để cho mụ Vãi, một người đàn bà tu hành nhưng cũng ý thức được vấn đề sinh tồn của quốc gia trong lời tuyên bố hăng say rằng phải giải quyết vấn đề, rằng trách nhiệm của người cai trị ở chỗ phải lo ngay từ khi có thể lo được:

“Trong kinh có chữ: Nhung địch thị ưng7

* Động viên bằng cách nói lên sự trường tồn của dân tộc - tượng trưng bằng sự trường tồn của Chúa - không phải bằng lời tụng niệm mà bằng cách thế khác:

“Nguyện Hoàng gia cơ Nhạc thọ san, Chúc quốc tộ an như bàn thạch8.”

Và sự trường tồn đó ở trong cảnh thanh bình thạnh trị, dân chúng an vui:

“Giang san cũ đam về đất Việt,

Điền tịch xưa dựng lại thành Nam.

Chốn chốn đều tư chỉ tư cam,

Nhà nhà hãy tỉ xương tỉ xí.

Già chống gậy đến xem thuận trị,

Trẻ ngậm cơm mừng đặng thái bình.

Nước sông vàng lẻo lẻo dòng xanh,

Dân con đỏ hây hây ngời rạng.

Chợ không ra giá bán.

Đường chẳng mất của rơi...”

Tư tưởng trong “Sãi Vãi 仕娓” không mới lạ, có thể nói đây là tư tưởng Tống Nho, trước ông đã có người nói một cách tương tợ rồi: Hàn Dũ ở Trung Hoa, Trương Hán Siêu ở Việt Nam. Giá trị chỉ ở chỗ ông đã nêu lên, đã đặt thành vấn đề, trong giai đọan lịch sử cần thiết có sự đặt thành vấn đề.

a. Bài xích những người tu hành giả dối.

Thời này, chuyện binh đao tuy chưa xảy ra nhưng lúc nào cũng như treo trên đầu người và sẵn sàng hiện đến. Khoảng năm 1751 - 1752, Chúa Trịnh Doanh ở đất Bắc giả vờ mượn đường Trấn Ninh của Nam Hà để đánh dẹp Lê Duy Mật, nhưng thật ra cốt ý do thám binh tình của Chúa Nguyễn. Vả lại lúc nầy quân Trịnh rất tinh nhuệ và được điều khiển bởi một Chúa giỏi việc quân. Chính Trịnh Doanh đã dẹp tan quân khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu ở Nghệ An, quân khởi nghĩa Nguyễn Doanh Phương ở Thái Nguyên, mặc dầu Phương hùng cứ tại đây gần mười năm trời. Nguyễn Cư Trinh biết rằng nếu không đề cao cảnh giác, để nhân lực bị phí phạm cuối cùng Nam Hà sẽ bị mất về tay Chúa Trịnh, do đó ông cực lực bài xích những hình thức không ích lợi cho giai đoạn: tu niệm.

Ta còn thấy rõ hơn khi ông xét đoán về bổ phận đối với quốc gia của hạng người nầy: núp áo nhà chùa để trốn tránh nhiệm vụ thông thường của người dân đương thời. Đành rằng Chúa dành cho nhà Tu những đặc quyền, nhưng cũng vì vậy vô tình tạo nên một lớp người trốn xâu lậu thuế, vô tích sự:

“Sãi người trong nước,

Sãi chẳng có xâu bơi9.

Sãi sánh ở dưới đời,

Sãi cũng không thuế viết.”

Câu nói của ông Sãi như một lời tố cáo của Nguyễn Cư Trinh, nhưng qua cách nói của ông Sãi người đọc nhận chân được vẻ gì tự đắc, tự tôn đến lố bịch, chán ngấy, đủ thấy thời đó hạng người lợi dụng sự tu hành để thỏa mãn ý riêng của mình không phải không có. Và hạng người nầy cũng cho hành động của mình như một cách thế tránh né những khó khăn cực nhọc sáng suốt khôn ngoan. Dĩ nhiên người như vậy cách tu của họ phải vị lợi, vị kỷ chưa phải thuộc hạng tu chân chính, thất tình lục dục của họ còn tràn đầy, tu chỉ như một cách thế để sinh sống như những nghề khác. Có thể bảo bọn tu hành nầy dựa cảnh chùa như tấm bình phong để thỏa lòng dục.

Bởi vậy, khi gặp gái, mặc dù gái đã xuất gia tu hành, bọn chúng cũng giở trò tán tỉnh, dụ dỗ, ca tụng tâng bốc về nhan sắc, khuyến dụ bỏ dở đường tu niệm để cùng họ hưởng những lạc thú làm ô uế chốn thiền môn:

“Sãi yêu vì đạo,

Sãi dấu vì dươn

Thấy mụ Vãi nhan sắc có hơn,

Cho Sãi tu hành kẻo thiệt.

Khoan khoan! Chưa biết Vãi ở chùa nào ?

Thanh tân mày liễu má đào,

Đẹp đẽ mắt sao da tuyết.

Lòng người dầu thiết,

Thời đạo cũng đặng gần.

Qua Tây Phương còn cách trở hang thần,

Sau phương trượng lại sẵn sàng bàn Phật

Ngoài che sáo nhặt,

Trong phủ màn thưa.

Lạnh thời có mền bát ti,

Nực thời có quạt lục phủ.

Chiếu du trơn như mỡ,

Thuốc lá ướp hoa ngâu.

Rượu hồng cúc ngào ngào,

Trà tiên thơm phức phức.

Sẵn đồ sẵn đạc,

Sẵn Vãi sẵn thầy.

Liêu sau cũng gần đây,

Vào cùng Sãi đặng tu hoài tu hủy”.

Lời dụ dỗ của ông Sãi tu kiểu Lỗ Trí Thâm như trên tuyệt diệu và sành sõi, cho thấy rằng họ đã quen những trường hợp như vậy. Trước hết vuốt ve lòng tự ái của người đối diện rồi vạch cho thấy sự khó khăn trong việc tu hành, cuối cùng trình bày sự sung sướng sẵn sàng trong hiện tại để dễ dàng lung lạc.

Ngoài ra cách sống của bọn tu hành, qua lời ông Sãi tự gán cho mình - nhưng thật ra để ám chỉ bọn tu hành giả dối thời đó - cho ta thấy sự xuống dốc thật sự của một vài phần phần tử thuộc giới tăng lữ ở Nam Hà: tham lam về đủ mọi mặt, tham ăn, ăn những thứ cấm đoán, tham dâm, thực hành rồi phủi tay tránh tiếng, tham tiền, tham cờ bạc. Tóm lại, những giới răn của nhà chùa bọn nầy đều phạm phải và phạm thật nặng. Hành vi của họ chúng ta không thể tưởng tượng nổi. Chẳng hạn:

“Sãi lại sắm một cái phương trượng,

Để sau liêu vắng một mình.

Trên mặt thời rộng thinh,

Dưới ngăn thời sâu chẹt

Đương thời cơm lạt, Bổn đạo vừa đến nơi.

Nghe tiểu đồng tằng hắng tiếng lên,

Mấy dĩa thịt Sãi tu quăng vào đó.

Sãi lại sắm một cái vườn nho nhỏ,

Ở tót xa xa.

Để phòng khi bổn đạo nghén ra,

Phép khiến Sãi khoanh tay mà ngồi vậy.

Có thể nói những hành động nầy có tính toán, có dự trù và tổ chức khác với những lỗi lầm do sự yếu mềm của lý trí. Sự dự trù được chứng tỏ khi ông Sãi tạo dựng những phương tiện để che dấu tội lỗi của mình: có bàn kín phía dưới để che giấu cơm thịt, có nhà trong vườn ở xa xa để cho đàn bà chửa nghén, có sáp để đánh cho môi khỏi tái khi thua bạc...

Như vậy, tội lỗi này thực hiện có dự mưu có sự biểu đồng tình của lý trí, được hành động bởi những người biết rằng tội nhưng vẫn bước chân vào.

Đó là về mặt đạo hạnh, tội lỗi còn có thể che mắt thế gian, còn có thể dùng lớp áo để làm thành thầy tu. Thầy tu giả dối thời Nguyễn Cư Trinh10 quá quắt hơn, họ phạm lỗi ngay trong hình hài. Họ để ý đến bóng sắc mình, lo chau chuốt thân thể, tìm cách làm sang làm đẹp. Y phục đắt tiền, vật trang sức quí giá đối với họ cần thiết hơn kinh kệ mõ chuông. Những thứ nầy nếu thiếu sẽ sắm sau, nhưng áo quần, quạt, khăn, kẻ hầu người hạ, cần phải sắm trước:

“Nhiễu đại đóa, Sãi sắm một cái quần cho tốt,

Bố cát tào, Sãi sắm một cái áo cho xuê.

Nón kiểng hàng, Sãi sắm một cái xinh ghê,

Quạt ban trước, Sãi sắm một cây cho báu riết.

Giày kinh hài, Sãi sắm để mà đạp tuyết.

Khăn bích cân, Sãi sắm để mà bịt đầu.

Sắm một đứa đạo chúng con con cắp ống điếu cho mầu.

Sắm khăn vải kiền nho nhỏ, cột đãy chơi cho ngỏa.

Chợ nào đông bạn hàng các ả.

Xóm nào nhiều bổn đạo các dì.

Sãi một tu lại tu đi,

Sãi một tu lên tu xuống.”

Hành động của Sãi không khác gì mấy công tử con những vị điền chủ vài chục năm trước đây, có khác chăng công tử sau nầy nhởn nhơ do tiền của cha mẹ, còn thầy Sãi thời Nguyễn Cư Trinh lả lướt nhờ của thập phương ...

b. Chống lại sự tu hành, lánh đời, vô ích với thực tế.

Không phải Nguyễn Cư Trinh chỉ bài xích người đi tu dựa thế vào chùa trốn xâu lậu thuế, nhưng lòng còn đầy thất tình lục dục, ông còn đi xa hơn: đả kích ngay chính sự tu hành đúng nghĩa.

Sự tu hành đối với thời sinh lộ của quốc gia đang bị chận, vào lúc địch phía Bắc lúc nào cũng dòm ngó, cũng trông chờ dịp tiến quân vào đánh phá11 không thể chấp nhận được.

Tu để thành tiên theo Nguyễn Cư Trinh chỉ là công việc của một người muôn thuở thành một người núi, người rừng, người không thực tế, tu để thành Phật, theo ông cũng là một người xa rời cuộc đời hiện tại để thành người ngơ ngơ ngác ngác không biết gì hết:

“Mượn danh là Phật,

Chữ Phật là chữ phất, chữ nhơn.

Luận lý cho chơn,

Là phất tri nhơn sự12.”

Ngoài ra dầu tu thật sự, những người nầy không phải đi tu từ một ý hướng tốt, không thí phát vì thấu lẽ huyền vi của đạo, vì có một triết lý về cuộc đời... mà vì sự thúc đẩy bởi sự kinh hoàng về địa ngục. Bọn người nầy thật ra đã có lòng dục ngay từ lúc đi tu:

“Tham thiên đường, phải giữ lòng thành, Sợ địa ngục nên chừa thói dữ”

Tu như vậy cũng chỉ là lối tu của người trung trí 13.

Bọn hạ trí còn ngu dốt hơn, say mê việc tu hành bỏ quên dân tình, ham trường sinh bất tử khiến cho dân chúng lao nhọc, nhưng cuối cùng cũng không thu thập được gì ngoài tiếng ta thán của nhân dân:

“Kìa như Lương Võ Đế,

Đã đấng cao minh,

Nọ như Tần Thủy Hoàng,

Đã nên trang hung bạo14.

Tham lam vì đạo,

Lận đận tìm Tiên.

Mệt sức người mà thiên hạ chịu lao phiền,

Hao của nước mà muôn dân kêu đồ khổ15.

Trăm chước tu hành thì có,

Mảy lông chứng nghiệm vốn không.”

Tu như vậy, theo Nguyễn Cư Trinh vô ích bởi vì khi gặp chuyện cần thiết, khi gặp tai nạn cần phải giải tỏa, người tu hành không làm được đã đành, đấng thiêng liêng cũng không hiện lên để cứu độ được, người tu do đó chịu cảnh khổ sở riêng mình:

“Tống Đạo Quân đời nào tu cho hơn

Lương Võ Đế đời nào tu cho kịp.

Bại ải Bắc sao Phật chẳng ra mà cứu cấp.16

Ngạ Đài Thành sao Phật không đến trợ nàn ?17

Thật ra Võ Đế không chết đói, Nho gia bịa chuyện chết đói đề đả kích đạo Phật. Nguyễn Cư Trinh cũng theo những người nầy. Nhân đây, ta thấy vì quá bảo vệ quan mình, Nguyễn Cư Trinh nếu cần cũng vận dụng đến những thí dụ không đúng lắm để khôi hài hóa đạo Phật...

Trong một tuồng của Đức Cố Quản Trần Văn Thành, viết khoảng 1849 có một đoạn luận về cách tu chống lại Nguyễn Cư Trinh như sau:

“Đến nay ta mới nhắc lại việc tu hành từ cổ chí kim, những việc tu làm sao, hoặc là thượng trí tu hoặc là hạ trí tu cho nên mới nhắc lại việc tu trước thời mới biết việc sau.

Thuở trước Lương Võ Đế người tu lập bảy mươi hai kiểng chùa đến ngày ngã tử tại thiền (chết đói tại thành) Phật bất lai cứu. Ấy vậy người cũng phải xét lại. Phật bất ly cứu cũng phải đó mà.

Cứu làm sao! Của thập phương tín cúng, mà mình tu cho mình, ấy làm vậy chẳng vô tình lắm”.

***

Chê trách những người tu hạ trí và trung trí, Nguyễn Cư Trinh đề cao cách tu thượng trí, tu hành theo đường lối Tống Nho, cốt là ích quốc lợi dân bằng cách luyện tập thao lược, sửa quốc gia, trau dồi nhân đức để cảm hóa dân chúng, cách tu đáng bắt chước ngày xưa Nghiêu, Thuấn, Võ, Thang đã thực hiện:

“Tu quyền tu bính, tu kỷ tu cang.

Trên thì tu Nghiêu, Thuấn, Võ, Thang.

Dưới thì tu kinh luân thao lược”.

Việc tu nầy không phải “ngồi luận đạo vị” bởi vì “chẳng ích chi cho nước”, trái lại phải sửa đức sửa nhân để quốc gia thạnh trị:

“Có tu đức thì thiên hạ mới trị yên,

Có tu nhân thì cơ đồ mới củng cố”.

Nhưng sửa đức, sửa nhân (tức tu văn) luyện thao tập lược (tức tu võ) không phải lúc nào cũng đem ra thực hành được, phải biết thời biết thế, lúc nào cần tu văn, lúc nào cần tu võ. Nguyễn Cư Trinh, vạch ra điều đó:

“Thuở thái bình, yển võ tu văn,

Cơn bát loạn, yển văn tu võ”.

Tư tưởng cốt yếu của Nguyễn Cư Trinh nằm trong hệ thống ý thức hệ Tống Nho, nói cách khác tư tưởng Khổng Mạnh được sử dụng tối đa trong việc giúp đời, giúp nước cốt cho quốc gia hùng mạnh. Bởi vậy ông sẵn sàng chê trách những tư tưởng của các học phái khác, Phật giáo và Lão giáo gánh chịu đầu tiên. Những tôn giáo nầy đối với Tống Nho hủ hậu không thực tế, không ích quốc lợi dân còn làm quốc gia suy vi. Xưa Hàn Dũ đã chê đạo Phật và bài xích đạo nầy một cách kịch liệt, ở Nguyễn Cư Trinh sự bài xích còn cao hơn một bực, ông đả phá từ căn bản vì người tu có lòng dục ở chỗ họ đã mơ thiêng đường. Ông còn hài kịch hóa trong việc chiết tự một cách méo mó để giải thích các đối tượng cao quý của đạo nầy là Tiên - Phật. Tiên đáng lẽ được coi là người nhàn nhã, thảnh thơi, lòng không vướng bận chuyện đời, lánh tục ẩn trên núi thì Nguyễn Cư Trinh coi như người núi; Phật đáng lẽ được coi là người không còn ước muốn nào, cho cuộc đời như ảo ảnh thì Nguyễn Cư Trinh lại nói là người không hiểu chuyện đời.

Tư tưởng Dương Chu, Mặc Định ông cũng đả kích. Một đàng quá vị Ngã để chỉ biết riêng mình, một đàng quá vị Tha để chịu tất cả khổ sở nếu có lợi cho người khác. Vị ngã bị chỉ trích đã đành, vị tha cũng không chấp nhận được vì sự quá khích và không hợp thời hợp thế. Phải hành động thế nào lợi nước, lợi nhà, chớ không phải lợi cho một người hay lợi cho một số đông ...

Sự chống đối các học thuyết khác và đề cao cách thế giúp đời là tư tưởng của Nguyễn Cư Trinh đồng thời tượng trưng cho nỗi ưu tư luôn luôn ám ảnh ông. Hai câu thơ trong bài Long Hồ ngọa bệnh của ông gói ghém niềm lo lắng đó:

Ngũ cửu phù danh hựu nhất niên,

Vô năng thiên hữu Võ hầu18 phiền.

= Bao nhiêu năm nay trong phù danh lại thêm một năm nữa. Mình đã vô tài và mang cái ưu phiền của Võ hầu.

Ông lo lắng, đến sự bành trướng của miền Nam, lo lắng vì người thờ ơ với quốc gia quá nhiều, vì người dân lâm vào cảnh khổ sở ... Trong bài Long Hồ đại phong kỷ hoài, ông đã than thở:

... Hồi thủ Triệu Phong 19 vạn trùng thủy,

Thương tâm Định Viễn nhất thiên gia.

Thiên gia lưu đáo man di thổ,

Thủy đa ngạc ngư, lục xà hổ.

Tân điền bất túc lại nhân cầu.

Lậu ốc huống vi phong ba nộ.

Ký phi xích tích tam niên đông,

Hựu phi Tuy Thủy phù nãi công.

Điệt hà đắc lãng ẩn lương đống,

Khả hạm khiên nhân một thủy cung.

Dịch nghĩa:

Quay đầu nhìn lại Phủ Triệu Phong ngập chìm trong nước.

Thương hại hàng ngàn căn nhà ở châu Định Viễn bị nước cuốn đến xứ Miên

Người dân khổ sở vì dưới nước có cá sấu, trên bờ thì rắn, cọp

Trong khi đó khai khẩn đất đai, thì huê lợi không đủ cho bọn lính lại yêu sách phiền nhiễu.

Nhà đã dột lại còn gặp cuồng phong.

Nghĩ mình không tài như Chu Công20 ngày xưa để giúp dân.

Mình cũng không phải là người tài để giúp đỡ Chúa21

Khiến cho bọn hạ tiện nhân dịp mà lên mặt lên mày22.

Thuyền bè bị nước cuốn, người chìm dưới dòng nước.

...............................................................

Nỗi dằng dặc trong lòng Nguyễn Cư Trinh, và cũng là điểm đặc biệt ở con người ông là sự thắc mắc trong việc tìm một phương thức làm sao cho Nam Hà hùng cường. Bởi vậy khi được dịp ông liền dâng lên Chúa những suy nghĩ của mình. Có lần ông tâu sớ kể rõ 4 điều tai hại do quan lại địa phương tạo nên và đề nghị cách giải quyết, nhưng sớ dâng lên không có tiếng vang nào, ông thất vọng nên từ chức23.

Điều nầy cũng tạo thêm lý do khiến ông mang tâm sự buồn, tâm sự của người riêng mình sống với nỗi lo lắng, không người đồng chí, chẳng ai hiểu mình.

Đọc thơ chữ Hán của ông, ta thấy những câu đại khái như:

Thế sự vinh khô nại nhược hà?

= Chuyện thế thiệt hơn biết thế nào?

(Long Hồ đại phong kỷ hoài)

hay ở một chỗ khác:

Gió rét ở cửa ải thổi vào con ngựa mõi mệt,

Mảnh đất Tràng An cùng với người bề tôi trơ trọi24.

(Ải thượng ngâm)

hoặc:

Gan ruột không phải là chiếu trải ra, thà cuốn lại.

Thân thế như cái áo cũ (lúc nào cũng thua mới)

Lâu năm chướng lệ thường ghen khách,

Nhưng bóng thiều quang xa xôi cũng vẫn theo mình 25.

(Xuân nhật ký hoài)

Ta có thể không chịu được sự quá khích của Nguyễn Cư Trinh khi đả kích Phật, Lão, Mặc Địch, Dương Chu, ta có thể bất bình về việc ông không thành thật trí thức khi lý luận bài xích phe đối lập (cố tình chiết tự sai, khôi hài hóa ông Sãi, dùng tích đã bị sửa đổi) nhưng ta cũng vô cùng cảm phục tấm lòng ưu ái của ông đối với quốc gia, và không thể không cảm động khi nghe ông than thở sự bất lực và nỗi cô đơn của mình.

Cho đến ngày nay, Nguyễn Cư Trinh vẫn còn giữ địa vị một hình bóng lớn trong văn học cũng như giữ một vai trò quan trọng trong việc gây dựng ý thức phát triển miền Nam26.


Phụ Lục I

SÃI VÃI TÂN LỤC QUỐC ÂM

DIỄN CA

(Nguyễn Cư Trinh)

May mắn được một nhà nho ở Chợ Mới (An Giang) biếu cho một tập văn Nôm chép tay trong đó có bản “Sãi Vãi Tân Lục Quốc Âm Diễn Ca” nầy, chúng tôi, NVS, xin phiên âm giới thiệu học giới như một tài liệu để tiến đến một bản “Sãi Vãi” chính xác. Bản phiên âm này khác với bản Chéon và khác xa với bản Giáo sư Lê Ngọc Trụ: có nhiều chữ dùng đắc địa nâng cao giá trị kỹ thuật của tác giả. Bản nầy chỉ có “năm tình” vui, yêu, thương, ghét, giận, thiếu mất hai, chúng tôi cứ phiên âm như một tài liệu.

Số Á Rập ở trong ngoặc đơn (..) đặt ở đầu câu chỉ số trang của bản Nôm.

Sãi viết:

(1) Kiến tánh ôi quân tử,

Minh tâm ấy kẻ trượng phu.

Thờ Phật như thờ Chúa Đường Ngu,

Làm nam tử là tôi Tắc Khiết.

Giang san cũ đam về đất Việt,

Điền tịch xưa dựng lại trời Nam.

Chốn chốn đều tư chỉ tư cam.

Nhà nhà hãy tỉ xương tỉ xí.

Già chống gậy đến xem thuận trị.

Trẻ ngậm cơm mừng đặng thái bình.

Nước sông vàng lẻo lẻo dòng xanh

Dân con đỏ hây hây ngời rạng.

Chợ không ra giá bán.

Đường chẳng mất của rơi.

Đời đã đáng (27) đời.

Thú dầu vui thú.

Tôi nay Sãi khó.

Mừng đạo tu trì

Lòng từ bi mộ đạo Thích Ca.

Đầu phật pháp vui lòng trai (28) giái.

Tiêu dao cõi ngoại.

Nong nả trần trung.

Tương dưa đòi bữa no lòng,

Bô vải miễn đà ấm cật.

Màn trời chiếu đất,

Gẫm tợ am thanh.

Đạo Như Lai càng thốt càng lành,

(2). Câu giáo hữu thoạt ngâm thoạt lạ (29).

Dựa màu thiền Bát Nhã,

Lần chuỗi hột Bột Đề.

Trỗi mộc ngư tụng kệ canh chầy.

Đà thạch xướng phần hương khi tối

Ước siêu tam muội.

Ngõ cứu cửu huyền.

Dạ lăm đền mộc bổn thủy nguyên,

Chí dốc báo càn khôn phúc tái.

Vãi viết:

Chẳng hay ông Sãi, quê quán ở phương nào?

Lời đọc kệ rất cao,

Đạo tu hành rất chói.

Sãi viết:

Lựa là phải hỏi, quê quán mà làm chi?

Có phải đạo tăng ni

Thời vào tu mà nhờ phận phước.

Sãi người trong nước,

Sãi chẳng có xâu bơi.

Sãi sánh ở dưới (30) đời

Sãi cũng không thuế viết.

Xưa Sãi biết chăn dân muôn quận

Xưa Sãi hay giữ việc nhà vàng.

Già cảm ơn mãi mã nhiêu dương,

Sãi sợ Diêm Vương

Mới tu hành cho thoát khỏi,

Sãi cũng biết giữ mình làm cội.

Sãi cũng hay lấy đức làm tu nhơn,

Giữ mực thước cầm cân.

Đánh roi cũng bì ngang chúng,

Xưa lỡ bề lương đống.

Nay phải dụng lều mây,

(3) Sãi đọc truyện lại cho Vãi hay.

Họa là lòng có chuộng,

Mới tụng kinh vừa xuống.

Nghe tiếng khánh gióng lên,

Ngỡ là chuông vua Hạ Võ chiêu hiền.

Hay là mõ đức Trọng Ni thuyết (31) giáo,

Sãi yêu vì đạo.

Sãi dấu vì dươn,

Thấy mụ Vãi nhan sắc có hơn.

Cho Sãi tu hành kẻo thiệt,

Khoan! Khoan! Chưa biết,

Vãi ở chùa nào?

Thanh tân mày liễu má đào.

Đẹp đẽ mắt sao da tuyết,

Lòng người dầu chí thiết.

Thời đạo cũng đặng gần,

Qua Tây phang còn cách trở hang thần.

Sau phương trượng lại sẵn sàng bàn phật,

Ngoài che sáo nhặt.

Trong phủ màn thưa,

Lạnh thời có mền bát (32) tơ.

Nực thời có quạt lục (33) phủ

Chiếu du trơn như mỡ

Thuốc lá ép hoa ngâu.

Rượu hồng cúc ngào ngào

Trà tiên thơm phức phức.

Sẵn đồ sẵn đạc (34).

Sẵn Vãi sẵn thầy.

Liêu sau cũng gần đây.

Vào cùng Sãi tu hoài tu hủy.

Vãi viết:

Lời sao nói ngụy

Chẳng phải tánh chơn.

Tu làm sao lo thiệt lo hơn.

(4) Tu làm sao tham tài tham sắc?

Ấy là bạc đức.

Tu những điều chi?

Sãi viết:

Sãi cũng muốn tu trì

Khốn thiếu đồ khí dụng.

Thiếu chuông, thiếu trống.

Thiếu kệ (35) thiếu kinh,

Thiếu sứa, thiếu sinh.

Thiếu tiêu, thiếu bạt .

Thiếu bình, thiếu bát .

Thiếu đậu, thiếu tương.

Thiếu bình hoa lư hương.

Thiếu hoa đường liễn đối.

Thiếu bệ son, bình sái.

Thiếu thích trượng, cà sa.

Thiếu hương thiếu hoa.

Thiếu xôi, thiếu phật.

Ấy là đồ vặt

Sãi hãy sắm sau.

Các món kíp làm đầu.

Sãi toan sắm trước.

Nhiễu Đại Đóa, Sãi sắm một cái quần cho tốt.

Bố Cát Tào, Sãi sắm một cái áo cho xuê.

Nón kiểng hàn, Sãi sắm một cái xinh ghê.

Quạt ban (36) trước, Sãi sắm một cây cho báu riết,

Giày kinh hài, Sãi sắm để mà đạp tuyết.

Khăn (37) bích cân, Sãi sắm để mà bịt đầu.

Sắm một thằng đạo chúng con con, cắp ống điếu cho mầu.

Sắm khăn vải kiền nho nhỏ, cột đãy chơi cho ngỏa.

Chợ nào đông bạn hàng các ả.

(5) Xóm nào nhiều bổn đạo các dì.

Sãi một tu lại tu đi.

Sãi một tu lên tu xuống.

Sãi lại sắm một cái phương trượng.

Để sau liêu vắng một mình.

Trên mặt thời rộng thinh.

Dưới ngăn thời sâu chẹt.

Đương thời cơm lạt (38).

Bổn đạo vừa tới nơi.

Nghe tiểu đồng tằng hắng (39) tiếng lên.

Mấy dĩa thịt Sãi tu quăng vào đó.

Sãi lại sắm cái vườn nho nhỏ

Ở tót xóm xa xa.

Để phòng khi bổn đạo nghén ra.

Phép khiến Sãi khoanh tay mà ngồi vậy.

Sãi lại sắm tiền khang mà bỏ đãy

Gắn sáp chặt mép tai, lâm sòng40 xú thua hoài.

Phép khiến Sãi làm thinh mà ngồi vậy.

Sãi lại sắm một hai bình thuốc tráng.

Năm ba đạo bùa mê.

Sắm tiểu đồng cho hay tin đi tin về,

Sắm cô Vãi cho khéo nói ngon nói ngọt.

Phải nơi gái tốt;

Mà lại nhiều tiền.

Nó chẳng đến chùa chiền.

Chớ dễ Sãi từ bi mà ngồi vậy?

Vãi viết:

Lời sao nói quái,

Tai chẳng muốn nghe.

Trí tuệ thông hoa nở Bồ Đề.

(6) Nhơn duyên đẹp trái đơm Ưu Bát.

Tuy là mật thất.

Nào khác thông cù?

Trời xa xa xem tỏ chẳng mù.

Lưới lồng lộng bủa thưa chẳng lọt.

Một lời lỗi luật.

Muôn kiếp khôn đền.

Chốn Thiên Đường khoan khoan ông chớ bước lên

Miền Địa Ngục mau mau mà tìm xuống.

Sãi viết:

Mụ nầy vụng lượng.

Chẳng biết hí ngôn.

Chốn Thiên đường quân tử tu lên,

Miền Địa Ngục tiểu nhân tu xuống.

Vậy cho nên quân tử thời tu đức thắng tài,

Thờ vua thời tu ngay.

Thờ cha thời tu thảo.

Một lời thốt phải nhơn phải đạo;

Ấy là tu ngôn.

Một việc làm chẳng hại, chẳng tham.

Ấy là tu hạnh.

Lấy nhơn mà tu tánh.

Lấy ngãi mà tu thân.

Tu “Minh đức” để mà “Tân dân”

Tu “Tề gia” để mà “Trị quốc”

Ấy là trang hiền đức.

Người tu phải đạo tu.

Ngoài thời tu khoan dũ, ôn nhu.

Trong thời tu hòa bình trung chánh.

Tu cung tu kính,

Tu tín tu thành.

Mới phải đạo tu hành,

(7) Càng thêm nhiều phước lý.

Tự nhiên đắc lộc, đắc thọ, đắc ninh,

Phú quí hiển vinh,

Thiên đường là đó.

Ấy là người quân tử.

Tu lên thiên đường,

Còn những đứa tiểu nhơn.

Nó tu vào địa (41) ngục.

Tiểu nhơn thói tục.

Tu những tánh phàm,

Tu một lòng bạc ác, gian tham.

Tu những thói ngu ngoan hung bạo.

Nuôi cho lớn tu lòng bất hiếu.

Ăn cho no tu dạ bất trung,

Chuốc sắc lành để mà a ý khúc tùng.

Trao 42 lời khéo để sức phi văn quá43,

Người hiền ngõ, ghét ghen cản trở.

Kẻ lỗi lầm, tầm túi 44 đon ren,

Tu bòn người lấy của cho đầy then.

Tu mưu độc hại người cho phỉ giận,

Đứa tiểu nhơn như rận.

Nó tu rút (45) máu người ta,

Tu càng dày càng nát ông nát cha.

Tu càng dày càng hại con hại cháu,

Tu vơ tu váo.

Tu dọc, tu ngang,

Hễ tiểu nhơn chi ban.

Thời nó tu đường bất ngãi.

Vậy cho nên:

(8) Âm vi quỷ thần sở hại.

Dương vi vương pháp sở tru,

Ấy là đứa tiểu nhơn chi tu.

Thời nó tu vào địa ngục,

Tu mà thoát tục.

Hãy còn trang thượng trí chi tu,

Nhớ thuở Đường, Ngu.

Thánh xưng nhị đế,

Nhị đế người tu kỷ, mà thiên hạ đều an.

Tam hoàng người tu nhơn, mà muôn dân thảy trị.

Dầu nhẫn Hán Đường tương kế.

Có tu nhơn chánh thời thiên hạ mới an.

Sang đến Triệu Tống tương truyền.

Có tu đức hạnh, thời cơ đồ mới hay củng cố.

Còn như vua Văn, vua Võ.

Người tu cũng tùy thời mà tu.

Khi thái bình yển võ tu văn.

Cơn bát loạn yển văn tu võ.

Một người mà tu đủ

Thời thiên hạ đặng thanh bình.

Hây hây cõi thọ đài Xuân.

Tu làm vậy chẳng là trang thượng trí.

Hãy còn trung trí chi tu.

Mặc Địch, Dương Châu.

Tu một việc vị nhơn vị ngã.

Nhổ một lông mà lợi thiên hạ.

(9) Thời họ Dương tu một sự chẳng vui.

Mài mòn trán mà lợi một người.

Thời họ Mặc tu một lòng chẳng ngại.

Dầu những Thích Ca tu lại Đạt Ma tu qua.

Tu cho tinh chuyên thời La Thập Cưu Ma.

Tu cho khổ não thời là Văn Thù Bồ Tát.

Số là người ngoại quốc.

Trọn theo thói Trung Hoa

Chê việc đời phú quí vinh hoa.

Muốn những sự thanh nhàn cực lạc.

Mượn danh là Phật.

Chữ Phật là chữ phất chữ nhơn.

Luận lý cho chơn.

Là phất tri nhơn sự.

Vậy cho nên:

Ai dữ thời mặc dữ.

Ai lành thời mặc lành,

Nhà hưng vong phụ tử chẳng binh.

Nước trị loạn, quân thần chẳng đoái.

Vậy mà hay nói nhơn nói ngãi

Nói tánh, nói tình.

Người thế gian:

Tham chốn Thiên Đường thời ở lòng thành

Sợ địa ngục thời chừa thói dữ.

Muôn dân phụng tự.

Ấy chẳng là trung chí chi tu?

Tu mà rất ngu,

Hãy còn trang hạ trí.

Kìa như Lương Võ Đế,

Đã đấng cao minh.

Nọ như Tần Thỉ Hoàng.

(10). Đã nên trang hung bạo.

Tham lam vì đạo.

Lận đận (46) tìm tiên

Mệt sức người mà thiên hạ chịu lao phiền,

Hao của nước mà muôn dân kêu đồ khổ.

Trăm chước tu hành thời có.

Mảy lông chứng nghiệm vốn không.

Đất Luân Đài chẳng phải Hớn hối ngộ tấm lòng.

Ải Hàm Cốc, Tần đà rấp ranh làm phản.

Cũng theo như Hớn.

Dễ một chi Tần ?

Tống Đạo Quân đời nào tu cho hơn ?

Lương Võ Đế đời nào tu cho kịp ?

Bại ải Bắc sao Phật chẳng ra mà cứu cấp ?

Ngạ Đài thành sao Phật không đến trợ nàn?

Tiếc cơ đồ gây dựng gian nan

Hoài sự nghiệp tổ tôn sáng tạo

Kinh sư đã vang dầy tiếng pháo.

Sao Tề Ngươn hãy nương án mà tụng kinh hoài hoài.

Khiết Đơn đà vây phủ trong ngoài.

Sao Vương Khâm còn đóng cửa tu trai dỏi dỏi.

Hư thời đã phải.

Chết chẳng ai thương.

Hễ đạo làm Đế làm Vương

(11). Thời tu quyền tu bính.

Tu nhân tu chính.

Tu kỷ tu cang,

Trên thời tu Nghiêu, Thuấn, Võ, Thang.

Dưới thời tu kinh luân, thao lược.

Có đâu bắt chước.

Thầy Sãi tu chơi.

Trọn tu trong một ngày mà đặng lên trời.

Suy trị đạo chẳng ích chi trong nước.

Mấy ai đặng phước

Đều một phải tai!

Cứ mê đạo hoài hoài.

Tu làm vậy chẳng là hạ trí?

Vãi viết :

Ngỡ là ông Sãi (47) có đều tu.

Ai ngờ giả thói ngu

Mới nên trang bợm lịch.

Khôn ngoan trong sạch.

Chữ nghĩa từ hoà

Thiệt vàng nọ chưa pha.

Hẳn ngọc kia còn ẩn

Chẳng kiêu, chẳng lận.

Biết kính biết nhường

Biết tiểu nhân cỏ rác mà dẫy duồng.

Biết quân tử ngọc lành mà yêu chuộng

Biết khinh biết trọng.

Biết của, biết người

Ông có biết sự đời

Nói nghe chơi cũng khá!

Sãi viết :

Vãi nầy cũng lạ.

Chớ nói mà sầu

Uổng năm dây đàn gảy tay trâu

Hoài muôn hộc nước xao đầu vịt.

Sãi không có biết,

Sãi không có hay,

Ghé cho khỏi cánh tay.

(12) Kẻo mà tuông trái vế.

Vãi viết:

Ông nầy thất lễ

Vả lại bạc tình!

Ông thấy Vãi có chí tu hành.

Ông tưởng Vãi chẳng thông thời sự.

Đã hay rằng: Nam tử thời chí kinh luân.

Song le: Đấng phụ nhân cũng ghe tài kinh tế.

Kìa như Châu Thái Tỷ.

Kinh còn khen đức rạng khuê môn

Nọ như Tống Tuyên Nhơn,

Sử còn gợi nữ trung Nghiêu Thuấn.

Gái như Tạ Đạo Uẩn,

Gái mà hay vịnh tuyết nên thơ.

Gái như Thái Văn Cơ,

Gái cũng biết phân cầm nên khúc.

Mưu gián chúa cho khỏi nơi dật dục,

Chăng là Đường Từ Huệ thứ phi.

Chước cứu cha cho khỏi chốn nan nguy,

Chăng là Hán Đề Oanh thiếu nữ.

Nam tử, nhiều trang nam tử.

Phụ nhơn, ghe đấng phụ nhơn.

Thuyền bá trôi ngàn thuở hỡi nhơn nhơn.

Sách Hán để muôn đời còn vặc vặc.

Gái mà có tài có sắc.

Gái mà có hạnh có công.

(13) Thuyền quyên đâu dễ kém anh hùnh.

Trách ông Sãi khéo phụ phàng bà Vãi.

Sãi viết :

Thậm phải! Thậm phải!

Mừng thay! Mừng thay!

Khát hạn nọ trông mưa,

Ôm cầm đà gặp khách.

Chẳng cây cứng sao hay búa sắt.

Biết ngựa hay về bởi đàng dài.

Vậy thời: Sãi rẽ mây ngút, phát chông gai.

Đặng cho: Vãi thấy trời xanh, tìm đạo cả.

Hiếm chi điều lạ.

Hết mấy chuyện quen

Ghé tai lại mà nghe.

Xich vú ra kẻo chạm (48)

Sãi muốn nói một chuyện xa xa cho Vãi gẫm.

Thời ngoại kỷ chép đã nên xe.

Sãi muốn nói một chuyện gần gần cho Vãi nghe,

Thời trong sách chép đã nên đống.

Chuyện Đường, chuyện Tống

Chuyện Thương, chuyện Hạ, chuyện Châu.

Chuyện phụ tử làm đầu,

Chuyện quân thần rất hệ.

Sãi muốn nói một chuyện: quân sử thần dĩ lễ,

Sãi lại e Tần, Sở phiền lòng.

Sãi muốn nói một chuyện: thần sự quân dĩ trung,

Sãi lại e Mãng, Tào sanh oán.

Sãi muốn nói: vi phụ chỉ ư từ,

Sãi lại e ông Cổ Tảu dức ngầy 49.

Sãi muốn nói một chuyện: vi tử chỉ ư hiếu cho Vãi hay

(14) Sãi lại e gã Tùy Dương chê ngộ 50.

Sãi muốn nói một chuyện: vi nhơn bất phú,

Sãi lại e ông Nhan Tử mắng rằng ai mượn nói tấn ơn.

Sãi muốn nói chụyên: vi phú bất nhơn,

Sãi lại e gã Thạch Sùng thốt rằng sao khéo thổi lông mà tìm vít.

Sãi muốn nói một chuyện, tài tụ tắc dân tán

Cho Sãi biết chớ Thương làm sao mà mất nước.

Sãi muốn nói một chuyện tài tán tắc dân tụ

Cho Vãi hay thời Châu làm sao nên hưng mà phải thuyết.

Chuyện Vãi thời Vãi biết

Chuyện Sãi thời Sãi hay.

Gắng công phu tu luyện cho lâu ngày,

Đêm thanh vắng Sãi nói cùng một chuyện.

Vãi viết:

Ông nầy tu luyện,

Có chí kinh luân.

Giảng sử kinh tích để trong lòng

Mang y bát chân truyền phải mặt.

Dầu chẳng: “vạn gia sanh Phật”

Đã đành: “nhứt lộ phước tinh”

Thời chưa nên ông còn trễ đãi công danh,

Nếu vận đạt ông ắt khoe khoang thanh giá.

Sãi viết:

Chữ phụ nhơn nan hóa,

Vãi có biết ở đâu?

Câu Vị Tân, Lữ còn chờ đợi công hầu.

(15) Cày Sằn Dã, Y hãy mơ màng Nghiêu Thuấn

Chữ bất tri nhi bất uẩn.

Câu hữu đức tắc hữu lân

Sớm mười hai đầu đội đai cân

Muộn bảy chục cũng vai 51 đeo ấn tướng 52.

Khốn vì Sãi hay tham quàng nên cả bịnh thất tình,

Tồn ư trung bất chánh ắt chẳng lành.

Phát ư ngoại bất tri thời tiết

Đầu bày chí thiết.

* Sãi có bịnh hay vui.

Sãi vui dưới đất dài.

Sãi vui trên trời rộng.

Vui nước biếc non xanh lộng lộng

Vui trăng thanh nguyệt rạng lồ lồ

Trong ba đường, vui chứa một bầu.

Ngoài lục đạo, Sãi vui thông tam giái

Non Bồng Lai bước tới

Sãi vui với Bát Tiên.

Kiểng Thương Nhạc trèo lên

Sãi vui cùng Tứ Hạo.

Vui nhơn, vui đạo

Vui thánh vui hiền.

Vui tiếng chuông giục khách lui thuyền.

Vui chiếc giép đạp lau nương giá.

Lánh thói tục vui dòng Bát Nhã.

Rửa màu thuyền 53 vui nước Ma Ha.

Đạo răn người, vui giáo Thích Ca

Nhơn cứu chúng, vui niềm Bồ Tát.

Vui một bình một bát

Vui một phụ một hề.

Luận sự vui cho ngỏa, cho nguê

Chi cho bằng đêm thanh vắng Sãi vui cùng mụ Vãi.

(16) * Sãi lại có một bịnh hay yêu

Sãi chẳng yêu tà.

Sãi hay yêu chánh.

Luận trong thiên tánh, chi cho bằng yêu thân

Suy lý hạnh nhân, rốt thời yêu vật

Yêu chí thiết, yêu nguời hiền chất.

Yêu mặn mòi, thời yêu kẻ trung thành.

Yêu trượng phu mở rộng thinh thinh.

Yêu quân tử trống không lồng lộng.

Yêu gang sắt (54) mài mà chẳng mỏng.

Yêu lòng gương nhuộm mà chẳng đen

Yêu lỗ tai lời tà ít nghe quen.

Yêu con mắt sự cổ kim dòm thấu tỏ.

Khắc 55 vợi vợi Sãi yêu bá tòng đồ sộ.

Dặm xa xa Sãi yêu ngựa ký sỏi sành

Con thảo cha Sãi yêu bằng ngọc bằng vàng,

Tôi hay chúa Sãi yêu hơn châu hơn báu.

Luận như (yêu) đạo thời Sãi yêu đạo Trung Dung.

Suy (như) yêu lòng, thời Sãi yêu lòng nhơn ngãi.

Yêu mà nhà lợi, nước lợi chi cho bằng yêu hiền

Yêu mà tài nên, đức nên, phú quý nên, chi cho bằng yêu sĩ.

Yêu người tuệ trí.

Yêu kẻ hiền năng.

Như sự yêu lăng quăng, chi cho bằng yêu mụ Vãi

* Sãi lại có một bịnh hay thương

(17) Sãi thương thuở Tam Hoàng

Sãi thương đời Ngũ Đế.

Thương vì nhơn, vì ngãi

Thương vì đức vì tài.

Thương vua Nghiêu áo bả quần gai.

Thương vua Thuấn cày mây, cuốc nguyệt

Ăn hẩm hút, thương vua Thang, thương càng chí thiết.

Chịu lao tù, thương vua Văn, thương lại xót xa.

Thương Châu Công trung đã nên trung mà mắc (56) tiếng gièm pha.

Thương Phu Tử thánh đà chí thánh mà ghe phen hoạn nạn.

Thương mấy kẻ trung thần đời Hớn, vô tội mà thác oan.

Thương mấy người văn học nhà Tần vô can mà chôn sống.

Thương Gia Cát nên tài lương đống, gặp chúa chẳng gặp thời.

Thương Nhạc Phi nên tướng ân oai, vô can mà phải hại.

Thương đi thương lại

Thương chẳng hay cùng

Ngồi đêm đông, Sãi thương người nằm giá khóc măng.

Trông biển Bắc, Sãi thương người chăn dê uống tuyết.

Thương càng chí thiết.

Thương rất đỗi thương.

Thương cho khắp bốn phương.

Rồi lại thương mụ Vãi.

* Sãi có một bịnh hay ghét.

(18) Ghét Kiệt, ghét Trụ

Ghét Lệ, ghét U.

Ghét vì nhơn chánh chẳng tu, khiến nước nhà nên mất.

Suy lòng ghét cho quá ghét, thời Sãi ghét đứa vô phụ, vô quân.

Suy lòng ghét cho quá ghét, thời Sãi ghét đứa đại gian đại ác.

Ghét ngang, ghét ngược.

Ghét lạ, ghét lùng.

Đọc ngu ngơ, Sãi ghét đảng Tứ Hung,

Xem Tống sử, Sãi ghét bầy Ngũ Quỉ

Ghét hoài, ghét hủy.

Ghét ngọt, ghét ngon.

Ghét đứa ngây cầu mỵ mà chôn con.

Ghét đứa dại, tham sang mà hại vợ.

Uốn (57) lưỡi vạy, Sãi ghét bầy nước Sở.

Dạ tham no, Sãi ghét thói người Tề.

Ghét đứa gian mà hay đắc thế đắc thời

Ghét đảng nịnh, mà hay hại nhà hại nước

Ghét thấy lợi mà chạy xuôi chạy ngược.

Ghét thấy của mà lo thiệt lo hơn

Ghét những người ích kỷ hại nhơn.

Ghét những kẻ gian phu, dâm phụ.

Ghét những đứa hay co hay cú.

Ghét những người chẳng thiệt, chẳng thà.

(19) Ấy là Sãi ghét người ta

Sau ghét Vãi sao vô tình cùng Sãi.

* Sãi có một bịnh hay giận.

Sãi giận Sãi nhiều lầm, nhiều lỗi.

Khi lỗi lầm Sãi một giận hoài.

Sãi giận Sãi ít đức, ít tài

Tưởng tài đức Sãi càng giận riết.

Sãi giận Sãi kinh luân chẳng biết, thao lược chẳng hay.

Xa quân vương mà (không) giữ tấm lòng ngay.

Gần cha mẹ mà không đền đạo thảo.

Tưởng trong nhân đạo.

Sãi một giận căm

Như suy lý cổ câm.

Sãi càng giận lắm.

Thấy Đổng Trác lung lăng 58 trong nhà Hán,

Sãi giận ngươi Hà Tiến vô mưu.

Để Khuyển Nhung phá nát nhà Châu

Sãi căm gã Thân Hầu thất kế.

Máu sục sục chảy dòng Vị Thủy

Xương chan chan đầy nội Trường Đình

Giận Thương Quân hà chánh chẳng lành,

Giận Bạch Khởi vô mưu rất dữ,

Giận nhiều điều chướng, giận chẳng có khi

Thấy Sãi già mà Vãi bỏ Vãi đi

Chớ trách Sãi sao mà hay giận.

Vãi viết:

Nghe qua các chuyện,

Gẫm cũng có tình.

Khen cho ông Sãi thuộc sử, thuộc kinh,

Khen cho ông hữu tài, hữu trí.

Lời ăn nói thánh hiền đạo vị.

(20) Miệng (59) khoe khoang nghĩa lý văn chương.

Đã tốt hạnh tốt hơn,

Lại có thinh, có sắc.

Lôi Âm tự có duyên thời thành Phật,

Thiên Thai sơn tốt phước thời nên Tiên.

Biết đường nào thấu đến Tây - Thiên.

Cậy bảo hộ chung cùng hôm sớm.

Sãi viết:

Vừa vừa bợm Vãi,

Bớt bớt yêu tinh.

Chốn thiên đường còn cách trở minh minh

Miền Phật quốc hãy xa chừng vời vợi.

Nam (60) phương khôn đường tới

Bắc phương khó nẻo qua.

Có một đường (phương) chẳng gần chẳng xa

Nhưng mà ngặt nhiều mọi Đá Vách

Tưởng càng lạc phách.

Nhớ đến kinh hồn.

Nó chém người như trùn.

Nó giết người như rận.

Đến đâu thời tảo tận.

Bắt đặng thời giết tươi.

Đã vào làng cướp của hại người.

Lại ra nội chém heo bắt ngựa.

Hãy tu đây cho dễ.

Ắt qua đó khó lòng.

Chớ đi mà nó bắt Vãi đi.

Nỡ bỏ Sãi bồ côi, bồ cút.

Vãi viết:

Trong kinh có chữ.

“Nhung địch thị ưng “

Có lòng tu thời vãng Tây Phương.

Dầu mộ đạo cũng siêu phật quốc

Chi bằng lời thật.

Sãi Vãi nọ tu.

Nguyện hoàng gia cơ nhạc thọ sơn.

Chúc quốc tộ an như bàn thạch.


Phụ lục II

Mười bài thơ họa Hà Tiên thập cảnh.

Tác phẩm của NGUYỄN CƯ TRINH

1. Kim dự lan đào.

Nguyên văn:

Phiên âm:

Đế nộ Dương Hầu sổ phạm biên,

Sắc di sơn nhạc trấn tiền xuyên.

Ba triêm bất thức trường thành diện,

Thủy mãnh phương tri chỉ trụ quyền.

Tinh Vệ bán tiêu hàm thạch hận,

Ly long toàn ổn bão châu miên

Tri quân diệc thị kình thiên vật.

Kim cổ thao thao độc nghiễm nhiên.

(Kim dự lan đào)

Dịch Thơ:

Trời giận Dương hầu phạm đất nầy

Sắc đem gò núi trấn sông đây

Sóng xô, thế vững, thành không ngập,

Nước mạnh quyền cao, núi chẳng sầy.

Tinh Vệ bớt hờn thôi đá ngậm

Ly Long ôm ngọc ngủ dòng say.

Mới hay tài ấy kê trời vững,

Cuồn cuộn nghìn thu sức chẳng lay.

(Đảo vàng ngăn sóng)

(Phạm Ngọc Khuê dịch)

2. Bình san điệp thuý.

Nguyên văn:

Phiên âm:

Trung phân thôn lạc lập thiều nghiêu,

Đạm mặc nùng thanh tác ý miêu.

Địa mạch suy linh quan thụ thạch,

Dân tình sầu lạc vấn sô nghiêu.

Xuân khai cẩm mạc yêu Nhung phủ

Thu khởi kim thành củng Thánh triều.

Thử vị Quảng Châu nhân lạc đắc,

Thảo hoa bất vị lục trầm điêu.

(Bình san điệp thuý)

Dịch thơ:

Xóm làng giữa khoảng đứng chênh vênh,

Xanh thẫm đen mờ khéo vẽ tranh.

Cây núi cằn tươi xem mạch đất,

Nông, tiều vui vẻ tỏ dân tình.

Xuân treo màn gấm mời Nhung - phủ,

Thu dựng thành vàng vững Đế - kinh

Cảnh ấy hẳn người Châu Quảng thích,

Bụi trần khôn nhuốm cỏ hoa xanh.

(Rừng biếc non Bình).

(Phạm Ngọc Khuê dịch)

3. Tiêu - Tự thần chung.

Nguyên văn:

Phiên âm:

Thần phong dao lạc lộ hoa phao,

Thiều đệ cô thanh quá thụ sao.

Kim thú háo tàn tinh hải chử,

Mộc kình đả lạc nguyệt thôn ao

Vạn gia tỉnh mộng Phật triều khuyết,

Bát thủy khai nhan tăng hạ sào.

Đãi khấu kham linh thuyền diệc hữu,

Bất minh minh đắc thái dương giao.

(Tiêu tự thần chung)

Dịch thơ:

Gió sớm lay rơi hạt móc sa,

Chòm cây văng vẳng tiếng ngân qua.

Thú vàng gào nguyệt rơi lòng biển,

Cá gỗ khua sao rụng rãnh nhà

Muôn họ tỉnh mồng triều Phật lạy,

Tám nguồn công đức đợi Sư ra.

Đón chờ tiếng gõ trên am nổi.

Chẳng gõ thì thôi, gõ sáng òa.

(Chùa Tiêu chuông sớm)

(Phạm Ngọc Khuê dịch)

4. Giang Thành dạ cổ.

Nguyên văn:

Phiên âm:

Kim thành trĩ lập bích giang cao,

Cương ngọa tiều lâu đối nguyệt hào.

Tế vũ hữu quyền thanh dục tốn,

Cuồng ba vô vận hưởng thiên hào,

Dao kha thước thụ y nan định.

Cận đãng giao đàm mộng diệc lao

Thùy niệm thiên nhai minh vũ lược.

Kinh hoa tòng thử chẩm di cao

(Giang Thành dạ cổ)

Dịch thơ:

Thành vàng sững sững cạnh sông xanh,

Nằm khểnh gào trăng trên điếm canh,

Mưa bụi như ngăn hơi rút nhỏ,

Sóng rồ không át tiếng càng kinh.

Cành rung điểu thước không yên tổ,

Đêm động giao long khéo náu hình.

Ai thấu góc trời lừng võ lược?

Kinh hoa cao gối vững 61 tăm kình.

(Giang thành trống khuya)

(Phạm Ngọc Khuê dịch)

5. Thạch động thôn vân.

Nguyên văn:

Phiên âm:

Nhất sơn khai phá lưỡng nham a,

Thôn hạ phù vân bất phóng qua.

Oách khuất long thân quy thấu nạp,

Loan tường phượng chử nhập bao la.

Hồ lô hỏa thấp yên ngưng trọng,

Thạch thất nhân hàn tử tích đa.

Xuất tụ đãi giao năng ngũ thái,

Quang phù thần vũ định sơn hà.

(Thạch Động thôn vân)

Dịch thơ:

Một non nứt nẻ đá chia đôi,

Nuốt trọn mây trời chẳng để trôi.

Sâu ngắn, rồng dài chui đến cả.

Loan bay phụng múa cũng vào thôi.

Lò tiên lửa tắt khói mờ vách,

Hang đá mây um, khí lạnh người

Đợi thuở năm mây đùn khói núi,

Sáng trưng thần vũ nước non coi.

( Động đá nuốt mây)

(Phạm Ngọc Khuê dịch)

6. Châu Nham lạc lộ

Nguyên văn:

Phiên âm:

Sơn hàm hải sắc bích vô hà

Thùy tống sương nhi đáo tác hoa.

Hành bạng lãng đầu ngư thất kế.

Lập đương tùng phát hạc vong gia

Tịch triều hưng thế tự nguy nghiệp

Phù hạc đoản trường không chúc a.

Vị tưởng ô y đường thượng khách.

Hoàn tương lục lục tiếu thiên nha.

(Châu Nham lạc lộ)

Dịch thơ:

Xanh ngời không vết bể non pha,

Ai đẩy “đàn sương” đến điểm hoa

Trên sóng đua bơi, chài hết mẹo,

Đầu thông chen đứng, vạc không nhà.

Nước triều lên xuống buông đầy dẫy.

Le hạc vắn dài luống thiết tha.

Lại nhớ nhà ai đàn én trọ,

Góc trời chen chúc những cười xòa.

(Non Châu cò vút)

(Phạm Ngọc Khuê dịch)

7. Đông Hồ ấn nguyệt.

Nguyên văn:

Phiên âm:

Dạ lai thùy trác lưỡng viên quang,

Nhất cống thiên gia thất thủy hương.

Thủy vị ngân bàn thiên học chú,

Thiên nghi ngọc kính thủy chân trang.

Giao ly nhược lậu độn hình thế,

Âu hạc như thiêm bác dực phương.

Khái tưởng Đào Chu thành sự hậu,

Kiền khôn ca chước tối trung ương.

(Đông Hồ ấn nguyệt )

Dịch thơ:

Đêm thanh ai giũa cặp viên cầu,

Một hiến trời xanh, một biển sâu.

Nước tưởng thợ trời rèn dĩa bạc,

Trời ngờ thấm nước ngắm gương châu.

Cá rồng sáng rọi thân khôn giấu,

Cò hạc đường quang cánh tiến mau.

Chợt nhớ ông Đào xong việc lớn,

Ca vang trời đất rượu nghiêng bầu.

(Trăng rọi hồ Đông)

(Phạm Ngọc Khuê dịch)

8. Nam Phố trừng ba.

Nguyên văn:

Phiên âm:

Doanh oa ba lãng kỷ thời khuynh,

Hoàn bả pha lê biệt địa minh.

Cơ Tất phận nhàn thiên sự thiểu,

Kình nghê quyền thất hải tâm bình.

Can thành khách hữu thừa phù tứ,

Hành bộ nhân vô vấn kiếm thanh.

Dã lão dữ âu phân tịch bãi,

Trường An tiếu chỉ thánh nhân sinh,

(Nam Phố trừng ba)

Dịch thơ:

Doành sâu mấy độ sóng dâng đầy,

Vẫn sáng như gương giữa đất nầy.

Cơ, Tất xa ngôi, trời lặng nhỉ,

Kình, nghê mất vía, bể yên thay!

Can thành khách muốn dong bè thả,

Hành lộ người không rút kiếm gây.

Cò trắng, lão quê chia đất đứng,

Trường An cười chỉ thánh sinh đầy

(Sóng lặng bờ Nam)

(Phạm Ngọc Khuê dịch)

9. Lộc Trĩ thôn cư.

Nguyên văn:

鹿

鹿

Phiên âm:

Tích nhưỡng cùng cư khả tịch thinh,

Tử tôn vô hoạn đoạt mao đình.

Lộc tu lưu khách dã trà hắc,

Đồn túc nghinh thê viên quả thanh

Bão noãn bất tri Thiên tử lực

Phong đăng duy tín Hải thần linh.

Cánh vô tô thuế hựu nhàn sự,

Thái bán nhân xưng cận bách linh.

(Lộc Trĩ thôn cư)

Dịch Thơ:

Xóm hẻm đường sâu vắng lặng tờ,

Cháu con yên ổn giữ ranh bờ.

Đun chè đãi khách dâng nem hoẵng,

Hái quả nghinh hôn luộc cẳng giò.

No ấm chẳng nhờ Thiên tử giúp,

Mùa màng duy cậy quỷ thần cho.

Sống không sưu thuế lòng thư thái,

Quá nửa người lên bách thọ đồ.

(Mũi Nai thôn nhỏ)

(Phạm Ngọc Khuê dịch)

10. Lư Khê ngư bạc.

Nguyên văn:

Phiên âm:

Ngư gia doanh đội nguyệt tằng tằng,

Lậu xuất tòng lư kỷ điểm đăng.

Phụ lão không văn triều hiệu Hán 62,

Thê nhi thiên quán khách danh Lăng 63

Sanh phù giang hán song chi trạo,

Thu thập kiền khôn nhất bả tăng.

Văn đạo bạch giao kim hựu trưởng.

Thụy lai hành nghĩ thí dư năng.

(Lư Khê ngư bạc)

Dịch thơ:

Bạn chài đội đội họp đêm trăng.

Thấp thoáng ngàn lau ánh dạ đăng,

Bô lão tưởng như triều thuở Hán.

Vợ con chỉ biết khách là Lăng,

Bồng bềnh sóng nước đôi chèo vẫy.

Vơ vét kiền khôn một lưới giăng,

Nghe nói thuồng luồng nay đã lớn.

Đêm mơ chợt nghĩ thử tài chăng?

(Vạn chài bến Vược)

(Phạm Ngọc Khuê dịch)

____________________

1 An Hòa nay thuộc thành phố Huế (ngoài cửa An Hòa).

2 Tuồng San Hậu 山后 của Đào Duy Từ (nay đã mất). Bản lưu hành hiện tại đã có nhiều sự sửa chữa của Đào Tấn. Về tuồng San Hậu thuyết cũ cho là của Đào Duy Từ và hiện nay nhiều nguời viết văn học sử cũng chấp nhận như vậy (Thanh Lãng - Bảng lược đồ ...quyển I, trang 313) Có người còn cho Lê Văn Duyệt, có người lại còn cho là của một tác giả dưới trướng của Tả quân coi về đoàn nhạc kịch ở Gia Định thành. Thật ra vấn đề tác giả tuồng hát bội là chuyện mò kim đáy bể vì người xưa viết tuồng không bao giờ để ý đến chuyện đề tên tác giả. Tuồng nào có tên tác giả cũng là nhờ những yếu tố may mắn gián tiếp hơn là cái tên tác giả trên bản văn hay trong gia phả...

3 Trong bức thư đề ngày 1/6/1951 Ông Hải Đường Chim Hải Yến có viết “Sãi Vãi đã khai sinh đúng hai trăm năm dưới ngòi bút của Đạm Am, Nguyễn Cư Trinh (trang VII)...... “cho xuất bản bổn Sãi Vãi anh bạn làm được ba chuyện: 1. Kỷ niệm đệ nhị bách chu niên một tác phẩm lịch sử.....” (trang X). Lê Ngọc Trụ và Phạm Văn Luật “Nguyễn Cư Trinh với quyển Sãi Vãi”, In lần thứ I, Tân Việt - Saigon. Bức thư thay lời tựa.

4 Xem Paul Nưr - Sơ Lược Về Chánh Sách Thượng Vụ Trong Lịch Sử Việt Nam - Phủ đặc Thượng Vụ ấn hành, trang 41.

5 Lê Ngọc Trụ và Phạm Văn Luật - sách đã dẫn, Trang 31.

6 Xem Lê Ngọc Trụ, sách đã dẫn, trang 39 - 41

7 Thành ngữ nầy có nghĩa đối với các nhóm nhung, địch thì mình phải hết lòng đánh dẹp. Trong tuồng hát bội Tam quốc, hồi 94, trang 6 có câu: Nhung địch thị ưng kim đại phấn, lỗ công nguyện tảo tấu hoàng đô.

8 Ý tưởng “Về phương Nam” và phương sách trường tồn nhà Nguyễn được Nguyễn Cư Trinh vạch rõ trong một tờ sớ dâng lên Chúa Nguyễn Phúc Khoát để trình bày chiến lược và chiến thuật khi cần phải giải quyết một vấn đề thực tế: trường hợp Nặc Nguyên.

“Từ xưa, sở dĩ dùng đến binh chẳng qua là muốn giết đứa kỳ khôi, mỡ mang bờ cõi mà thôi. Nay Nặc Nguyên đã hối lỗi nộp đất xin hàng, nếu tìm mãi sự giả dối của nó, thì nó sẽ chạy trốn. Thế mà từ Gia Định đến thành La Bích đường xá xa xôi, không tiến đuổi đến cùng. Muốn mở mang đất đai trước hết phải lấy hai phủ nầy để củng cố mặt sau cho hai doanh (Phiên Trấn và Trấn Biên). Nếu bỏ gần cầu xa, e rằng hình thế cách trở, quân dân không tiếp xúc, lấy được thì dễ mà giữ thực khó. Năm xưa mở mang đất Gia Định trước hết mở mang đất Hưng Phúc (Biên Hòa) rồi đến Lộc Dã (Đồng Nai) khiến cho quân dân đông đủ rồi sau mới mở đến Sài Gòn. Đó là kế tầm ăn dâu vậy.

Nay đất cũ từ Hưng Phúc đến Sài Côn chỉ hai ngày đường dân cư còn chưa yên ổn, quân giữ vẫn còn chưa đủ huống chi từ Sài Côn đến Tầm Bôn, xa sáu ngày, đường địa rộng rãi, dân số đến vạn người, quân đóng giữ trật tự chưa đủ. Thần xem người Côn Man giỏi thuật bộ chiến, người Chân Lạp cũng đã e sợ. Nên cho họ ở đất ấy để họ chống giữ người Man đánh người Man cũng là đắc sách. Vậy xin cho Chân Lạp chuộc tội, lấy đất hai phủ ấy ủy cho phiên thần xem xét tình thế, đặt thành trại đóng quân, chia cấp ruộng đất cho quân lính và nhân dân, vạch rõ biên giới cho lệ và châu Định Viễn để thu lấy toàn khu”. (Đại Nam Thực Lục Tiền Biên)

9 “Mỗi năm vào khoảng tháng 3, tháng 4, quân nhân đi ra các làng, bắt dân từ 16 tuổi trở lên, những người thân thể cường tráng, đóng gông lại bằng một cái gông tre hình như cái thang nhưng hẹp hơn để giải về phủ sung quân; vào quân đội rồi mỗi người bắt chuyên học nghề, kế phân phái đi theo các chiến thuyền để luyện tập; có chiến tranh đem ra đánh giặc, lúc vô sự ở hầu Vương phủ làm xâu; tuổi chưa đến 60 chẳng được về làng cùng cha mẹ vợ con đoàn tụ, hàng năm thân thích đem quần áo vật thực đến thăm mà thôi ... cha mẹ sợ con phải đi lính, vừa lớn lên liền cho con vào chùa làm Sãi hầu mong trốn tránh việc quan; do đó bọn khoác áo nhà chùa rất đông, Phật pháp trở nên hỗn loạn”. (Thích Đại Sán - Hải ngoại ký sự 海外記事)

10 Người tu giả dối ở Nam Hà bị đả kích chuyện gần như liên tục:

* Tuồng San Hậu 山 后 có những câu sau:

Sãi xướng:

Trốn lính đi tu, lánh thuế vua,

Ngày đêm chuyên giữ chống chuông chùa.

Kinh kệ mấy câu giai (đều) bất biết,

Cháy xôi ních hết bụng chang bang.

(Lại nói) Như tôi đi tu với ông Ngu ni, nói cho phải:

Tuy chẳng phải như ông thầy cả.

Song cũng đà dựa cốt phật bà.

Bốn mùa mặc những áo già,

Tám tiết ăn ròng rau muống.

Đi tu có giới cấm,

Nhất giới sát sinh,

Nhị giới ẩm tửu,

Tam giới hoặc ngôn,

Tứ giới thông đạo,

Ngũ giới tà dâm.

Cấm thì cấm vậy mà thôi, thương hại cho tôi:

Giở bình tương nghĩ tới thịt heo,

Gắp rau muống nhớ mùi mắm ruốc.

Gái mười bảy lịch nên quá lịch,

Cúng bữa rằm làm Sãi ngẩn ngơ...

* Tư Dung Vãn cũng tương tợ (xem Đào Duy Từ).

* Thế kỷ XIX tuồng Trần Bồ:

Dạ Tăng:

Đạo tu hành ngụ chốn am thanh,

Dấu ẩn dật nương miền làng hạnh.

Vì muốn thoát khỏi xâu khỏi lính,

Nên phải đi làm sãi làm thầy.

Khi một mình chẳng dụng cơm chay,

Thuở đông chúng phải ăn đồ lạt.

11 Có lần Chúa Trịnh gởi thơ cho ông để mượn đường đi đánh loạn Lê Duy Mật, thật ra để dò dẫm đất đai, cũng như thừa cơ đem quân vào Nam, ông đã viết thơ từ chối.

12 Chiết tự chữ Phật = (nhân) + (phất). Thật ra công kích bằng kiểu chiết tự nầy không đúng vì gượng ép.

13 Thường người ta gọi bọn tiện nhân là bọn hạ trí, người đại trí mới là người xứng đáng, bọn trung trí chỉ mới là người bình thường chưa có gì đáng khen, so sánh với hạ sách, trung sách, thượng sách khi nói về phương cách.

14 Hán Võ Đế (140 - 87 trước DL) về cuối đời say mê đạo lão, cất cung điện cho các đạo sĩ ở khiến dân chúng phục dịch rất khổ sở.

15 Tần Thủy Hoàng sai đạo sĩ Từ Phước dẫn một nhóm người sang Đông Hải tìm đảo Bồng Lai để kiếm thuốc trường sanh. Nhóm người nầy đi mất tích luôn.

16 Tống Huy Tông (1101 - 1126) có hiệu là Đạo Quân rất sùng đạo Phật, sau bị Khiết Đan đánh vào kinh đô, bắt đem lên Mạc Bắc.

17 Lương Võ Đế (502 - 550) sùng đạo Phật, thỉnh cao tăng ở Ấn Độ về truyền đạo cho dân Trung Quốc, sau bị Cảnh Hầu vây ở Đài Thành, chịu đói đến chết.

18 Võ Hầu, chỉ Gia Cát Lượng, Tư Mã Ý nói về ông có câu: Gia Cát công thực thiểu, sự phiền tất bất cửu hỉ: Ông Gia Cát ăn ít mà làm việc nhiều tất không thể sống lâu.

19 Phủ Triệu Phong theo Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An viết thời Mạc, ngay trước thời Trịnh - Nguyễn, là một phủ lớn gồm 2 huyện phía nam Quảng Trị, 3 huyện gồm toàn bộ tỉnh Thừa Thiên Huế ngày nay, và huyện Điện Bàn sau này là tỉnh Quảng Nam. Tên phủ Triệu Phong vẫn tồn tại tới khi Minh Mạng chia lại địa giới các tỉnh gần như ngay nay. Ở đây Nguyễn Cư Trinh có ý lấy vùng kinh đô (Triệu Phong) đối với vùng biên thùy (Định Viễn).

20 Khi Thành Vương còn nhỏ, Chu Công giúp việc nhiếp chánh, Bọn Quan Thái ghen ghét nên gièm pha, ông từ chức sang ẩn cư phía Đông 3 năm, ở đây ông mang giày đỏ (xích tích). Đến năm thứ ba trời thổi gió ngã rạp lúa, dân không gặt được, vua cho rước Chu Công thì gió thổi nghịch lại lúa trỗi dậy..

21 Cao Tổ nhà Hán bị Hạng Võ đuổi đến sông Tuy Thủy và gần bị bắt, may nhờ gió thổi thuyền của Hạng Võ trở lại, Cao Tổ mắng Tự Lịch Cơ là người bày mưu đánh trận nầy: “Tên hủ nho kia, suýt nữa thì làm hại ông”.

22 Ở đây chúng tôi dịch ý, nguyên nghĩa: Tôm cua nhân dịp nước lên đã ẩn trên rường cột nhà. Thuyền bè bị nước cuốn, người chìm dưới dòng nước...

23 Xem Lê Ngọc Trụ và Phạm Văn Luật, sách đã dẫn, trang 39 - 41.

24 Xem chú kế tiếp.

25 Chúng tôi không tìm được nguyên văn nên dùng tài liệu của nhóm Văn Tân và cả phần dịch mấy câu trên. Xin cho gởi lời cám ơn.

26 Thành phố Sàigòn trước đây có con đường Nguyễn Cư Trinh, hình như tới giờ nầy cái tên đường đó vẫn còn, mới biết rằng tư tưởng và thái độ của Nguyễn Cư Trinh được kính trọng bởi những chính quyền khác nhau...

27 Bản Nôm viết chữ đán. Cách viết thường thấy ở
Nôm Nam..

28 Bản Nôm sai thanh TỀ.

29 ChữThoạt bản Nôm viết thạc theo giọng Nam. Chữ Lạ bản Nôm viết kém thành .

30 Bản Nôm viết xuống, hai chữ nầy thường dung lẫn lộn.

31 Thuyết bản Nôm viết thiết, giọng Nam.

32 Bát bản Nôm viết bắc , theo giọng Nam.

33 Bản Nôm viết sai thành ty , hai chữ rất giống nhau về tự dạng.

34 Đạc bản Nôm viết đạt , theo giọng Nam.

35 Bản Nôm sai thành hát.

36 Ban (có văn, có vằn), bản Nôm viết băng. Trước tức là trúc đọc theo giọng Nam .

37 Bản Nôm viết khăng.

38 Bản Nôm viết lạc.

39 Bản Nôm viết chữ khẩu bên chữ hán (+ ).

40 Bản Nôm viết , tạm phiên sòng.

41 Bản Nôm viết đất.

42 Trao còn có thể đọc trau, khi đó chuốc ở câu trên sẽ đọc là chuốt (trau chuốt).

43 Sức phi văn quá: tô điểm cái sai, lấp liếm điều lỗi.

44 Cũng đọc là tìm tõi.

45 Bản Nôm là bộ khẩu bên chữ cúc (+ ),

46 Bản Nôm viết đậng.

47 Nếu chữ Sãi là chữ chẳng câu văn thông hơn Sãi và chẳng viết rất giống nhau.

48 Bản Nôm: chém, không vần và vô nghĩa.

49 Cổ Tẩu là cha của vua Thuấn, nghe mẹ ghẻ của Thuấn mà làm nhiều điều ác với Thuấn.

50 Tích: Tùy Dương đế giết cha, sát anh để đoạt ngôi vua.

51 Chữ vai, bản Nôm viết sai thành Rạng, có nghĩa nhưng không đối .

52 Tích: Cam La 12 tuổi đã làm Thừa Tướng, Khương Tử Nha hơn 70 tuổi mới ra nắm quân quyền.

53 Thuyền=thiền, theo âm xưa.

54 Bản Nôm viết sai thành SẮC, giọng Nam

55 Bản Nôm giống như là chữ đoái , cũng có nghĩa.

56 Bản Nôm: mắt, theo giọng Nam

57 Bản Nôm viết Uống, giọng Nam.

58 Nguyên bản Nôm viết , chưa rõ nên phiên ra sao.

59 Chữ miệng viết sai chánh tả: miện.

60 Có lẽ bản Nôm sai, đáng lý phải “Tây”

61 Vững nếu viết chữ Nôm thì cũng có thể đọc bẵng, có thể hiểu là bặt đi ?

62 Triều hiệu Hán: do tích chuyện có khách đi lạc vào chốn hoang sơn gặp nơi cảnh đẹp thần tiên, dân cư sống vui vẻ, an lạc, hỏi phụ lão mới biết tổ tiên họ xưa vì tránh chính sự hà khắc của nhà Tần mà lánh vào đất này, trải qua nhiều đời, không biết đã hết Tần, qua Hán, tới lúc đó đã là nhà Tấn.

63 Khách danh Lăng: Tử Lăng tên tự của Nghiêm Quang, nhà ẩn sĩ thời Hán Quang Võ, cày ruộng câu cá ở núi Phú Xuân, người sau gọi nơi đó là gành (hay đài) Nghiêm Lăng.



Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa chuyển từ Hoa Kỳ ngày 11.9.2013 .

Trang Trước
Trang Tiếp Theo

Quay Lên Đầu Trang