Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

XÃ YÊN ĐỨC



NHÂN VẬT LỊCH SỬ TRẦN KHẮC CHUNG






I- XÃ YÊN ĐỨC

Yên Đức bây giờ là vùng du lịch văn hóa và sinh thái - du lịch làng quê - của huyện Đông Triều. Khi ông Nguyễn Văn Tuấn, người Đông Triều, làm giám đốc Sở Du lịch Quảng Ninh, tôi đã nói với ông: nên chọn một điểm dừng chân cho khách thăm vịnh Hạ Long khi đi từ Hà Nội hay sân bay Nội Bài về. Ông Tuấn bảo: em cũng đang nghĩ đến điều đó và đã bàn với các anh huyện ủy Đông Triều, có thể chọn khu vực sứ Đông Thành. Tôi nói: Yên Đức hay hơn. Anh vừa về xã nói chuyện thơ và giúp xã biên soạn tập thơ Núi Canh, thấy xã rất đẹp, có nhiều tầng văn hóa và vóc dáng như một thị tứ. Đông Thành khách có thể dừng mua đồ sứ, chứ nghỉ chân thăm thú thì không nơi đâu hơn Yên Đức.

Sau đó, tôi đã thông báo điều đó cho lãnh đạo xã biết.

Tôi đã ở hẳn Yên Đức, dạy học cấp 2 môn văn sử đến 3 năm liền, còn đi về thì 4 năm nữa, từ năm 1962 đến năm 1969 của thế kỉ trước, nên rất thân thuộc, có thể nói là từng đường ngang ngõ dọc của các xóm làng trong xã. Vốn ham học hỏi và tìm kiếm để phục vụ cho việc giảng dạy và để viết báo làm thơ, tôi đã gặp và hỏi đủ các lớp người. Tôi đã chui vào các hang: hang Ang Tái, căn cứ du kích ở thôn Dương Đê, hang 73 ở Đồn Sơn, hang Đốc Tít ở Đức Sơn, tương truyền Đốc Tít đánh Pháp có đóng quân ít lâu ở hang này. Năm đó có một người dân tìm thấy trong hang cái mâm đồng cổ, cho rằng của nghĩa quân còn bỏ lại. Tôi cũng nhiều lần trèo lên núi Đống Thóc, núi Canh, hiện vẫn còn ảnh chụp, lội qua sông ra núi Con Mèo, ngắm rất kĩ bài thơ của một viên quan nhà Nguyễn nào đó, viết rất hay, nhưng lại ghi tên gán cho vua Trần Nhân Tông, để dễ được truyền tụng. Lúc ấy, đi lại còn khó khăn. Tôi nhớ khi sang Đức Sơn, phải lội qua một cái đầm lầy, rất hôi thối, do cây lá rừng lót dưới đáy bùn lâu ngày và cả xác súc vật chết. Đức Sơn thuở ấy, rừng rậm âm u, cây cao, quanh năm ẩm ướt, nhím chạy ra ngơ ngác nhìn người, và sóc trông thấy tôi thì nhảy veo veo qua các cành cây. Tôi thấy có cả báo và rắn.

Chinh phục tôi hơn cả là núi Thung, phong cảnh đẹp một cách cao sang, cây lá thoáng đãng nên thơ, rất có phong độ nho nhã quí phái, núi dịu và lành, còn ghi nhiều bài thơ ngâm vịnh của các nhà thơ địa phương ở thời Nguyễn, dù lúc đó, núi Thung còn là thung lũng hoang, gai góc mọc đầy.

Nhà văn Lê Lựu có truyện vừa Trận đánh núi Con Chuột, kể chuyện du kích xã Yên Đức cùng bộ đội địa phương đánh chìm tàu chiến Pháp. Nhà thơ Trinh Đường có trường ca Núi Canh, nhà văn Hoàng Quốc Hải có tiểu thuyết Chiến lũy đá viết về tấm gương quả cảm của 73 người, thà chết trong hang núi Canh do giặc Pháp hun khói, chứ quyết không ra hàng. Tôi có sưu tầm được bản chữ chép tay in đá bản diễn ca Yên Đức căm thù, khoảng 1000 câu thơ song thất lục bát của Ngọc Hải, dưới đề Ty tuyên truyền Quảng Yên, viết ngay sau chiến trận, 1950.

Đến tôi, tôi cũng có thơ, nay đọc lại vẫn còn xúc động:

Ta đứng lặng trước chợ Đồn bình dị

73 người - một nấm mộ chôn chung

Hồn liệt sĩ đã lẫn vào mây trắng

Bay ngàn năm trên xóm mạc anh hùng…

Lúc bấy giờ chợ Đồn bên núi Canh vẫn họp. Cạnh đó là nấm mộ, gọi là “mộ 73” đắp đất. Nhiều đêm, tôi đi qua đây, không sao quên được cái tiếng gió khuya xao xác đến lạ lùng trong các đám lá mía lợp sơ sài trên nóc quán chợ.

Đây là một vùng quần thể văn hóa phồn thực nông nghiệp, mà tôi không thấy có ở đâu: với núi Canh (núi Cày, trong xa như cái cày) núi Thung (Cối giã gạo) núi Đống Thóc, núi Con Chuột (chuẩn bị ăn vụng thóc) và núi Con Mèo (canh cho thóc không bị chuột quấy phá)…

Cũng như Vĩnh Khê, Yên Đức đã để lại trong tâm hồn tôi, những kỉ niệm rất khó phai mờ. Bài thơ viết tại làng Yên Khánh, tháng 10/1964, khi tôi vừa tròn 20 tuổi, có đoạn:

Chào Yên Đức, ta đi, lòng ở lại

Cùng sớm thu, thoang thoảng gió heo may

Cùng hoa xoan rơi tím chiều ngõ vắng

Cùng vầng trăng muôn thuở vẫn tròn đầy...

II.- VÀ NHÂN VẬT LỊCH SỬ TRẦN KHẮC CHUNG

Báo Quảng Ninh cuối tuần số 556 ra ngày 16/9/2012, có đăng bài Về nhân vật lịch sử Đỗ Khắc Chung được ban quốc tính họ Trần của Nguyễn Trung Dũng. Bài viết chặt chẽ và nghiêm túc, hầu hết các ý đều trích nguyên văn từ Đại Việt sử kí toàn thư (ĐVSKTT). Tuy nhiên cũng có một số điều, tôi thấy cần nói rõ thêm, để bạn đọc có thông tin đầy đủ hơn.

1 - Cái quí của tấm bia Bia đất Tam Bảo núi Thiên Liêu mà ta đào được ở chân núi Phượng Hoàng thôn Đức Sơn, xã Yên Đức, huyện Đông Triều ngày nay, cho biết: đây chính là trang Ma Liêu ở thời Trần, được vua Trần phong cho bố mẹ Bảo Hoàn. Về điều này, ĐVSKTT ghi rõ ràng như sau: “Khắc Chung lấy nàng Bảo Hoàn, khoảng đời Trung Hưng, người Nguyên xâm lấn, cha mẹ Bảo Hoàn hàng giặc, điền sản đều bị sung công” (Tập II, Nxb KHXH 1967, trang 126 - 127). Do vậy, cha mẹ Bảo Hoàn đã bị xóa tên trong dòng tộc, nên ĐVSKTT chỉ ghi “cha mẹ Bảo Hoàn” mà không ghi tên. Như vậy, đất này không phong cho Trần Khắc Chung, như bài báo đã nêu, vì nếu phong cho Khắc Chung thì đã không thể bị “xung công” (tịch thu). Có một trường hợp tương tự: Trần Khánh Dư có tội, bị tịch thu toàn bộ gia sản “không để lại cho một tí gì” (ĐVSKTT, sách đã dẫn, trang 48), nhưng đất phong của cha ông ở châu Chí Linh thì vẫn nguyên vẹn.

Chung quê ở Giáp Sơn, Kinh Môn, cách Yên Đức hơn một ngày đường.

Khoảng năm 1294 - 1313, vua Trần Anh Tông xuống chiếu trả trang Ma Liêu cho con trai trưởng của Khắc Chung và Bảo Hoàn là Trần Nguyên Trưng, vì thế, các vị cao niên ở địa phương mới dựa vào đó, để nói đất này vua Trần phong cho Khắc Chung, nói thế cũng có cơ sở, nhưng về mặt khoa học thì chưa được chuẩn xác. Sau đó, Trưng lại cúng vào chùa làm đất Tam Bảo và giao cho chú nuôi (nghĩa đệ cuả Khắc Chung) là nhà sư Hương Lâm, dựng chùa ở đây, vừa tu vừa trông coi.

2 - Có tài liệu ghi “công chúa Bảo Hoàn”. Có lẽ vì vậy mà Nguyễn Trung Dũng viết là “Khắc Chung được vua Trần gả cho công chúa Bảo Hoàn”, theo tôi là không có căn cứ. Bảo Hoàn là con gái một vương hầu nào đó trong dòng tộc, nhưng không phải con vua, nên vua không thể gả.

3 - Vì Khắc Chung là thày dạy vua Minh Tông học, khi vua còn là thái tử, nên về sau, vua Minh Tông rất trọng dụng thày, đã ban cho thày tước Thái Bảo (ở hàng tam công) và chức hành khiển, làm việc ở sảnh, trong hàng quan đầu triều, Chung chỉ đứng dưới có một người là tể tướng Trần Quốc Chẩn.

4 - Khắc Chung có một tội lớn: đồng mưu với Văn Hiến hầu, xui vua hãm hại Quốc Phụ (bố vợ vua) là tể tướng, Huệ Võ vương Trần Quốc Chẩn. ĐVSKTT (sách và trang đã dẫn) ghi việc đó như sau: Mậu Thìn năm thứ 5 (1328), tháng 3, giết Trần Quốc Chẩn. Văn Hiến hầu muốn lập hoàng tử Vượng lên ngôi, nên đút cho gia thần của Quốc Chẩn là Trần Phẫu 100 lạng vàng, bảo Phẫu vu cáo Chẩn làm phản, vì Chẩn can ngăn việc này. Vua hỏi Khắc Chung, Chung xui vua giết Chẩn. Chung nói: “Bắt hổ thì dễ, thả hổ thì khó”. Hiểu ý, vua giam Quốc Chẩn trong ngục, bắt nhịn ăn nhịn uống mà chết và bắt hơn 100 người khác, trong số đó, nhiều người bị giết theo. Vì Chung cùng phe với Văn Hiến hầu và với mẹ hoàng tử Vượng, lúc đó là Thứ phi, sau đó là Ninh từ Hoàng Thái phi, họ Lê, người cùng làng. Về sau, do vợ lẽ của Phẫu ghen với vợ cả, mới nói lộ ra. Quan Hình bộ là Lê Duy xét hỏi, Phẫu nhận tội và bị xử lăng trì (tùng xẻo). Gia nô của Thiệu Võ, em ruột Chẩn đã ăn sống hết toàn bộ thịt của Phẫu. Văn Hiến hầu, vì là con (hay em ruột) của Chiêu Văn đại vương Trần Nhật Duật (Nhật Duật nuôi Minh Tông là chắt làm con nuôi, từ lúc còn ẵm ngửa cho đến khi lên ngai vàng) nên vua tha tội chết cho Văn Hiến hầu, nhưng bị xóa tên trong dòng tộc, đuổi đi. Vì thế ĐVSKTT chỉ ghi tên tước, không ghi tên húy.

Chung vì là thầy học của vua, nên vua không nói gì. Chung xin hưu rồi lâm bệnh chết, gia nhân đem xác về quê (Kinh Môn, Hải Dương hiện nay) chôn, thì bị gia nô của Thiệu Võ đón đường, cướp xác, vằm xác nát ra như cám…

Trong triều, Hưng Nhượng đại vương Trần Quốc Tảng rất ghét Chung, thường bảo: “Nhà Trần sẽ mất vì tên này!” (chữ Trần Khắc Chung nghĩa là nhà Trần tất sẽ mất), nên Chung thường tránh, không dám gặp Quốc Tảng. ĐVSKTT đánh giá: “Khắc Chung là người giả dối để cầu tiếng khen”. “Chỉ duy có việc đi cầu hòa với giặc Nguyên là khả quan thôi, cho nên người ta khen là người giỏi” (sách và trang đã dẫn).Việc cầu hòa như thế nào, dựa vào ĐVSKTT, Nguyễn Trung Dũng đã thuật lại rất chuẩn xác trong bài báo mà tôi đã nêu trên.

Suốt đời vua Minh Tông ân hận vì đã giết oan bố vợ, đồng thời là một đại thần tài ba trung dũng, có công rất lớn với quốc gia. Thơ ông có câu: “Tự tri tam thập niên tiền thắc” (Tự biết lỗi lầm từ 30 năm trước - bài Dạ vũ - Mưa đêm). Ông cho lập đền thờ Quốc Phụ ở đất được phong là làng Kiệt Đặc, huyện Chí Linh, nay thuộc tỉnh Hải Dương. Khi đã là thượng hoàng, Minh Tông đến đền làm lễ và khi xong, vừa bước xuống thuyền, thì bị một con ong vàng đốt vào má trái, xưng tấy, ông tự cho là trời bắt đền tội, bèn sai người đóng quan tài ngay. Ít lâu sau, ông chết, thọ 58 tuổi.

Hiện nay đền thờ Quốc Phụ vẫn còn, ở phía tay trái đường 18 từ Sao Đỏ đi Phả Lại.





Quay Lên Đầu Trang