Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


ĐẠO PHẬT
QUA LỜI GIẢNG DẠY
CỦA LỤC TỔ HUỆ NĂNG
TRONG PHÁP BẢO ĐÀN KINH





LỜI NÓI ĐẦU

      Người tin vào Giáo Pháp ĐẠI THỪA thì đương nhiên tin vào việc TRUYỀN Y BÁT của Đức Thích Ca, vì đó là Di Ngôn của Ngài. Đã tin như thế thì cũng biết rằng dù Kinh ĐẠI THỪA không phải do chính kim khẩu của Phật thuyết, mà do các Tổ về sau giảng, mục đích chỉ là khai triển cho rõ thêm những gì ngày trước Phật đã thuyết. Đa phần những quyển Kinh Đại Thừa như DIỆU PHÁP LIÊN HOA, KIM CANG, DUY MA CẬT, LĂNG NGHIÊM đều được mở đầu bằng “ Như thị ngã văn …” có nghĩa là mượn lời của Phật để thuyết. Điều đó với người không hiểu gì về việc Truyền Y Bát thì cho là ngụy tạo. Nhưng với người đã hiểu thì không có gì thắc mắc, bởi việc TRUYỀN Y BÁT có nghĩa là Tổ trước thấy người kế nhiệm cũng đã Chứng Đắc. Sự hiểu biết về Giáo Pháp cũng không khác chi mình, nên chọn làm người thay mặt mình, tiếp tục giữ gìn và quảng bá Phật Pháp, nối tiếp con đường của Đức Thích Ca để lại. Như vậy, Tổ chính là PHẬT HIỆN ĐỜI. Các Ngài hoàn toàn có quyền xưng mình là Phật. Dù vậy, các Ngài vẫn khiêm tốn, mượn danh Đức Đạo Sư khai triển Giáo Pháp, để người đọc thêm tin tưởng mà hành theo. Dù vậy, suốt những quyển Kinh Đại Thừa ta không hề thấy sự kiêu mạn nào của Tổ đã giảng ra Kinh đó. Các Ngài không hề hài danh, hài tánh để người sau phải tôn vinh. Đó là một yếu tố để qua đó ta có thể đánh giá được cái “ VÔ NGÃ ” của người đã Đắc Pháp.
      Chúng ta đều biết, Đạo Phật ra đời trong bối cảnh đất nước Ấn Độ đã có quá nhiều Giáo phái. Họ thờ đủ thứ Thần với những huyền thoại về phép mầu, thần thông biến hóa, có quyền sinh, sát, ban ơn, giáng họa. Vì thế, khi mở ra một đường hướng mới, Đức Thích Ca cũng không thể làm khác họ. Do đó mà phải có Phật, Bồ Tát thần thông biến hóa, cứu khổ cứu nạn. Có Cõi Phật đầy dẫy Bảy Báu, là điều mọi người luôn ham thích, - cả đời phấn đấu để đạt được, bất chấp thủ đoạn, bất chấp tội ác - để cho họ mong mỏi về đó mà chấp nhận những điều kiện Phật đưa ra, là phải GIŨ GIỚI, phải bỏ ÁC, hành THIỆN... Tu Sĩ thời đó phải bỏ nhà đi sống lang thang ngoài rừng. Phải có những hình thức khác biệt với người đời để được nhiều người chấp nhận thì Phật cũng phải dùng cách đó để thuyết phục người tin theo, sau đó sẽ dắt họ từ từ tiến thêm. Nhưng dần dà, các Tổ khai sáng Đạo Phật phải chắt lọc, để chỉ giữ lại những tinh túy, cần thiết nhất, bỏ đi những hình thức rườm ra, không dính dáng đến mục đích tu hành. Từ đó những quyển Kinh Đại Thừa đã ra đời. Về sau, thì Quyển SÁU CỬA VÀO ĐỘNG THIỂU THẤT và PHÁP BẢO ĐÀN KINH của hai vị Tổ gần với thời của chúng ta nhất thì không dùng “ Như Thị ngã văn ” nữa, mà hai Tổ trực tiếp đứng ra giải thích nghĩa lý của các pháp mà Phật đã thuyết cũng như cách HIỂU, cách HÀNH thế nào cho đúng với Đạo Phật chân chính. Vì vậy, từ buổi đầu, chúng ta thấy Đức Thích Ca và các Tổ phải Xuất Gia, Cạo Tóc, Đắp Y, Ngồi THIỀN mới “ đắc đạo ” . Khi ý nghĩa của việc tu hành ngày càng khai sáng, thì trong Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA đã nói rõ: “ Bất cứ ai, làm gì, ở đâu, ăn vận thế nào, miễn Y PHÁP TU HÀNH thì đều THÀNH PHẬT ” . Tổ Đạt Ma thì PHÁ TƯỚNG một cách quyết liệt. Thậm chí đến thời Lục Tổ Huệ Năng thi Ngài chưa Quy Y, Thế Phát, Xuất Gia và cũng không hề Ngồi Thiền xuất nào mà vẫn được Đạo. Đó không phải là một sự đổi khác hay cách tân, mà chỉ loại bỏ những thứ rườm rà không cần thiết mà ngày xưa do hoàn cảnh nên bắt buộc phải có. Qua đó, người sau biết rằng muốn tu hành thì không bắt buộc phải Y vào Hình Tướng, chỉ cần nhắm vào CÁI TÂM mà tu sửa, vì mọi vướng mắc, phiền não, Sinh, Tử là ở đó.
      Thật vậy, TU chỉ có một nghĩa là SỬA. TU PHẬT, là gỡ cái TÂM vướng mắc với trần cảnh để vẫn tiếp tục sống trong đó mà không bị nó làm KHỔ. Mục đích đã rõ ràng, thì chỉ cần nắm vững Phương Tiện để áp dụng. Thế nhưng, nhiều người vẫn cố chấp, cho là muốn tu hành thì cần phải thực hiện mọi pháp giống y như Đức Thích Ca đã làm ngày xưa mới đúng! Rõ ràng những người này đã không nắm vững con đường và mục đích của việc tu Phật. Xin được phép dùng một thí dụ cho sáng tỏ. Giả sử ngày xưa có một khúc kinh, rạch. Người muốn đi qua đó phải xắn quần lội xuống nước thì mới qua được. Sau đó thì cầu đã được bắc lên. Như vậy, chẳng lẽ vì bắt buộc phải giống y lớp người đi đầu mà những người sau không được dùng cầu để qua con kinh. Phải tiếp tục lội nước, trong khi mục đích chỉ là qua phía bên kia? Thế rồi, nhiều thời qua, bất chấp những lời giảng giải của Chư Tổ, có biết bao lớp người tu hành đã giữ y hình thức như thuở ban đầu Đức Thích Ca đã làm. Cũng là Xuất Gia, Cạo Tóc, Đắp Y, Khất Thực… mà sao không thấy có ai THÀNH PHẬT? Vậy thì việc kiên quyết giữ nguyên Hình Tướng nói lên điều gì? Lẽ nào cứ tu hành đời này sang đời kia, không có kết quả mà chúng ta vẫn chưa chịu xét lại để xem ngoài Hình Tướng còn phải làm gì nữa chăng?
      Không những thế, mục đích tu hành của rất nhiều người sau này đôi khi hoàn toàn khác với mục đích của Đức Thích Ca. Lịch sử Đạo Phật có nói rõ, Đức Thích Ca PHÁT TÂM vì thấy cảnh SINH, LÃO, BỆNH, TỬ đè nặng lên cái thân con người. Ngài Xuất Gia là muốn rời bỏ những sự ràng buộc, vướng víu của vợ con, địa vị, đi tìm cách thức để Thoát cảnh đó. Khi tìm được nguyên nhân cũng như cách thức để Thoát, thì gọi là “Đắc Đạo”. Khi hoàn tất Con Đường Giải Thoát thì gọi là THÀNH PHẬT. Như vậy, Thành Phật chỉ là hoàn thành Công việc tự Giải Thoát cho bản thân. Sau đó, Ngài thuyết cho mọi người cách thức để cũng làm được như Ngài. Nhưng càng về sau thì Thành Phật qua những người chấp lầm văn tự trở thành một vị Thần Linh, có quyền năng “cứu độ Tam Thiên Đại thiên thế giới”. Do đó, nhiều người lại Xuất Gia tu hành vì tôn kính, muốn phụng sự Phật để sau khi chết được rước về Nước Phật! Thậm chí có người Phát Tâm đi tu vì thấy uy danh của Phật quá lớn… nên cũng bắt chước Xuất Gia. Nghĩ rằng “Bỏ cái nhỏ để được cái lớn”. Biết đâu mai kia mình cũng sẽ “hoát nhiên đại ngộ”! Đức Thích Ca thì đi tìm con đường để Thoát Khổ. Mục đích đã rõ, nên khi Ngài tìm ra thì gọi là “Đắc Đạo” hay “Ngộ Đạo”. Người sau chẳng biết mình tìm gì? Chẳng biết phải tìm cách nào? Ở đâu? Vậy mà cũng mong có ngày Chứng Ngộ!
      Đạo Phật ra đời cách đây đã mấy ngàn năm. Thời nào cũng có người xuất gia tu hành. Thật có, giả có. Mạnh ai nấy giảng. Chính những người không chịu tìm hiểu ý nghĩa những lời Phật thuyết, cứ Y NGỮ mà hiểu, mà hành, đã đẩy Đạo Phật đi rất xa. Từ Tự Tin, Tự Độ, nương theo hướng dẫn trong Kinh để Tự Giải Thoát trở thành cầu xin Phật Độ cho. Sống thì Cầu An. Chết thì Cầu Siêu. Cầu tai qua nạn khỏi, thăng quan tiến chức, thi đỗ… Nếu cứ “hữu cấu tất ứng” hóa ra Nhân Quả của Đạo Phật chân chính đã trở thành vô nghĩa! Căn bản của Đạo Phật là Tự Độ, vậy mà đến này ta thấy chùa nào cũng nghi ngút khói hương!
      Con đường tu Phật được Đức Thích Ca bỏ ra 49 năm để thuyết. Nhưng vì thời đó không đủ ngôn từ để nói về CÁI TÂM. Bởi nó vô hình, vô tướng, không thể diễn tả. Trong Kinh Lăng Nghiêm, ta thấy Phật phải giảng đến lần thứ 7 thì Ngài Anan mới hiểu ra. Cũng nhờ về sau các Tổ giảng Kinh Đại Thừa, qua giải thích thêm của Các Ngài mà chúng ta mới hiểu rõ thêm về sự liên quan giữa Cái Tâm và mục đích của Đạo Phật.
      Thật vậy. Sở dĩ Đạo Phật xuất hiện ở trần gian là vì thấy con người hàng ngày phải đối đầu với Phiền Não, với Sinh, Lão Bệnh Tử. Vì thế, mục đích của Đạo Phật nhằm đào tạo, trang bị cho con người khả năng miễn nhiễm với Phiền Não để tiếp tục sống chung với nó. Mọi dính mắc, khổ đau, phiền não là do CÁI TÂM. Chỉ cần THẤY NÓ, rồi SỬA, hay gọi cách khác là ĐIỀU PHỤC, hoặc CHUYỂN HÓA nó, để nó không còn CHẤP vào các TƯỚNG HỮU VI thì sẽ được GIẢI THOÁT. Đó là lý do vì sao Đạo Phật dùng HOA SEN làm biểu tượng, là vì dù được sinh ra và lớn lên từ Bùn, nhưng không bị Bùn làm cho ô trược, nói lên sự “THOÁT TỤC NGAY CHÍNH NƠI TRẦN TỤC”. “THOÁT PHIỀN NÃO NGAY CHÍNH TRONG PHIỀN NÃO”. Nếu Hoa Sen được trồng trong chậu nước tinh khiết. thì làm sao nói lên được tính cách của nó là “không nhiễm mùi bùn”? Như vậy, nếu Đạo Phật không được lưu hành tại cảnh đời ô trược, mà người tu bắt buộc phải đóng khung, xây tường che chắn, biệt lập, để Phiền Não không động tới được thì HOA SEN còn có ý nghĩa gì nữa! Phải chăng vì thế mà Lục Tổ có Kệ: “Phật Pháp tại thế gian. Bất ly thế gian giác. Ly thế mịch Bồ Đề. Cáp như cầm thố giác”. Có nghĩa là Phật Pháp ở tại thế gian. Không rời xa thế gian mà giác ngộ. Rời thế gian mà tìm Giải Thoát thì cũng giống như đi tìm sừng thỏ”.
      Mỗi đời Tổ đều nối tiếp nhau để khai triển lời Đức Thích Ca đã giảng day, vì các Ngài có nhiệm vụ thực hiện Di Ngôn của Đức Thích Ca, đời đời nối truyền Chánh Pháp, để phá mê, Giải Khổ cho chúng sinh. Từ những Pháp Phật giảng ngày xưa, do không đủ ngôn từ để diễn tả, nên được cho là “xa kín nhiệm sâu”. Đến đời các Tổ, qua các Kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN, DIỆU PHÁP LIÊN HOA, VIÊN GIÁC, LĂNG NGHIÊM, DUY MA CẬT vv… người tu học sẽ được giải thích một cách rõ ràng, để không bị hiểu lầm mà rơi vào thần quyền, mê tín. Chỉ lo Tự Độ, Tự Tu, Tự Giải Thoát.
      TU PHẬT là để THÀNH PHẬT. Thành Phật là để được Giải Thoát. Giải Thoát đó như thế nào? Tu ở đâu? Công phu ra sao? Thế nào là Thấy TÁNH. Làm sao Thấy được Bổn Thể Tâm. TRÍ BÁT NHÃ là gì? Kể cả những thắc mắc: Có cần bỏ hết mọi thứ để vô Chùa, cạo tóc, đắp y, chay lạt… mới tu hành được? Phước Đức, Công Đức, Chúng Sinh là gì? Tây Phương, Đông Phương ở đâu? Làm sao đến đó?... Tất cả đều được Lục Tổ giảng giải trong Pháp Bảo Đàn Kinh đem lại cho chúng ta một sự hiểu biết một cách rõ ràng đúng theo tinh thần của Đạo Phật chân chính, không hề mâu thuẫn với mục đích của Đạo Phật do Đức Thích Ca giảng dạy.
      Người chê Kinh Đại Thừa không do chính bản thân mình kiểm chứng, đánh giá mà chỉ vì nghe lời người không hiểu gì về việc Truyền Y Bát tuyên truyền, rồi nghe theo đó mà phỉ báng, khích bác, để rồi chính mình khi hành trì các pháp cũng không biết sẽ về đâu, quả là một sự thiệt thòi. Vì vậy, sao chúng ta không thử đọc qua Kinh Đại Thừa một lần xem những lời chỉ trích, chê bai đó thực, hư như thế nào? Để rộng đường dư luận, b ắt đầu từ tập này, tôi xin trích lại những lời giản dạy của Lục Tổ, thêm vào đó là nhận xét của riêng tôi, qua quá trình tìm hiểu, đối chiếu với khá nhiều quyển Kinh Đại Thừa khác, để chúng ta có dịp tự mình đánh giá lại sai, đúng. Phần chính Kinh vì quá dài nên tôi rút bớt lại, chỉ giữ những ý chính. Mong rằng có thể khơi lại giòng Chánh Pháp đã bị chôn vùi từ nhiều đời, và để chúng ta có dịp so sánh những điều mình đang hiểu, đang hành xem có phù hợp với những gì do chính Đức Lục Tổ giảng dạy hay không để kịp thời chấn chỉnh.

      Trân trọng.

      Tâm Nguyện

CÁCH ĐỌC KINH PHẬT


Trước khi lược giải Kinh, xin nói qua về cách đọc Kinh như sau:

Theo tôi, có hai cách đọc Kinh:

Thứ nhất là đọc một cách khách quan, như người đọc tiểu thuyết hay đọc truyện kiếm hiệp. Cũng hiểu nội dung. Cũng nắm được diễn tiến theo lời Kinh mô tả. Nhưng người đọc chỉ là người đánh giá cao, thấp, đúng, sai, hay, dở, đối với những nhân vật trong truyện... Nhân vật trong đó dù có đánh nhau long trời lở đất, hay đưa nhau lên ngai vàng thì cũng chẳng ảnh hưởng gì đến người đọc. Thí dụ đọc Pháp Bảo Đàn Kinh, ai cũng thấy Bài Kệ của Ngài Huệ Năng cao hơn của Sư Thần Tú. Thấy những người hỏi pháp và những lời giải thích của Lục Tổ. Nhưng đó là việc của những nhân vật trong Kinh. Người đọc sẽ dừng ở chỗ kiến thức về Đạo cũng được mở mang đôi chút nhờ lời giải thích của Tổ. Nhưng điều đó chỉ mới như người đọc được toa thuốc. Dù thấy đầy đủ các tên thuốc trong toa, nhưng chưa trực tiếp uống, nên bệnh chưa thể thuyên giảm.

Cách thứ hai, dành cho những người muốn tìm hiểu và thực hành theo, đúng như ý nghĩa VĂN-TƯ-TU mà Đạo Phật nhắc nhở. Đọc Kinh tức là nghe những bài giảng được ghi chép lại là VĂN. Trong đó có biết bao nhiêu vấn đề mà người muốn tu hành cần phải hiểu rõ, nắm vững. Đó là nghĩa của TƯ. Sau khi tư duy, tìm hiểu rõ ràng, chấp nhận rồi thì thực hành theo, tức là TU. Nhưng những người vào nhóm này cũng chia thành 2 khuynh hướng:

Khuynh hướng thứ nhất là đi tìm những pháp chứng đắc để hành trì. Hy vọng sẽ đi đường tắt, thành công mau nhất. Những người này rất dễ rơi vào hoang tưởng, vì đôi khi rơi vào bẫy của văn tự, chấp lầm những Cảnh Giới, Quả vị nhầm “khuyến tu” của Đức Thích Ca.

Khuynh hướng thứ hai là thận trọng tìm xem ý nghĩa, mục đích cụ thể của con đường tu hành. Những pháp mà Đạo Phật đặt ra, khuyên người tu nên làm gồm những gì? Hành trì theo đó thì được gì? Có xứng đáng công sức bỏ ra hay không? Bởi đôi khi điều ta mong muốn không phù hợp với điều mà Đạo Phật hứa hẹn thì tu làm gì cho phí uổng công sức? Con đường này thì mất nhiều thì giờ để tìm hiểu. Nhưng một khi đã xác định được mục đích và hiểu rõ phương tiện thì người đó sẽ không bị nản lòng, thối chí. Họ chỉ làm theo những gì họ biết một cách chắc chắn, sau khi đã cẩn thận dò tìm, đối chiếu. Do đó, khi đúc kết lại thì thấy cuối cùng Đạo Phật dạy về Nhân Quả thì những người này không còn mê tín, thần quyền. Cũng nhờ hiểu rõ Phương Tiện của Phật, họ Biết rõ thế nào là Chứng Đắc. Biết Chứng Đắc để được gì, nên họ chỉ tự điều phục và Tự Độ chính mình. Nhờ đó không bị rơi vào ngã mạn.

Có rất nhiều vấn đề được đặt ra trong Kinh nếu chúng ta không hiểu thì không thể mang ra thực hành được. Mà nếu không thực hành được thì việc đọc Kinh không ích lợi gì nhiều cho người đọc. Thí dụ có một đoạn Kinh, Ngũ Tổ bảo môn nhân “Các ngươi hãy lui về, mỗi người xem Trí Huệ của mình, lấy Tánh Bát Nhã của Bổn Tâm mình mà làm một bài Kệ”. Nếu là người muốn tìm kỹ càng đương nhiên phải thắc mắc: Thế nào là Trí Huệ? Tánh Bát Nhã là gì? Ở đâu ra? Tại sao phải dùng Tánh Bát Nhã để làm Kệ mới được?

Tất nhiên để hiểu được những chữ đó đòi hỏi một quá trình tìm tòi, học hỏi, rồi đối chiếu với Kinh khác để kiểm chứng lại cái hiểu của mình xem có phù hợp với lời Kinh dạy gọi là “Khế Kinh” hay không. Khi đã hiểu được thì ta cũng có thể áp dụng cho chính bản thân, hay ít ra cũng hiểu được phần nào vấn đề của việc tu tập, rồi lý đương nhiên, ai thấy tốt mà không làm theo? Do đó, TIN, HIỂU, HÀNH là căn bản không thể thiếu cho ai muốn tiến xa hơn trên con đường tu Phật.

Xin nói qua về Trí Huệ và cách tìm.

Trí Huệ là cái trí hiểu biết về Con Đường Giải Thoát, để phân biệt với Trí Thức là những hiểu biết thuộc về thế gian. Để có cái Trí Huệ, hay còn gọi là Trí Bát Nhã, Đạo Phật có Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh để hướng dẫn.

Ngay câu đầu Kinh ta thấy Kinh viết: “Quán tự tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách”. Tức là người hành giả hành sâu vào Trí Huệ để qua bờ bên kia, soi thấy Ngũ uẩn là Không, sẽ độ hết khổ ách.

Ai cũng hiểu mục đích của Đạo Phật là ĐỘ KHỔ. Theo Đức Thích Ca, con người sở dĩ KHỔ là vì VÔ MINH nên CHẤP LẦM. Cái Thân giả tạm mà ta đang mang, chỉ là Cái thân ứng hiện để trả Nghiệp Quả ta đã gây tạo. Không phải là TA. Vậy mà mọi người cứ cho đó là Ta để rồi theo sự điều động của Mắt, tai, Mũi, Lưỡi, THÂN, Ý, tiếp tục gây Nghiệp. Nghiệp lại tạo ra cái Thân khác, cho nên phải triền miên hết Tử, lại Sinh... Cái vòng lẩn quẩn đó sẽ không bao giờ kết thúc cho đến khi mỗi người tự dùng dao trí Huệ để cắt đi. Do vậy, TRÍ HUỆ là cái Biết Sáng suốt, hiểu rõ về KHỔ và cách thức để THOÁT KHỔ.

Theo cách gọi của Đạo Phật. Những người không tu hành Giải Thoát được là ở Bờ Bên Này. BỜ BÊN NÀY là nói về những suy, nghĩ, hành động hoàn toàn lệ thuộc vào THÂN và TÂM. Muốn qua Bờ Bên Kia thì phải xem xét về hai món đó. Kinh LĂNG NGHIÊM dạy: “Giải Thoát hay triền phược đồng do Sáu Căn. Chứng Thánh hay đọa phàm cũng bởi Sáu Căn chớ không có con đường nào khác”.

SÁU CĂN đó tức là Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân và Ý thuộc v ề CÁI THÂN. Cái TÂM mà Đạo Phật đề câp đến, đó là những ý thức, suy nghĩ xuất phát từ cái Thân. Quan sát cả hai để thấy rằng hiện tại dù Thân đang tới lui, Tâm đang lao xao theo Nghe, Nhìn mà nghĩ tưởng mọi thứ. Nhưng một thời gian, dài hay ngắn nào đó rồi cái Thân cũng sẽ hết kiếp, hoàn trả lại cho Tứ Đại những gì nó đã vay mượn. Cuối cùng nó cũng sẽ về Không. Như vậy dù nó hiện đang Có, nhưng cũng chẳng khác với Không. Do đó mà Kinh viết: “Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc” Nhưng không phải chỉ cần thấy như thế mà đã hết Khổ. Hành giả sau khi chấp nhận cái Lý như thế là đúng thì phải áp dụng cái lý mình đã thấy đó vào cuộc sống, để cởi trói dần dần những sự ràng buộc với cái Thân và Tâm. Cuối cùng người hành như vậy sẽ được giải thoát, hết Khổ.

“Trực chỉ Chân Tâm. Kiến Tánh Thành Phật”. Đó là con đường ĐỐN GIÁO, khác với những người do không nắm được con đường tu hành, tự cho mình là căn cơ thấp, cứ theo Tiệm Giáo mà tu, rồi cả đời ăn chay, tụng Kinh, Niệm Phật. Ngồi Thiền cho thật nhiều giờ, nhiều năm tháng. Giữ Giới thật kiên cố... mà không biết sẽ về đâu!

Phạm vi bài này tôi xin nhấn mạnh một sổ điểm cần hiểu và nêu ra một số cách thức người tu học nên thực hành. Dù vậy, đó cũng chỉ là những gợi ý, vì dù có nói rõ thế nào đi nữa thì người đọc cũng không thể qua đó mà hiểu về đạo, khỏi cần giữ Giới, Quán Sát, Tư Duy, hành những Phẩm Trợ Đạo được. Phật dạy mỗi người cần tự tư duy, quán sát để tự hiểu lấy, gọi là “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”. Đuốc đây là Trí Huệ vậy.



... CÒN TIẾP ...




Quay Lên Đầu Trang