Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




CHU AN
MỘT NGƯỜI NHƯ THẾ MÀ NHƯ THẾ



Nói ra điều này có vẻ lẩn thẩn nhưng nghĩ đi nghĩ lại không thể không nói. Đó là danh nhân văn hoá Chu An ( 1292 – 1370) thời Trần, Tư nghiệp Quốc Tử giám Thăng Long, tương đương như hiện nay, là Phó Hiệu trưởng Trường Đại học đầu tiên của Việt Nam, dâng sớ xin vua chém 7 tên gian thần đang nịnh hót bên cạnh vua và làm nhiều điều phản nhân nghĩa ở trong triều. Vua Dụ Tông và thượng hoàng Minh Tông nhà Trần không nghe. Ông bèn bỏ kinh thành Thăng Long về núi Phượng Hoàng, nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, mở trường tư, kiếm sống bằng nghề dạy học và bốc thuốc. Sau khi mất, ông được thờ ở Văn Miếu.

Cái mà muôn đời sau tôn vinh ở ông là phẩm chất tiết tháo của một bậc Đại Nho, trung thực và dũng cảm, dám đương đầu “một mất một còn” với một tập thể (7 tên) phản dân hại nước đang nịnh hót ở bên cạnh vua và được vua rất sủng ái. Tờ tấu trình dâng vua ấy, đời sau gọi là “Thất trảm sớ”, rất tiếc, thời ấy sử quan đã không ghi, nên nay cũng không còn thấy ở đâu, 7 tên thì chúng là những ai, giữ chức vụ gì trong triều đình, có những tội gì? Bản Thất trảm sớ không còn, nhưng tinh thần cảnh báo mãnh liệt của nó, và khí phách cao cả hiếm có của người sản sinh ra nó, thì còn lại đến muôn đời sau, và ở đời nào, cũng có tính thời sự, với nhiều ý nghĩa sâu sắc.

Lịch sử hưng phế của mọi quốc gia đều chỉ ra rằng: bất cứ quốc gia nào, giành được chính quyền bằng bạo lực, mà sau đó, văn hóa thì suy đồi, kẻ sĩ thì thấp hèn, những người có tiết tháo như Chu An thì quay lưng lại, quan lại thì tham nhũng, sa đọa và tàn ác, nhà vua thì không thấy cần phải nghe ai, quốc gia đó, nhất định sẽ bị tiêu diệt. Cho nên, nước mất là tại quan trên và nước loạn cũng thường là từ trên xuống.

Đấy cũng là những năm mà nhà Trần đã bắt đầu bước vào giai đoạn suy tàn. Vua thì ngu tối. Quan thì tham nhũng và tàn ác. Dân thì oan khuất và đói khổ. Và Thất trảm sớ là cái chết của một nhà nước đã được báo trước.

Oái oăm thay, một người suốt đời bảo vệ cái đúng mà khi chết, ngay chính tên mình lại bị viết sai, in sai, sai lâu đến mức thành quen: tên đường phố, tên trường, tên công viên, tên làng xã, đặc biệt tên ghi trên Lăng mộ chôn mình và tên ghi Đền thờ thờ mình, cũng ghi sai tên mình (cả hai công trình Lăng mộ và Đền thờ đều xây lại trong những năm gần đây tại Hải Dương). Ông không phải là CHU VĂN AN (thực ra, cũng không có ai trong số những người nổi tiếng có tên là Chu Văn An cả). Ông là CHU AN, mất năm 1370. Sau khi mất, ông mới được vua Trần Nghệ Tông truy tặng tước VĂN TRINH CÔNG. Như vậy, đương thời ông không biết mình có tên là Văn Trinh. Vì thế, ghi tên ông: CHU AN là đúng, hoặc CHU VĂN TRINH (ghi theo tước sau khi đã chết) cũng được, nhưng ghi là Chu Văn An là sai; cũng như Trần Quốc Tuấn là tên, Hưng Đạo Vương là tước, ghi Trần Quốc Tuấn hoặc Trần Hưng Đạo đều đúng, nhưng ghi TRẦN HƯNG TUẤN là sai. Ghi CHU VĂN AN cũng tương tự như ghi TRẦN HƯNG TUẤN vậy. Giả sử bất cứ một người nào có tên thực như thế mà viết như thế, liệu công an của ta hiện nay có ghi vào sổ hộ khẩu hay cấp chứng minh thư cho không?

Và tên xã đặt theo tên ông lại gọi là xã Văn An (huyện Chí Linh, Hải Dương). Cái tên này cũng không phải tên ông. Nhà thơ Xuân Diệu có lần đọc báo thấy ghi tên xã ở huyện Kinh Môn, Hải Dương, mang tên nhà thơ Phạm Sư Mệnh là Phạm Mệnh, ông đặt tờ báo xuống và nói, giọng rất bực dọc, lúc đó có tôi ngồi đấy: “ Họ tên của người ta, sao lại tự ý cắt cụt đi như thế. Đặt tên thế này là phạm vào mệnh lệnh”.

Điều mà tôi dẫn giải sau đây là tôi nghe được từ nhà văn Tô Hoài, người đã chấm giải nhất và trực tiếp trao giải nhất Văn học thiếu nhi năm Quốc tế Thiếu nhi 1979 cho tôi, với tập truyện vừa Trước mùa mưa bão, tại Hà Nội, năm 1980. Trong cuốn Chiều chiều, ông có viết về tôi vài dòng, rằng ông gặp tôi ở ký túc xá Trường Viết văn Gorki (tên đầy đủ là Học viện Văn học thế giới Maksim Gorki.) Tôi thường tháp tùng ông (thực ra là ăn theo) khi ông đi nói chuyện với người Việt ở Nga, về sáng tác của ông và một số nhà văn bạn ông, như Nam Cao, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Bính... với giọng vui vẻ, rất giản dị và hài hước. Còn ông viết tôi sang Liên Xô để chơi với Trần Đăng Khoa thì không phải. Lúc bấy giờ, làm sao một người như tôi ở mãi tận Quảng Ninh lại sang bên đó để chơi được. Tôi đi công vụ trong đoàn của Hội Nhà văn Việt Nam, gồm ba người, theo lời mời của Hội Nhà văn Liên Xô, rồi một mình tôi ở lại thêm non hai tháng, để đi sáng tác, được nhà văn Marian Tkachev, Trưởng ban Văn học Đông Dương của Hội Nhà văn Liên Xô, cho tá túc tại đó, cùng với Tô Hoài và Nguyễn Duy. Nhà văn Tô Hoài lúc đó đã thôi các chức vụ của Hội Nhà văn Việt Nam. Ông đi thăm con ở Đông Đức về, còn nhà thơ Nguyễn Duy thì sang dự Hội thơ A. Pushkin ở Leningrad. Nói Nguyễn Duy ở đấy, nhưng Duy chỉ thỉnh thoảng đến đấy chơi, còn tôi, nói ở đấy, nhưng tôi ở luôn phòng của Trần Đăng Khoa, cạnh đó, để Tô Hoài ở phòng khách một mình cho tiện.

Phải nói Tô Hoài là một kho tư liệu vô cùng quí hiếm về thủ đô Hà Nội. Ông hỏi tôi có biết ai có công đầu đặt tên các đường phố ở Hà Nội không? Tôi thưa là không biết. Và ông kể. Theo ông, người đó là bác sĩ Trần Văn Lai. Ông Lai là người thân Nhật. Sau khi đảo chính Pháp, Nhật đưa ông lên làm Thị trưởng Hà Nội. Trong thời gian rất ngắn cầm quyền (từ tháng 3 đến tháng 8/ 1945) ông đã làm được một việc rất có ý nghĩa là đổi lại tên cho nhiều tên phố ở Hà Nội, những phố trước kia mang tên người Pháp, nay mang tên các anh hùng và nhà văn hóa người Việt. Ông chỉ để lại duy nhất một phố mang tên người Pháp, là phố Y-éc-sanh, tên một bác sĩ trong quân đội Pháp, nhưng có công chữa bệnh cứu người. Bác sĩ Lai là một trí thức yêu nước, am tường lịch sử chống ngoại xâm, nên nhiều tên đường phố Hà Nội mang tên các vị anh hùng dân tộc, từ thời ông, còn được giữ đến bây giờ, nhưng hiểu biết về các nhà văn hoá thì ông bác sĩ này còn hạn chế, nên thường đặt tên ở những phố nhỏ, ngắn, hẹp, nhiều trường hơp là ở những phố còn hẻo lánh, ít người ở hay qua lại. Chính ông đã sai khi viết (hoặc cho viết) chính thức: Chu An là Chu Văn An. Có thể trước đó, cũng đã có người quen miệng mà nói như vậy rồi chăng? Nhưng tên phố CHU VĂN AN ở Hà Nội bây giờ thì có từ ông, rồi sau đó các nơi khác, người khác, cứ thế mà viết theo, nói theo.

Tôi tin là nhà văn Tô Hoài đã nói đúng, Vậy thì cái sai này không biết đến bao giờ mới sửa được đây?

Tôi xin nói thêm. Gần đây, tại nhà thờ danh nhân văn hóa Chu An (mà đề là Chu Văn An) tại Chí Linh, Hải Dương, có dòng chữ lớn màu vàng trên nền đỏ để thờ: “Ta chưa từng thấy nước nào coi nhẹ sự học mà khá lên được”, dưới đề CHU VĂN AN, như một câu danh ngôn “Hiền tài là nguyên khí quốc gia…” của Thân Nhân Trung vậy. Ai cũng ngạc nhiên vì chưa từng thấy Chu An nói thế, viết thế bao giờ. Sau hỏi ra mới biết đó là lời thoại trên sân khấu của nhân vật Chu An trong một vở kịch chèo mới viết mươi năm lại đây. Vậy đó là lời của nhà viết chèo hôm nay đấy chứ. Sao lại gán cho Chu An, một nhà giáo vô cùng nghiêm khắc, từng dâng sớ xin chém 7 tên gian thần có quyền thế đương thời, để mà thờ được?

Trong trường hợp ở một người trung thực và tiết tháo đến như Chu An, suốt đời bảo vệ cái đúng, mà đến lúc chết, cái tên mình được thờ cũng sai, cái bia trên mộ chí của mình cũng sai, đến cái câu nói để người ta nhớ đến mình, không những đã sai, mà lại còn “ đạo” nguyên xi của người khác, của hậu thế, một “đồ giả” hoàn toàn. Trong đời sống văn hóa và tinh thần của con người, chứ chưa nói đến danh nhân, nhân thần hay thần linh, cái giả để thờ này khủng khiếp hơn bất cứ một cái giả nào khác.

Chao ôi! Một người như thế mà như thế, mới hay tạo hóa đã đùa cợt danh nhân dai dẳng là như thế nào.

Và điều này quả thực là rất lạ lùng và rất xót xa.

Vô cùng trớ trêu và rất oan nghiệt.


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 11.9.2013.


Quay Lên Đầu Trang