Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Tranh vẽ "Bố Cục/Composition"
của Võ Công Liêm


TRIẾT HỌC TÂM LÝ

hay

TRIẾT LÝ NGHỆ THUẬt Và VĂN HÓA




Từ khi con người tạo dựng những thể loại sáng tạo, tất đã có một sự hài hòa trong lối thu tập, một chất liệu sáng tạo như lề thói rặp khuôn, bắt chước, một kiểu dáng tự nhiên mà người ta thường dựa vào đó để tạo một sáng tạo trong cái ’imitating’. Những người ở hoàn cảnh nầy thường khi tập hợp vào một thể thức hoàn toàn cá biệt trong đối tượng khách quan hơn là đối tượng chủ quan và chắc chắn rằng có một cái gì rạng rỡ trong hành động mà họ muốn nói lên. Một cố gắng phô bày của họ dành cho ’cái đẹp’ nhưng thực chất đã làm mất cái đẹp trong sáng tạo. Dù cho tất cả sự cớ đó có một giá trị văn minh, nhằm hướng tới một tọa độ viên mãn của vai trò nghệ thuật, như thể là tiêu biểu, điển hình mà thực ra đó chỉ là một định nghĩa mơ hồ không xác đáng về một khám phá cuộc đời (civilized life) đó là dữ kiện dự phóng nghệ thuật ở tất cả mọi hoàn cảnh tự nhiên, một cái gì quan trọng dành cho nghệ thuật, cái sự lý nầy luôn luôn là một chướng ngại đưa tới cho nghệ sĩ thực hiện ’chất’ sáng tạo trong nghệ thuật và văn hóa.

Tại sao phải có một đòi hỏi năng động tích cực cho mọi lãnh vực như thế, thể loại gì đem lại một sự thỏa mãn hài hòa mà có thể làm nên, mặc dù có hay không có tích cực và những gì làm cho chúng ta thích thú hoặc có một giá trị lâu dài trong cộng đồng nhân loại trước những vấn đề được nêu ra trước đây qua những nhà tư tưởng triết học như Plato và Aristotle. Sự kiện đó là hiện hữu của con người đứng trước vũ trụ nghệ thuật và văn hóa; tợ như cùng đứng bên nhau trong bóng đêm và nhìn vào hiện hữu khác của con người mà giả vờ như vai trò mà người đời thường cho là kinh khủng hoặc là hoạt cảnh khoái lạc, mỗi thứ mỗi khác nhau; giới thiệu cho chúng ta một lời tường trình trong bóng, láng lẫy của thượng đế, của muôn thú và của nhân loại trong một không gian chung.

The fact that human beings like together in the dark and watch other human beings pretent to be characters who often do horrible or hilarious things to each other; the presence of marble versions of god and animals and humans in public space.

Và từ đó có một nhân tính hài hòa trong việc tìm học, cũng từ đó chúng ta học được những gì ở những người đi trước. Aristotle cho rằng đây là một móc nối giữa học hỏi và bản tính tự nhiên của con người, điều đó có thể đưa tới một suy tư, phản ảnh về chức năng và giá trị nghệ thuật. Đó là nguồn cơn cho chúng ta một cái nhìn đặc biệt, có lợi ích trong một cái gì nói lên cái đẹp với một diễn tả đầy kịch tính, rất lớn lao, rất anh hùng khí đúng nghĩa cái đẹp (thanh cao, lành mạnh, đẹp tự nhiên không trau chuốt, không giả vờ, không đỏm dáng mà phải là cái đẹp sáng tỏ/ beauty manifests/ beautiful nature) của đàn ông và đàn bà đó là chứng tích của cái đẹp; sức mạnh của cái đẹp đôi khi làm cho ta lừng khừng trước sự phán xét để rồi đưa tới một cảm kích khác như sợi giây liên lạc gắn liền với dục tính và luyến ái tự nhiên; có thể đây là lý do mà Plato cố gắng giải bày bằng một nhận thức, một định giá của sự thỏa lòng và cũng là quan trọng cho vai trò cảm kích, đặc biệt vai trò dục tính trong cuộc đời của con người. Đó là những gì mà chúng ta mong có một cái đẹp hoàn hảo, mà cả hai sự kiện đều nằm trong nghệ thuật và trong tự nhiên của nghệ thuật, một cái gì có tính cách không thực tế, phát hiện một vài điều về cơ bản luyến ái tự nhiên, điều đó được coi như phù hợp với Plato, về những gì mà chúng ta muốn biết một cách tự nhiên. Một cái đẹp được phát hiện, ấy là điều chúng ta đòi hỏi, yêu cầu, khiếu nại, bởi mong muốn đó không được thỏa mãn nhu cầu trong một cảm thức trọn vẹn hoặc một cảm thức đặc biệt khác, ấy là những gì chúng ta muốn chấm dứt để chế ngự không chỉ dành cho một thể xác đẹp, nhưng phải là cái đẹp trong sáng, cho dù có một nhan sắc tuyệt mỹ hơn thế nữa. Do đó cái nhìn thẩm mỹ là định giá cho cái đẹp tuyệt mỹ.

Dưới mắt Aristotle hoàn toàn khác biệt, mà ở đây là một liên kết tổng hợp giữa cái lợi ích trong cái đẹp và những gì nhận thức được, đó là cơ bản chính yếu lòng ao ước của con người -một trí tuệ khôn ngoan- để nhận ra giữa cái đẹp thẩm mỹ và cái đẹp tự nhiên.

Một điều đáng ghi nhớ; trước đây bộ môn triết học thường đem ra thảo luận về nghệ thuật, một vấn đề tuy có chất triết học nhưng bên trong vẫn chứa đựng một yếu tố tâm lý giữa nghệ thuật với con người, bởi sự lý đó mà đôi khi đưa tới ngộ nhận một cách ‘nguy hại’ cho nghệ thuật, vai trò nghệ thuật một phần nằm trong giáo dục, hiệu quả đem lại bằng một cảm xúc chân thành qua từng cá nhân và dàn dựng một tham luận để nêu rõ vấn đề dù có một vài thành phần chống lại quan niệm của Plato. Thí dụ trường hợp của Aristotle có thể đắp lên đó một kiểu thức gián tiếp, một tầm quan trọng khác của ông trong một dàn dựng khác hơn, một yếu tính dành cho những gì thuộc triết học chính trị hoặc ngay cả khoa tâm lý chính trị học, nếu được chấp thuận ở mỗi quốc gia, mà tất cả được bao bọc một cách rõ ràng, mạch lạc. Aristotle vẫn duy trì vấn đề một cách nghiêm túc: ‘có thật nghệ thuật là điều tốt cho chúng ta?’ (is art really good for us?).

Plato và Aristotle có thể có cùng một tư duy về vai trò của những bi kịch của nghệ sĩ nhất là những nhà thơ được coi như là yếu tố sống còn trong lãnh vực giáo dục (nói chung là cả văn thơ họa…) là một sắp xếp thuộc ‘chính trị học’; đó là những gì rút ra từ kinh nghiệm cổ Hy Lạp, nhưng cũng có thể là một yêu sách có đầy đủ chứng cớ, có thể gây thêm méo mó nhiều hơn là vạch trần về chức năng sự thật của nghệ thuật, cho dù Plato và Aristotle có thể nhầm lẫn hay thiếu sót mỗi khi đọc đến và cũng có thể không nhận ra về kinh nghiệm cổ điển nghệ thuật. Khởi từ hậu cổ điển và thời kỳ bước vào hiện đại, chức vụ của nghệ thuật được coi như lễ nghi của tôn giáo, đặc biệt trong kiến trúc (gothic architecture) và âm nhạc (giáo đường), cái gì tự nhiên là cái đẹp thẩm mỹ, kinh nghiệm cho biết sự tương quan của cái đẹp không còn là vấn đề được nêu ra mà tự nó đã trở thành đẹp-tự-nhiên. Với thế giới hiện đại thẩm mỹ định mức có khuôn phép đến từ nhận thức mà ra, phát triển liên tục như một độc lập cần thiết và như có một thể loại riêng biệt quan trọng trong đời sống của con người.

With the modern world, the aesthetic dimension came to be understood more and more as essentially independent, and as having a distinct sort of importance in human life.

Tiên khởi là quy tắc hóa vấn đề, bỏ đi những tham vọng cố hữu, mở rộng tầm ảnh hưởng, suy xét lại ý nghĩa của thẩm mỹ trong cái biến đổi rõ ràng của một thời hiện đại như đã được giới thiệu qua cuốn sách kỳ diệu của triết gia Đức Immanuel Kant(1724-1804) : ‘Lời Bình về Sự Phán Xét / Critique of Judgment’(1790). Một cung cấp sâu đậm, đầy đủ và rộng mở tư duy trong lãnh vực của thời kỳ hiện đại Âu châu, ý niệm về khuôn mẫu, định mức của cái đẹp thẩm mỹ; đó là những gì được nói lên và chế ngự trong tác phẩm của Kant. Bước đầu, Kant nhấn mạnh vai trò chủ thể khách quan một cách tự nhiên như là kinh nghiệm. Ông đã tranh luận điều đó nhiều lần cho dù dưới hình thức nào của một phán xét thẩm mỹ; ‘ở đây vẫn là cái đẹp’; xuất hiện như một lời bày tỏ, một khẳng định quả quyết để qui về một nhận định vai trò của khách thể. Một cấu trúc mới, một thế giới tự nhiên của chính nghĩa, một tác động mãnh liệt. Đó là những gì Kant muốn bảo vệ và đầy năng lực mà được coi như một thể loại của khách thể. Thay vì; ‘đây là cái đẹp’ cần phải hiểu và nhận thức như một sự thật hoặc một cơ cấu sâu đậm của phạm trù triết học. Kant nói: ‘Tôi từng trải kinh nghiệm một thể loại chắc chắn như thế về sự hài hòa trong một hiện hữu của khách thể / I am experiencing a certain sort of pleasure in the presence of this object’ Cái đẹp phải hiểu như một kết quả viên mãn qua một tác động liên kết giữa thế giới với một nhận thức của chúng ta, không phải là điều nhất thiết như một số người đã nghĩ về cái đẹp kể cả cái đẹp tự nhiên.

Kinh nghiệm về cái đẹp không phải là dựa vào bất cứ điều gì để nói lên cái đẹp một cách tự nhiên và rồi cũng chẳng có ai hiểu rộng, biết nhiều về điều đó. Mà chỉ cần nói lên sự thể của cái đẹp, một đòi hỏi cần thiết sẽ đem lại một sự hài lòng và một cảm giác thích thú. Nhưng đối với Kant thật khó lòng phân tích những gì mà ông đã định nghĩa về cái đẹp một cách chủ quan và những gì tương quan giữa người và cái đẹp; trọng điểm là chúng ta tìm thấy cái đẹp đúng nghĩa còn bằng không thì chẳng có gì hơn, và điều đó có thể như vậy; người ta có thể bày tỏ một cảm giác sung sướng nào đó ở buổi hoàng hôn hoặc một cảm giác khác hơn qua tiếng chim hót, một cảm giác khác hơn khi ngửi mùi cá kho, hoặc một cảm giác khác hơn khi thấy con bò chết và từ đó cho chúng ta một xếp đặt rộng lớn, và trong mỗi trạng thái đó cho chúng ta nhìn thấy cái đẹp tự nhiên (kể cả cái chết đẹp) sự cớ nầy thuộc về ưa thích, chọn lựa của từng cá nhân, bởi mọi thứ có thể là chủ quan qua cái nhìn -everything would be subjective- Nhưng Kant tiếp tục tranh luận cho dù biến dịch trong một tư duy nào mà ở đây ông muốn nói nguồn gốc mới mẻ, một thể loại hội đủ chức năng và thẩm quyền, một đòi hỏi cần thiết để cho cái đẹp thẩm mỹ hợp lý hóa. Và; người ta sẽ tìm thấy những gì trong lời tranh luận của Kant, như xác quyết. Ông nói: ‘Tôi trải nghiệm được một thể loại riêng biệt của sự hài hòa và đó chính là hài hòa trong nét thẩm mỹ’/ I am experiencing a distinct sort of pleasure, and aesthetic pleasure’. Một sự hài hòa trong hiện hữu của sự thể, tất cả phải là một cảm nhận hài hòa – all ought to feel such a pleasure. Tiến trình đó là một cố gắng của Kant để ‘giảm thiểu’ hoặc ở đây là một biện minh tổng quát cho sự việc mà có thể xem như đây là đòi hỏi chung cho những gì có một sự tương quan giữa cái đẹp thẩm mỹ.

Để phù hợp với Kant, kinh nghiệm tự nhiên chắc chắn là một cơ hội bày tỏ sự sáng suốt bởi chúng ta khám phá ngay tức khắc một cảm nhận, một yếu tố chính mà những gì thích hợp của thể loại có dụng ý ‘purposive’. Kant diễn tả rõ ràng những gì có thể đưa tới vấn đề lớn lao cho một triết học hiện đại, những câu hỏi nặng ký để được trả lời trong một hoàn cảnh sáng tạo bởi một cuộc cách mạng kỷ thuật; phù hợp những gì thuộc khoa học mới, chúng ta chỉ một phần nhỏ trong thế giới hữu nhiên nầy như mọi thứ khác, chủ thể vấn đề là cần thiết là điều hợp lý thông thường, tất cả biến đổi theo thời gian. Kant không tin những gì thuộc về triết học, một ‘dung dịch’ hòa tan cho một tình thế khó xử như đã có thể, nhưng ông cũng nhấn mạnh rằng chúng ta cũng không thể dung nạp như một bí hiểm lớn lao. Quan điểm nầy cho chúng ta một kinh nghiệm về cái đẹp như một khuôn thước định vị quan trọng của những gì vượt quá mức của triết học. Đẹp không có nghĩa là hiểu được, nghĩa là không hơn không kém như thử là cung cấp cho những gì khác hoặc phục vụ một cái gì đơn giản thuộc khoa tâm lý học một cách hài hòa, mà qua một cách khác rõ ràng minh bạch hơn bởi một cá tính khác biệt hơn. Cái đẹp có vị trí riêng của nó, một thích nghi hòa hợp giữa lòng người và nghệ thuật mới nhận ra cái đẹp thẩm mỹ một cách trọn vẹn và sáng tỏ ý nghĩa của nó.

Có lẽ quan niệm nầy như thể là giáo điều của triết học , một sự tiếp thu với một thế giới tự nhiên khởi từ khi chưa biết gì trong một kỷ nguyên khoa học, kỷ thuật hiện đại; cũng có thể xẩy đến giữa những vai trò khác nhau trong một cái gì thuộc về nghệ thuật, chính trị và những tác phẩm mỹ thuật có thể trở lại và nổi bật, đáng chú ý như một vấn đề lớn lao, được thay thế vào những gì có hướng liên quan đến siêu hình trong tư duy của Kant. Ông đã mượn học thuyết của Jean-Jacques Rousseau, quan niệm đó có thể một trong những điều mà hầu như ảnh hưởng đến những gì thuộc về lịch sử, cho dù có nói ra từ những triết gia – đó là những gì đáng qúy của con người, một cái gì không mong bị hạn chế. Ý niệm cho rằng tình yêu của chúng ta là một cái đẹp trong bóng những thứ đó là cơ bản chủ yếu về những gì thuộc tự nhiên con người, tự nó sẽ diễn ra như tái diễn vai trò trong phản ảnh định mức giá trị thẩm mỹ của cuộc đời này.

Triết gia và những nhà phê bình văn hóa nói trên về khoa thẩm mỹ trong triết học tâm lý, nghệ thuật và văn hóa đều đồng tình với nhau qua những lời lẽ phê bình, nhận định một lý giải rõ ràng và cụ thể, nói lên nhân tính con người và những gì tương quan của cái đẹp, một thẩm mỹ quan có nghĩa là một tinh hoa trong sáng. Với Friedrich Nietzsche (ông gọi đây là vấn đề thuộc ‘hư vô’) Bởi Nietzsche cho xuất bản tập “Thảm Cảnh của Sinh Tồn/The Birth of Tragedy” là tập truyện đầu tay và quan trọng nhất đời ông; trong đó chứa đựng toàn bộ ‘chất’ nghệ thuật, đặc biệt là âm nhạc. Nietzsche cho trong âm nhạc giao hưởng vẫn có chất thẩm mỹ của âm nhạc (đặc biệt giao hưởng của Richard Wagner là cả một nhan sắc của âm nhạc (giữa Wagner và Nietzsche có một tình bằng hữu cao qúy); có thể trình diễn những tấu khúc trong một thứ ánh sáng vinh quang và rực rỡ của một biến động đầy ý nghĩa. Một phong trào hiện đại giữa cõi đời này, một cái gì thanh cao diệu vợi (enlightenment). Nietzsch tha thiết về điều nầy vì đâylà một lối tự phê, tự kiểm cho một hình thức thuộc văn hóa; vì vậy lời hứa hẹn cho phép chúng ta nuôi dưỡng một lý luận hợp lý, tự tin, bỏ qua những sai lầm vụn vặt và và giữ gìn những gì đòi hỏi lớn lao như một lý do chính đáng. Thay vì; Nietzsche cho rằng, lý luận của thuật phê bình trở nên bao che cho tất cả, một chủ nghĩa hoài nghi, lý thuyết đó là một sự thật hiển nhiên không thể đạt tới được bởi một ý thức hiểu biết – theory that positive truth is unattainable by humam intellect. Và điều đó hết sức đặc biệt cho một triết thuyết của Kant. Nietzsche đòi hỏi một cuộc chạy đua của loài cừu rụt rè, những kẻ bảo thủ, những kẻ sợ hãi và những kẻ vô lại thì may ra tình thế có phần thay đổi, một cái nhìn sáng láng cho một tư duy thẩm mỹ. Đây là một ý thức cần thiết cho một xã hội biến động dẫn đến một biến động lớn lao hoặc coi đây là một biến động của hư vô, một cảm thức suy nhược cái đó là ‘không có gì là thật cả; thì coi như mọi thứ đều được phép’-nothing is true; everything is allowed. Thì điều đó khác gì ‘cửa bỏ trống’, còn gì để mong muốn hoặc nổ lực nào hơn.

Nietzsche trở về cái ‘tranh cãi cổ xưa’ giữa thi tứ và triết học đã khơi mào từ thời Plato. Cho bước đầu phát huy tư tưởng phương Tây, Niezsche đẩy mũi nhọn tấn công vào những nhà tư tưởng lớn như Socrates. Socrates tấn công vào những sáng tạo có tính cách sai lầm, hoặc cái ngây ngô có thể đó là vai trò đưa ra như một lý do và phản ảnh đời sống của con người, những thứ đó thuộc chủ nghĩa lạc quan.. Qua sự đối kháng về ‘thảm cảnh/tragedy’ đó là một lối xử thế của Nietzsche, không như một cái gì trong sáng của một thứ chuẩn mực của thẩm mỹ, nhưng được coi ở đây như thể loại của loại thứ luân thường đạo lý mà thôi (a kind of ethical category). Thảm kịch được đối xử như một mẫu thức cho tất cả nghệ thuật, đã được phân tích không những chỉ dành cho ý nghĩa diễn tả của những gì bạo động, những gì không bền lâu hoặc tạo ra căn thẳng giữa vô số cố gắng của con người. Tư thế của Nietzsche được dựng ra nhiều câu hỏi và chính ông sớm muộn cũng bị lãng quên và được phục hồi một cách mạnh mẽ qua cái nhìn bi thảm xuyên qua từng nốt nhạc giao hưởng của Wagner. Quan niệm đó đôi khi đưa tới mất mát trong ‘thanh cao diệu vợi’ những diễn giải theo lối hiện đại như hiện về với chúng ta; Nietzsche tiếp tục gọi ‘thẩm mỹ là biện minh của hiện hữu / aesthetic justification of existence’. Nietzsche là nhà triết học tiên phong đầu tiên (first avant-garde), nhà triết học hiện đại, người đã dựng lên những gì có hay không có mà ông đã ‘tùy thuộc’ trong triết học hoặc trong văn chương, dù có hay không ông cũng đã viết những gì cho triết học hoặc trình bày vai trò khác nhau trong triết học.

Tuy nhiên, thế đứng của Nietzsche là không những chỉ một cách mà người ta có thể nghĩ về một tình trạng kéo dài giữa vận mệnh nghệ thuật và vận mệnh thời gian hiện đại, mà phải hiểu ở đây là một cái gì thuộc ý niệm học ‘ideological’ được phản ảnh qua mọi tầng lớp kể cả tầng lớp đấu tranh có nghĩa rằng mọi quy luật qua mọi tầng lớp trong xã hội là những gì hợp thức hóa vấn đề và chấm dứt những tri giác khác, một sắp xếp có hạng thứ của nghệ thuật hiện đại cũng thuộc về lịch sử nhưng chủ nghĩa hiện đại mà hiểu như là một sự lý chậm trể và đình trệ, nó không còn là con đường giải phóng cho nghệ thuật hoặc đây là ngã-tử hoặc đây là nỗi-tuyệt-vọng-ngập-tràn cho một tình trạng của tư bản chủ nghĩa hiện đại. modernist art was also historical, but modernism was understood as ‘decadent’ not liberating (as a reflection of the historically ‘contradictory’ or dead-end or despair-filled state of modern capitalism).

Nói rút lại; quan điểm ở đây là bày tỏ nỗi sợ hãi, một thứ nghệ thuật như thế có thể đưa tới suy đồi hay bày tỏ một niềm hy vọng, một thứ nghệ thuật có khuôn phép đem lại cho chúng ta một đức tính bén nhạy hoặc một cái gì phong phú ngay cả chuộc lại những mất mát trước đây; tất cả được triệu hồi để không còn cái nhìn đối nghịch với nghệ thuật, văn hóa và thẩm mỹ quan ở giữa kỷ nguyên chúng ta đang sống là một nghệ thuật đầy đủ ý nghĩa lớn lao và một cái gì quan trọng trong đời sống con người được phát triển không ngừng. Nếu vấn đề đặc ra là: ‘kinh nghiệm của thẩm mỹ có nghĩa gì -nghệ thuật tột đỉnh hay khát vọng mong muốn của văn hóa- ở giai đoạn cuối của thế giới hiện đại ?’ Câu trả lời có thể là: ‘chẳng có nghĩa gì cả hoặc chẳng có vai trò gì cả mà đó là kinh nghiệm nằm bên vực thẳm những gì nguy hại mà thôi’ Và nếu câu hỏi được đặc ra là: ‘làm thế nào để phân biệt được cái tinh hoa thẩm mỹ, kinh nghiệm từ niềm vui thú được thông tin khắp nơi?’ Câu trả lời có thể là: ‘một cách biệt, giới hạn không còn gì là tồn lưu lâu dài’. Hoặc những gì nêu ra đây là một phán quyết đúng đắn; tốt hơn nên để lại đây những gì đã có như mở thêm những câu hỏi khác để lý giải cái điều chưa trọn vẹn hay những gì hứa hẹn mà chưa thực hiện. Triết học chỉ là vai trò nhận thức qua dữ kiện chớ không phải một phán quyết cụ thể, dù trong lãnh vực nghệ thuật hay văn hóa …

Nhắc lại; nguyên ngữ của ‘triết học’ lấy từ nghĩa văn chương cổ Hy Lạp: ‘tình yêu của hoặc tình hữu nghị dành cho thông minh trí tuệ / love of or friendship for wisdom’. Đó là một bày tỏ nội tại cho một điều gì tự nhiên của con người. Chữ triết học có từ đó.


(ca.ab. vàothu 9/2012)
____________________

SÁCH ĐỌC :
‘Philosophy of Art and Culture’ by Robert Pippin. Random House . Inc. New York 2007.USA.

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Calgary Canada ngày 26.8.2013.