Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




VĂN HỌC NAM HÀ

文 學 南 河





Kỳ Thứ 5.

Người Đặt Vấn Đề Đi Tìm Tâm Phục

Trong Đường Lối Đối Ngoại:

Nguyễn Hữu Hào



Thuộc gia đình võ tướng, cha, Chiêu Vũ Hầu Nguyễn Hữu Dật (1604 - 1681), anh, Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh1. Nguyễn Hữu Hào lúc nhỏ từng theo cha trong quân ngũ, lập được nhiều công. Năm Kỷ Tỵ (1689) dưới triều Nguyễn Phúc Trăn, ông được bổ Cai Cơ. Năm Canh Ngọ (1690) vì bị gièm pha làm lỡ việc quân (được cử tiến đánh Chân Lạp, ông muốn thu phục họ bằng cảm tình nên nhận của tiến cống và rút quân về) nên bị truất.

Dưới triều Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 - 1724) ông được phục chức Cơ Cai rồi lần lên chức Chưởng Cơ.

Năm Giáp Thân (1704) ông được bổ Trấn thủ Quảng Bình. Lúc nầy nhân dịp rảnh rỗi ông sáng tác nên truyện “Song Tinh Bất Dạ 星不夜” bằng chữ Nôm, thể lục bát.

Năm Quý Tỵ (1713) ông mất được tặng Đôn Hậu Công thần, thụy Nhu Từ.

Song Tinh Bất Dạ là tác phẩm lớn, dài 2216 câu được sáng tác khá lâu, nhưng học giới gần như không biết đến. Cách đây 10 năm2, học giả Đông Hồ sao lục và ấn hành căn cứ vào bản phiên âm năm 1906 từ Nôm ra quốc ngữ của Hữu Lân tiên sinh (bác của ông). Bản phiên âm nầy, được thực hiện cách đây khá lâu, thời chữ quốc ngữ chưa được phổ cập trong dân gian và thời văn chương còn được coi như của chung, nên chúng ta khó tin tưởng có sự trung thực hoàn toàn với nguyên tác. Chính nhà sao lục đã công nhận điều đó:

“Tôi đem (bản Nôm) so sánh với bản chép tay bằng quốc ngữ thì thấy tám phần mười về đầu tập truyện sai biệt nhau rất ít, có thể nói là gần đúng hẳn. Chỉ có hai phần mười về cuối tập truyện, thì sai biệt khá nhiều. Trong nguyên bản chữ Nôm còn thấy có nhiều chỗ chữa, chen giữa hàng, cũng bằng chữ Nôm, mà chữ nhỏ hơn, là chữ của Hữu Lân tiên sinh chữa3 .”

Sự sửa chữa nầy khiến bản văn đến gần hay đi xa hơn nguyên tác chúng ta chưa dám cả quyết vì bản Nôm, bản khắc cũng như bản chép tay, ngày nay không còn nữa.

Tuy nhiên bản Song Tinh Bất Dạ do học giả Đông Hồ công bố có rất nhiều câu giống với truyện Kiều.

Ông Phạm Thế Ngũ có công lượm ra những câu tương tợ giữa Song Tinh Bất DạKim Vân Kiều4 .

Điều nầy cho chúng ta đi đến kết luận sự sửa chữa đã đến mức độ trầm trọng. Thật vậy, ta không thể bảo những câu tương tợ giữa “Song Tinh” và “Kiều” là câu của Nguyễn Hữu Hào, mà phải nói là Nguyễn Du, bởi vì nếu tác phẩm của Nguyễn Hữu Hào ảnh hưởng lên tác phẩm của Nguyễn Du thì Song Tinh Bất Dạ phải được lưu hành rộng rãi trong nhân gian chớ không mai một đến hơn hai trăm năm (1704 - 1962) trong khi quyển chịu ảnh hưởng lại được lưu truyền rộng rãi.

Tuy nhiên tác phẩm vẫn còn phần nào vết tích nguyên bản ở những chữ cổ:

- Chường (=thưa): “Bặt tin chẳng thấy quân hồi chường qua

- Đòi (=nhiều): “Lịnh truyền tìm kiếm đòi nơi

- Ken (=gắn, chép vào): “Xót hiềm bạch ốc, chưa ken xích thằng.

- Thốt (nói): “Thốt thôi, thoạt đã biến đi, Hạc, Vân tỉnh giấc vậy thì hỏi nhau

- Thửa5(của): “Mộng trung không biết thửa bài thiệt ngoa.

- Hản (=Hẳn hòi, rõ ràng): “Ắt là hản vậy chẳng ngoa

- Trải (=trẩy=đi): “Con rầy muốn trải phương xa, Trước là du học, sau là cầu hôn

- Thưa6 (Không kín, không giữ gìn): “Nghe thôi Sinh mới cúi chường”

Rằng trong danh giáo ngũ thường dám thưa.

- Han (hỏi), và7 (= vài):

“Cõi nầy khác chốn yên hoa,

Dám han cho khách một và lời quê”;

“Dám han lịnh tự dưới chân mấy người”

“Gác cần lão vội han rằng:

Bởi đâu cát sĩ chưa từng mặt quen”;

Dám han quán cũ quê xưa”

- Chiên (= thảm, chiếu):

“Khiến hề kíp trải bức chiên”;

“Đồng trào, hoạn lộ hàng chiên”

- Tót8 (= tột): “Sơn xuyên cấu khí, khoa danh tót đời”.

- Mắng (=nghe biết):

“Giang ông vừa mắng tin nàng,

Dật dờ phách quế, mơ màng hồn mai”

- No nao (=bao giờ): “Biết no nao được phản hồi tỉnh thân!”

- Giềng (=xóm, bên cạnh): “Gà giềng trỗi tiếng trống thành sang tư”.

Tóm lại, do uy tín của học giả Đông Hồ, do chứng cớ trong “Đại Nam liệt truyện” và do những chữ cổ còn trong tác phẩm ta có thể tin tưởng Song Tinh Bất Dạ do Nguyễn Hữu Hào sáng tác. Tuy nhiên vì có sự sửa đổi văn chương ta chỉ có thể nhìn tác phẩm nầy trên phương diện nội dung, kết cấu, tư tưởng và bỏ qua phần sử dụng ngôn ngữ của tác giả9. (Nếu sự sử dụng ngôn ngữ có nghệ thuật, công trình nầy phải được coi như thành quả chung của nhiều người chớ không riêng gì của Nguyễn Hữu Hào).

Song Tinh Bất Dạ, truyện thơ thuộc truyền thống cổ điển.

Mặc dầu thuộc truyện diễn ca bác học đầu tiên của Việt Nam, Song Tinh Bất Dạ có thể được xếp vào loại tác phẩm cổ điển vì những lý do sau:

a. Cốt truyện đi theo triết lý biến dịch của kinh Dịch.

Câu chuyện Song Tinh có thể tóm lược làm 3 phần :

1. Sum hợp: (câu 1 - 972) Thư Sinh Song Tinh (hiệu Bất Dạ), con nuôi của Giang Chương (Hiệu Giám Hồ) từ nhỏ ở với mẹ ruột, đến khi lớn mẹ cho về nhà cha nuôi để mong được giúp đỡ ăn học. Nơi đây Song Tinh cảm tài và yêu Nhụy Châu con gái của Giang Giám Hồ. Hai đàng mặc dầu đã hàm chứa tình ý nhưng không dám tỏ bày vì ngại trái với đạo lý, luân thường.

Vì tình yêu quá nặng, Song Tinh mang bịnh, Giang Giám Hồ phải hứa gả Nhụy Châu cho, từ đó chàng hết bịnh, lo miệt mài đèn sách.

2. Chia ly: (Câu 973 - 1566) Song Tinh lên đường ứng thí, đậu Trạng Nguyên. Đồ phò mã đề nghị gả tiểu thư cho nhưng Song Tinh từ chối viện cớ mình đã có nơi đính ước. Đồ phò mã tức giận tâu vua cho Song Tinh đi dẹp giặc Phiên. Nơi đây chàng được Phiên vương kính tài ứng đối lưu loát nên thần phục.

Ở nhà, Giang Giám Hồ cự tuyệt việc cầu thân của Hách Nhược Sinh, công tử con của Hách Nguyên Nhung nên bị để tâm thù oán. Nhân có lệnh vua tuyển cung phi, Nhược Sinh bàn với hoạn quan Dao Giản tuyển Nhụy Châu tiến cung.

Trên đường về kinh đô, Nhụy Châu tự trầm nhưng được hai gia nhân của Song Tinh cứu thoát và đưa về quê ở với Song bà.

3. Tái hợp: (Câu 1567 - 2216) Dẹp giặc xong trở về, Song Tinh được biết Nhụy Châu đã chết nên buồn bã, tiếc thương. Khi trở về quê nhà chàng gặp Nhụy Châu ở đây. Vợ chồng lại sum họp.

Câu chuyện như vậy có thể tóm lược thành ba giai đoạn gặp gỡ - chia ly - tái họp. Quan niệm biến dịch: hợp - tan - hợp là quan niệm căn bản của triết lý cổ điển Trung Hoa, ở đây được mở rộng ra để diễn sự biến dịch của cuộc đời,của tình duyên

b. Tư tưởng đi theo niềm tin Nho giáo và sự tuần hoàn của vũ trụ.

Niềm tin theo tư tưởng Nho Giáo bộc lộ trong cách sắp xếp tình tiết của tác phẩm Song Tinh: người ngay trời không phụ, kẻ độc ác sẽ nhận lãnh những kết quả tàn khốc:

- Song Tinh bị đưa vào cảnh cùng: quan văn lại bị bắt buộc cầm quân dẹp giặc Phiên hung dữ nhưng cũng giải quyết được êm thắm.

- Nhụy Châu tự trầm để vẹn niềm chung thủy nhưng rồi được cứu thoát và sum hợp lại với người yêu.

- Hách Nhược Sinh làm điều quấy nên chết thảm.

Lòng tin vào sự tuần hoàn của vũ trụ thể hiện hiện ở tình tiết “Hết cơn bĩ cực tới hồi thới lai” tư tưởng nầy gần như hiện diện trong hầu hết truyện diễn ca Việt Nam.

c. Ngôn từ của người xưa.

Văn chương Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều của Trung Hoa nên sự diễn tả không thoát ra được những cách thế người xưa đã sử dụng. Chẳng hạn diễn tả cảnh nhiều nơi muốn gả con gái cho Song Tinh:

“Đòi nơi phủ tía lầu hồng,

Chốn lăm quyến phượng, chốn hòng rủ tơ.”

Nói về chuyện vợ chồng đẹp đôi:

“Trăng già mối kết, đào non thơ bài.

Giai nhân tài tử sánh hai,

Đạo hòa cầm sắt, duyên hài phượng loan”

Tả một người quá bốn mươi tuổi:

“Hai mai tuyết đã điểm ngần

Trên vai bất hoặc, dưới tuần tri thiên10

Diễn ý nhiều chàng trai gắm ghé nhưng chưa được đàng gái chấp nhận:

“Ghe phen bình tước góc ngoài

Trái duyên họ Đậu, phạp tài chàng Uyên”.

Ngôn từ trong Song Tinh Bất Dạ tóm lại, thường ở thế gián tiếp, điều muốn nói đến được diễn tả bóng bẩy bằng những hình ảnh, ý tưởng, điển tích xưa của Trung Quốc.

Văn chương nhờ đó cao kỳ, thanh nhã hơn nhưng đồng thời cho thấy tác giả vẫn chỉ bước theo con đường mòn của người đi trước, mặc dầu sức học của người viết rất uyên thâm.

d. Nhân vật và địa danh thuộc về Trung Quốc.

Song Tinh Bất Dạ ngoài cốt truyện, niềm tin, ngôn từ còn cổ điển ở chỗ nhân vật, địa danh của câu chuyện đều được mượn của Trung Quốc. Những nhân vật chánh mang họ Trung Hoa, hoàn toàn xa lạ với Việt Nam: Song Tinh, Giang Chương (hiệu Giám Hồ), Hách Nhược Sinh, Dao Giản. Những địa danh có thật ở Trung Quốc: Thục Xuyên, Triết Tây, Kiếm Các, Sơn Âm, dòng Tây Tử, gành Nghiêm Lăng, cầu Mộng Bút, cầu Linh Dĩ mặc dầu được tác giả mượn để lồng vào đó ý tưởng của mình - Có thể tác giả không muốn dùng nhân vật và địa danh Việt Nam vì ngại những hiểu lầm có thể xảy ra - nhưng cũng phần nào cho ta cảm thấy xa lạ, ngỡ ngàng, và nhất là nhận chân được tinh thần chưa độc lập khi sáng tác, tính chất cổ điển của tác giả.

e. Cốt truyện và tâm lý nhân vật cứng nhắc, thông thường.

Điều nầy là hệ luận của truyện Trung Quốc. Vì viết để trình bày triết lý biến dịch, viết để cho người đọc thấy chính nghĩa thắng, tà bại vong nên tác giả dùng ngòi bút của mình sắp xếp các sự kiện sao cho phù hợp với những tiêu chuẩn căn bản mà mình muốn diễn tả. Ở Song Tinh Bất Dạ, cuộc gặp gỡ giữa Song Tinh và Nhụy Châu quá dễ dàng: trên đường đi Song Tinh gặp một ông lão, sau một lúc chuyện trò, họ nhận ra nhau, về nhà Song Tinh được diện kiến Nhụy Châu và mối tình xảy ra. Song Tinh bị nạn vì một lời từ chối rất hợp lý. Nhụy Châu suýt chết lại được phép mầu cứu thoát để đoàn tụ với người yêu. Man Vương binh hùng tướng mạnh nhưng dẹp can qua dễ dàng vì thấy thiên sứ có tài ứng đối.

Tâm lý nhân vật cũng vậy, xa cách con người tại thế với những ham muốn tầm thường, nhưng rất người, nhân vật ở đây đi theo con đường thẳng không có những ngõ rẽ. Ai xấu sẽ xấu từ trước đến sau, ai tốt, tốt từ đầu đến cuối. Song Tinh vẹn tình tuyệt đối với Nhụy Châu: từ chối hôn nhân mới, “một nhà vầy hợp, hai phòng xin phân” khi bị bắt buộc phải cưới Thể Vân. Hách Nhược Sinh ăn chơi, thất vọng vì bị từ chối hôn nhân đã âm mưu hãm hại người. Đồ phò mã cũng vậy, ghen hiền, nghét ngõ, tự ái xằng ....

Chiếc đũa thần của tác giả xếp đặt sự kiện để cứu người ngay, để xô người đoan chính vào những trạng huống khổ sở và tâm lý nhân vật một chiều có thể nói là tinh chất căn bản nhất của truyện Trung Quốc ở Việt Nam, tạo nên tính chất cổ điển của truyện Nôm.

Thử tìm ý nghĩa cho Song Tinh Bất Dạ.

Có người cho Nguyễn Hữu Hào mô phỏng một cốt truyện nào đó của Trung Hoa11 chúng tôi nghĩ, quyết đoán như vậy e hơi vội vàng vì sự tương tự ở nội dung, kết cấu, giữa tác phẩm Nôm Việt Nam và tác phẩm Trung Quốc là điều đương nhiên phải có, vì sinh ra từ ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc. Muốn quyết đoán ta phải tìm được tác phẩm của Trung Quốc - như trường hợp Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du - nếu không, chúng ta sẽ đi đến kết luận bất cứ truyện Nôm nào của Việt Nam cũng mô phỏng từ bản văn của Trung Quốc12.

Truyện của Trung quốc vốn đơn giản, từ đó chi tiết bị hy sinh, tâm lý nhân vật bị cấu tạo theo chiều hướng nhất định, vì vậy dễ có tính cách khuôn sáo, ngô nghê, xa con người xã hội, nhưng cũng nhờ đó truyện Trung Quốc có một sắc thái riêng, không giống với truyện của những nước khác.

Song Tinh Bất Dạ cũng được cấu tạo đơn giản về câu truyện, theo truyết lý biến dịch về nội dung, nhưng từ đó khi đi đến kết luận “Phỏng theo một câu chuyện nào đó của Tàu” luận cứ trên khó thể được mọi người đồng ý. Điều chắc chắn nhất, Song Tinh Bất Dạ chịu ảnh hưởng của cách viết truyện, lối hành văn, quan niệm triết lý của Trung Quốc cũng như nhân danh, địa danh13 .

Nhưng vấn đề đặt ra: Do động lực nào thúc bách, Nguyễn Hữu Hào sáng tác nên Song Tinh Bất Dạ ?

Tiểu sử Nguyễn Hữu Hào cho ta một chi tiết quan trọng để giải thích lý do hình thành tác phẩm Song Tinh. Khi giữ nhiệm vụ đánh Chân Lạp ông nghe lời cầu xin của Chiêm Dao Luật, nữ sứ giả Chân Lạp, nên dùng dằng không tiến quân, có lần các tướng dưới trướng khuyên nên nhất quyết, ông giải thích: “Đế vương xưa muốn cho phương xa mến phục, đều trọng lễ chứ không quí vật.14 cuối cùng ông rút quân về. Vì vậy ông bị bãi chức.

Qua câu nói Đại Nam Liệt Truyện còn ghi lại ta có thể nghĩ Nguyễn Hữu Hào muốn chinh phục Chân Lạp bằng tình cảm, muốn được sự thần phục từ tinh thần chứ không vì ngại binh hùng tướng mạnh. Ông cũng muốn cho thấy khả năng của văn hiến, của thương nghị, ngoại giao. Ta có thể nói, qua Song Tinh Bất Dạ tác giả đưa ra một chủ thuyết đối ngoại, tìm sự tâm phục của nước lân bang. Chủ thuyết nầy rất ích lợi cho công việc mở rộng đất đai về phương Nam của các Chúa Nguyễn vì dễ dàng thành công lại tránh khỏi can qua.

Nhưng những người đồng thời với Nguyễn Hữu Hào đã không hiểu được dụng ý nầy của ông, ông cần trình bày - mặc dầu xa xôi, bóng bẩy bằng một câu chuyện - sự trình bày có tác dụng như một lời giải thích đồng thời minh oan cho hành vi của mình. Do đó, trong Song Tinh Bất Dạ tác giả đã tạo ra nhân vật chỉ biết thuần văn chương nhưng được sự thần phục của phiên bang nhờ tài ứng đối:

“Trạng từ mới đến Man đình.

Man vương còn hãy ngạo tình kiêu lung.

Thấy chàng ứng đối như dòng.

Khen rằng thiên sứ nước trong có người

Điều thời kính phục oai trời.

Xưng thần chức chịu cõi ngoài Phiên vương

Cống dưng biểu tấu Thánh hoàng.

Kim ngân châu ngọc đưa chàng hoàn kinh.”

Tác phẩm Song Tinh Bất Dạ vì vậy như là một phương tiện để tác giả nói với giới hữu trách quan niệm của mình về cách thức thu phục các nước kém mở mang đồng thời ông cũng dùng nó để biện hộ cho chính mình, với người đồng thời và với cả hậu thế.

Có nhà viết văn học sử cho rằng Nguyễn Hữu Hào nhìn thấy sự xuống dốc của giai cấp quí tộc phong kiến ở Nam Hà, một sự xuống dốc theo Nguyễn Hữu Hào rất nguy hiểm cho chế độ nên để củng cố lòng tin tưởng chính nghĩa nơi quần chúng, ông viết nên truyện Song Tinh Bất Dạ củng cố bằng cách chứng minh sự tất thắng của chính nghĩa, tiêu biểu là Song Tinh và Nhụy Châu15. Nhận xét nầy chỉ đúng một phần vì hầu hết - nếu không nói là tất cả - truyện Nôm của Việt Nam đều đi đến kết cuộc chính nghĩa thắng, gian ác tà vạy vong. Giải thích lịch sử trong trường hợp nầy hơi gượng ép vì không nêu được tính chất đặc biệt của tác phẩm, của tác giả. Ở đây ta phải trở về cuộc đời của tác giả 16, gắn liền tác phẩm với biến cố quan trọng trong cuộc đời của tác giả. Trường hợp Nguyễn Hữu Hào, Song Tinh Bất Dạ đối với ông như một cứu cánh, một lời trần tình, nhất là ông phải đánh tan những nghi ngờ có thể phảng phất trong lòng người đang có quyền lực quyết định cuộc đời ông17.

***

Trước đây Đông Hồ đã nhấn mạnh đến nghệ thuật tả cảnh rất sống thật, linh động, đến tính cách hóm hỉnh, hài hước, chua ngoa của người đầy tớ gái trong tác phẩm; các nhận xét nầy có thể coi như những khám phá căn bản về giá trị văn chương của quyển Song Tinh Bất Dạ. Tuy nhiên trong việc tìm hiểu văn học và tư tưởng của nhà văn Nam Hà chúng ta có thể nói Nguyễn Hữu Hào chịu quá nhiều ảnh hưởng của truyện Trung Hoa - về tư tưởng cũng như hình thức - mặc dầu ông đã thành công, thành công trong việc minh oan cho mình, đồng thời tạo cho các Chúa Nguyễn một dịp suy nghĩ: tiến chiếm miền Nam Chân Lạp bằng võ lực hay bằng phương cách khác?

Biết đâu những cuộc di dân âm thầm để chiếm đất lấn ranh nguyên dải đất phì nhiêu của đồng bằng Nam Bộ lại chẳng do chủ trương của nhà cầm quyền lúc đó, và xuất phát xa gần từ quyển truyện của Nguyễn Hữu Hào?

Phụ Lục

Song Tinh Bất Dạ

(Trích)

Vào Đề.

Cửa xe đài án việc rồi,

Màn trong giảng kể, Sách ngoài dọn biên.

Hơi đâu nông nổi chê khen,

Chấp kinh mặc thích, tòng quyền dầu ai.

Cũng sanh nhúc nhúc dưới trời

Khỏi loài rằng lạ, hơn người rằng ngoan.

Định tình biết đủ mới an,

Trải từng sự vật mấy trang anh hùng.

Song Tinh từ tạ Song bà đến nhà Giang Giám Hồ.

Thục Xuyên có gã họ Song,

Chữ xưng Bất Dạ nho phong nổi nền.

Lễ văn họp bạn sách đèn,

Mực rơi điểm ngọc, thi nên khua vàng.

Thế thanh khí vũ hiên ngang,

Thẳm khơi độ lượng, rỡ ràng nghi dung.

Đòi nơi phủ tía lầu hồng,

Chốn lăm quyến phượng, chốn hòng rủ tơ.

Song bà chạnh nhớ niềm xưa,

Giục sanh sớm định quan thư kịp thời.

“Đương khi thế thái trọng vì,

Dễ lời mai ước, tiện bề hôn nhơn.

Trước là phỉ thửa dạ con,

Sau là lòng mẹ khỏi còn toan đương”

Nghe thôi sanh mới cuối chường.

Rằng: “Trong danh giáo ngũ thường dám thưa.

Hãy chờ Nguyệt lão xe tơ,

Con thơ sẽ liệu, mẹ già lo chi!”

Thấy chàng cượng ý chẳng y,

Song bà nhân ấy, lòng bi bàn hoàn.

Nhân khi trong lúc thừa nhàn,

Người sanh lén tới bên màn chường qua.

“Con rày muốn trải phương xa,

Trước là du học sau là cầu hôn.

Mặc cơn kỳ ngộ dễ don,

Trăng già mối kết, đào non thơ bài.

Giai nhơn tài tử sánh hai,

Đạo hòa cầm sắt, duyên hài phượng loan.

Sớm khuya tất dạ thừa hoan,

Song Thần em hãy tỉnh khang giữ gìn”

Song bà rằng: “Lẽ ấy nên,

Hề đồng hai gã, bạn cùng một đai.

Mặc con vân thủy dầu chơi.

Việc nên kíp trở tin hồi mẹ hay”.

Ân cần lời lại dặn bày.

“Phu quân xưa có bạn mày đồng niên.

Đồng trào hoạn lộ, hàng chiên.

Ngôi cao Ngự Sử quê miền Triết Tây.

Đứng nên nghĩa khí thẳng ngay.

Ngày xưa từng đã nuôi mầy làm con.

Năm sau điềm ứng mi môn.

Trổ sanh một đóa mẫu đơn khác thường.

Chắt chiu bằng ngọc hơn vàng.

Quyết mầy làm rể đông sàng nghị vay.

Này bao tạo hóa khéo tay.

Phu quân sớm đã non mây vội dời.

Linh nhi, quê cũ đề vời.

Điếu tang ơn chịu của người giúp đưa.

Những từ trở lại quê xưa.

Quan san cách nẻo, âm thư đặt truyền.

Chầy ngày, chút muốn quên tên,

Con dầu qua đó thăm tin hỏi cùng.

Ngõ còn nhớ nghĩa thủy chung,

Tiện nơi nương dựa dụng công sách đèn”.

Vâng lời, bái tạ từ huyên,

Đeo cầm lộng hạc, gác yên giục lừa.

Thức nhành hây hẩy gió đưa,

Ý xuân giục khách, bạn thơ quến người.

Nga - Mi sừng sững giữa trời.

Khỏi nơi Kiếm - Các, kề vời Triết Tây.

Sơn Âm chớn chở từng xây,

Đá hang rêu phủ, cỏ cây khói lồng.

Dặm ngàn khói tỏa mây phong,

Thoáng qua chùa Huệ, nẻo thông Hương - đình

Nước non sao khéo hữu tình,

Kìa dòng Tây Tử, nọ gành Nghiêm Lăng.

Việt Vương đài nọ mấy từng,

Rong treo tường bích, lau dừng cỏ hoa

Ngang cầu Mộng Bút vừa qua,

Thái - Ung còn biển, Tào Nga còn bài.

Đất sanh gái sắc trai tài,

Người đời tuy khác, đấu đời còn ghi.

Biết bao thủy tứ sơn kỳ,

Cảnh vui mấy chốn, thơ thì mấy thiên

Bút hoa làng nọ gần miền

Mặc Trì đã khỏi, kề liền Sơn Âm.

Bãi lan sóng dợn lăm chăm

Một vùng mộng uyển, nghìn tầm quến phơi.

Ngạn đôi cây cỏ phô tươi,

Liễu khoe mày lục, đào cười môi son.

Dập dìu quí tử vương tôn,

Xe ngừng xóm nghiệp, ngựa bon dặm hoè.

Giang san cẩm tú bình vi,

Thục Xuyên so lại thế thì xa khơi.

Cảnh thanh, tính hứng mảng chơi.

Nào hay là chốn thợ trời giúp ta.

Song Tinh đậu Trạng, lãnh chiếu dẹp giặc :

Sanh từ ra chốn đế thành.

Thi thư ôn cố, sử kinh giồi mài.

Mảng đo tấc vắn, ngày dài.

Thỏ xây ác lặn non đoài ruổi qua.

Thời vừa giữa tiết trung hòa,

Bảng trèo ló thấy chàng đà treo lên.

Long đầu giáp đệ Trạng Nguyên,

Phẩm cao thiên hạ, tiếng truyền triều trung.

Có quan Phò mã Đồ - Công.

Trọng tài muốn rể khiến hồng làm mai.

Mai nhân đến trước ngõ bày,

Trạng rằng đã định duyên hài bố kinh.

Mai về thưa lại sự tình,

Đồ công quyết ý nghiêng bình thù tây.

Trạng từ cao bước thang mây,

Dựa kề bệ phượng, sánh bầy hàng loan.

Từ ngày tạn mặt thiên nhan,

Ba sinh mừng đã phỉ nguyền nam nhi.

Quốc gia vừa thuở bình thì,

Trạng bèn dâng biểu xin về tỉnh thân 18

Đồ công mấy kẻ cận thần,

Ba phen ngăn trở cửu trùng chẳng lo.

Trạng hay Đồ kết thù tho,

Tuy vui việc nước, hằng lo việc nhà,

Tờ mây thảo thảo trao qua,

Dặn Vân chớ khá dần dà nhọc trông.

Đem về trình với Giang ông,

Kíp đưa Nàng tới sở công kinh kỳ.

Trước là Đồ tướng tuyệt nghi,

Sau là hoa chúc phải thì giao hoan.

Thanh Vân, Dã Hạc băng ngàn,

Trạng Nguyên từ ấy trí càng bảo thân.

Trách thay xanh thẳm chẳng phân,

Thiên duyên nỡ khiến bấy lần tuyết sương.

Đất bằng sấm dậy một phương,

Phiên bang dấy loạn oanh dương cõi ngoài.

Bình thời ai nấy khoe tài,

Đến khi gấp việc kiếm bài từ nan.

Đồ công gẫm biết cơ quan,

Dương lời công tiến, tiềm toan tư thù.

Mấy người cận thị liền tâu,

Rằng trong khiển sử phải âu kén tài.

Xem trong thị viện khoa đài.

Song Tinh so lại hơn người rất xa.

….

Trước không nhục mạng, ắt là việc yên.

Vua nghe lịnh xuống chỉ truyền,

Trạng vâng phù tiết vậy liền bước ra.

Việc Vua há dám dần dà,

Thuyền lau gió thuận, gióng là sóng khơi.

Chẳng nên trách đất than trời,

Việc công là trọng, dễ lời khinh khi.

Tang bồng là chí nam nhi,

Sá chi hải giác, quản gì quan san.

(trích theo bản của Đông Hồ - Bốn Phương 1962)


________________________________________

1 Đông Hồ: Truyện Song Tinh - Bốn Phương - Sài Gòn 1962, trang XI: “Có chỗ chép là Lễ Tài Hầu”.

2 Thật ra trước đó, ở tập san Khai Trí Tiến Đức (Số 7 và 8 tháng 7 và 12 - 1942) ông Đông Hồ đã viết bài khảo cứu về tác phẩm nầy rồi, nhưng còn rất sơ lược.

3 Đông Hồ - Sđd, trang XXIII.

4 Phạm Thế Ngũ - VNCHHỨTB - Quyển II, trang 226.

- Cùng nhau căn vặn vắn dài (ST) / Cùng nhau căn vặn đến điều (K).

- Đã đành nước chảy hoa bay quản gì (ST) / Đã đành nước chảy hoa bay lỡ làng (K)

- Chàng Sinh trở lại thư song (ST) / Chàng Kim từ trở thư song (K)

- Ba sinh mừng đã phĩ nguyền nam nhi (ST) / Ba sinh đã phĩ mười nguyền (K)

- Nhìn xem trời nước mênh mông (ST) / Trông vời trời nước mênh mông (K)

- Bên lòng trăm mối ngổn ngang (ST) / Ngổn ngang trăm mối bên lòng (K)

5 Thửa người xưa dùng dịch chữ kỳ có nghĩa của. Nghĩa cả câu nầy: “Không biết những gì ở trong mộng nói thiệt hay giả!”

6 Thưa dịch chữ sơ, hở. Tác giả “Văn học Miền Nam - Khai Trí, Sàigòn - trang 98, cho là “coi rẽ” e rằng không được chính xác.

7 Han đều xuất hiện nhiều ở tác phẩm thế kỷ XIX: “Trước xe lơi lả han chào”, Cành mai trắng đỉêm một và bông hoa” (Kiều). Hoặc: “Trước han tìm bạn sau là nghĩ chân.” (Lục Vân Tiên)

8 Kiều: “Ghế trên ngồi tót xổ xàng” Nhị Độ Mai: “Trên mui ngồi tót một người”, nói chung STBD tuy có nhiều tiếng cổ, ngày nay đã mất nhưng những tiếng nầy tác phẩm ở Bắc Hà thời đó vẫn dùng nên ta có thể kết luận thời nầy mặc dầu đất nước bị chia đôi ngôn ngữ vẫn thống nhất hay ít ra l2 sự phân cách không nhiều.

9 Phần hình thức ta có thể khảo cứu như ông Đông Hồ đã thực hiện (sđd) cấu tạo ý dí dỏm, sự đối đáp của nhân vật ...

10 Do câu: “Tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập tri thiên mệnh.”

11 Phạm Thế Ngũ - VNVHGỨTB - Quyển I, Quốc học Tùng Thư, Sàigòn, Nhâm Dần, trang 223.

12 Chúng tôi để nguyên ý của mình trong lần in thứ nhứt. Những năm gần đây học giới có truyền tay nhau nguyên bản một quyển tiểu thuyết tình cảm Trung Hoa đời Minh, nguồn gốc của Song Tinh Bất Dạ. Nguyên bản dở vì chú trọng đến và xoáy mạnh trên cái tình cảm yếu đuối tình si của Song Tinh cho nên chỉ là một truyện tình bình thường. Song Tinh Bất Dạ về văn chương hay hơn nhiều…

13 Phạm Việt Tuyền - ssđ, trang 91 cũng có quan niệm gần như tương tợ - vì ông chỉ để ý đến nhân danh và địa danh – “tác giả chỉ mượn nhân danh và địa danh của Trung Hoa mà xây dựng nên một truyện hoàn toàn của mình, cũng giống như trường hợp của Nguyễn Đình Chiểu với cuốn Lục Vân Tiên sau nầy”.

14 Đại Nam liệt truyện tiền biên - Mục “chư thần”

15 Lịch sử Văn học Việt Nam - nhóm Văn Tân, quyển IV.

16 Giả thuyết nầy càng vững hơn nếu ta để ý cha của Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Hữu Dật vì bị gièm pha nên phải bị hạ ngục, đã viết sách “Hoa Vân, Cáo Thị để gián tiếp minh oan, khi sách đến tay Chúa Hiền, Chúa hiểu ý và tha tội cho ông.

17 Nên nhớ Song Tinh Bất Dạ được viết lúc ông trấn thủ Quảng Bình, khi công việc rảnh rỗi.

18 Tỉnh thân: là thăm nom cha mẹ (song thân), chú ý phân biệt với tĩnh thân chỉ là yên tĩnh riêng mình.



Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa chuyển từ Hoa Kỳ ngày 22.8.2013 .

Trang Trước
Trang Tiếp Theo

Quay Lên Đầu Trang