Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




VĂN HỌC NAM HÀ

文 學 南 河





Kỳ Thứ 4.

Người Quyết Tâm Phục Vụ Chế Độ Nam Hà:
Đào Duy Từ



Sanh năm 1572, Đào Duy Từ, người làng Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn (nay là phủ Tĩnh Gia) Thanh Hóa. Cha là Đào Tá Hán, nguyên làm quản giáp đoàn hát triều đình, sau lên chức Linh Quan coi đội nữ nhạc thời Lê Anh Tông1 , vì vậy trong cuộc thi hương năm 15922 do Trịnh Tùng tổ chức, ông bị coi như thuộc dòng hạ tiện không được dự thí.

Thấy mình có tài, lại bị khinh rẻ, không đường tiến thân, Đào Duy Từ quyết vào Nam phụng sự Chúa Nguyễn ở Nam Hà 3.

Sau một thời gian lận đận, năm 1627 ông được tiến cử lên Sãi Vương (Nguyễn Phúc Nguyên, 1613 - 1735) và được chúa biết tài nên rất tin dùng. Lúc nầy ông đã 55 tuổi. Đào Duy Từ giúp Sãi Vương rất nhiều việc: giữ gìn bờ cõi chống lại xâm lấn của quân họ Trịnh (xây lũy Trường Dục và lũy Nhật Lệ; cải tiến quân đội, thu dụng nhân tài) cải cách phong tục: thay đổi y phục, sửa sang những lễ nghi có hát xướng4. Chúa Sãi rất thương ông, phong dần đến chức Quân Cơ Tham Lý Quốc Chính, tước Lộc Khê Hầu và thường nói “Duy Từ là Tử Phòng, Khổng Minh ngày nay”5.

Năm 1634, Đào Duy Từ bị bệnh mất, để lại các tác phẩm:.

- Hổ tướng xu cơ tập (luận về binh pháp)

- Ngọa Long Cương ngâm

- Tư Dung vãn6

Qua tiểu sử, ta thấy ngay Đào Duy Từ bất mãn với chế độ Đàng Ngoài và mong mỏi phụng sự Nam Hà, do đó tác phẩm của ông bao hàm tư tưởng của một người quyết đem tài mình làm nổi bật giang sơn Miền Nam so với đất Bắc.

Con người Đào Duy Từ qua thơ văn sẽ là con người bộc lộ tâm sự mình và nói lên ý thức hệ của người Nho sĩ quyết tâm phục vụ chế độ mình đã chọn.

Cả hai tác phẩm quan trọng của Đào Duy Từ đều viết theo thể lục bát trường thiên. Ngọa Long Cương ngâm dài 136 câu đi luôn một mạch, Tư Dung vãn, dài 336 câu, thỉnh thoảng có xen lẫn những bài ca, những khúc ngâm, hoặc bài thơ Đường Luật tùy theo tư tưởng đòi hỏi tính chất phóng khoáng, hào vật hay nghiêm chỉnh.

Nhìn chung Ngọa Long Cương xuất hiện lúc tác giả còn lâm vào cảnh rồng nằm đợi thời, chưa được Chúa biết tài, trong khi đó Tư Dung vãn được sáng tác lúc danh ước đã đạt nên phản chiếu tình hình xã hội Nam Hà cũng như có rất nhiều câu ca tụng các Chúa Nguyễn7.

a. Đào Duy Từ, người quyết tâm phụng sự chế độ để giúp đời .

Là người có kinh nghiệm về sự thối nát, về tinh thần nhỏ hẹp, nông cạn của chức dịch Bắc - Hà, Đào Duy Từ hơn ai hết quyết tâm chính tay mình nâng đỡ chế độ Nam Hà để những người đi sau, những kẻ chẳng may như mình không còn gặp cảnh khổ lụy

Nhưng không phải vì sự cương quyết đó ông nôn nóng, xôn xao, trái lại ông biết giữ khí tiết ẩn nhẫn, chờ thời chỉ xuất hiện khi đúng dịp. Trường hợp Khổng Minh là một gương sáng, một ví dụ điển hình:

“Nhân tài tuy khắp nơi dùng

Đua trên đường lợi, áng công vội giành

Nào ai lấy đạo giữ mình

Kẻ đua tới Ngụy người giành về Ngô

Nam Dương có sĩ ẩn nho.

Khổng Minh là chữ, trượng phu khác loài.”

(Ngọa Long Cương Ngâm)

Kinh Dịch nói đến khuất, trập, bĩ, thái, Đào Duy Từ hiểu điều đó, con người lúc chưa gặp thời thu nhỏ mình lại, sống trong cảnh chòi tranh, lều rội, vách lá, nhưng phải coi lúc nầy như luyện tập thêm tài năng, kiến thức, lúc hưởng thú thanh nhàn, di dưỡng tánh tình, những điều nầy bộc lộ trong Ngọa Long Cương bài vãn diễn tả Khổng Minh, nhưng thật sự tác giả nói về mình:

“Có phen xem trận Thiên Tào

Kìa ngôi khanh tướng, nọ sao quân thần

Có phen bình pháp diễn trần

Điểu xà là trận, phong vân ấy đồ

Có phen thơ túi rượu hồ

Thanh y sớm chuốc, hề nô cạn bồi.”

(Ngọa Long Cương Ngâm)

Ông cho rằng có tài sẽ được người đời biết đến, đặc biệt ở đây là Chúa Nguyễn, trong khi chờ đợi ông không oán trời trách đất, cũng không nôn nao danh lợi, ông kiên nhẫn chờ. Để an ủi mình, Đào Duy Từ nhắc đến những trường hợp người tài đức được nhà vua biết tài rất chậm - nhưng cuối cùng vẫn có dịp trổ tài giúp nước, hiện tại ông cũng như các trường hợp Y - Doãn, Lã Vọng:

“Lợi danh nào chút nhúng tay

Chẳng hiềm tạo vật, không say thế tình

Tựa song hé bức mành mành,

Gẫm chưng đời trước công danh mấy người.

Doãn chưa đặng lễ Thang vời,

Cày kia chưa dễ bỏ nơi nội Sằn,

Lã dù chưa gặp xe Văn

Câu kia chưa dễ gác cần Bàn Khê,

Ngẫm xem thánh nọ hiền kia.

Tài nầy nào có khác gì tài xưa?”

(Ngọa Long Cương Ngâm)

Trong thời gian chưa được thi thố tài năng đó, ông vui thú cảnh thiên nhiên, ca phong, vịnh nguyệt hay vui với công việc cày cuốc:

“Khúc cầm cổ cẩm cung xoang

Ca ngâm Lương Phủ đạo càng hứng mau.

Của kho vô tận xiết đâu

Thú vui thuở thế ai dầu mặc ai

Thanh nhàn, dưỡng tánh hôm mai

Ghềnh trong cuốc nguyệt, bãi ngoài cày mây”

(Ngọa Long Cương Ngâm)

Vui cảnh nhàn sinh hoạt bằng lao động chỉ là giai đoạn chuẩn bị để giúp đời, do đó ông mong mỏi một vị Chúa hay, một chân Chúa, biết đến người hiền để ông thỏa chí mình, để thực hiện câu “minh quân lương tể tao phùng”. Được như vậy ông sẽ có dịp thi thố tài năng, đem sở trường ra giúp nước, nhờ đó nước nhà mới mong thanh bình:

“Chốn nầy thiên hạ đời dùng,

Ắt là cũng có Ngọa Long ra đời.

Chúa hay dùng đặng tôi tài

Mừng xem bốn bể dưới trời đều yên.”

(Ngọa Long Cương Ngâm)

Khi giúp nước trổ tài, không phải ông phục vụ dưới trướng bất cứ một người có quyền thế nào, ông chỉ đem thân nương dựa người mà toàn dân hướng về, người đó phải thuộc dòng chính thống.

Thực tế Đào Duy Từ đã phục vụ Chúa Nguyễn, dưới mắt ông, Chúa Nguyễn ở Nam Hà đáp ứng được điều kiện đó. Có lẽ ông nghĩ họ Nguyễn dù sau cũng thuộc dòng Nguyễn Kim, người có công gây dựng lại nhà Lê và họ Nguyễn về sau đã hành động như hạng chính nhân quân tử, một người vẫn còn đối xử phải đạo với nhà Lê, trong khi họ Trịnh ở phương Bắc không đủ những điều kiện đó:

“Khăng khăng một tiết thảo ngay,

Tôn phù chính thống sánh tày nhật tinh”.

(Ngọa Long Cương Ngâm)

Tóm lại, Đào Duy Từ coi thời gian chờ thời như dịp cần thiết để tạo tài năng. Chấp nhận chờ thời để tìm chân Chúa, hầu sau nầy trổ tài ích nước lợi dân. Lúc được trọng dụng ông phải được toàn quyền hành sự và sẽ thành công:

“Sửa sang nghiêm chỉnh chân doanh.

Tôi loàn con giặc chạy tênh bời bời”

(Ngọa Long Cương Ngâm)

b. Đào Duy Từ ca tụng phong cảnh miền Nam để nói lên ý thức hệ của Nho sĩ Nam Hà.

Nếu trong “Ngọa Long Cương Ngâm” tác giả, qua một nhân vật lịch sử của Trung Hoa, nói lên ý chí muốn tôn thờ chính thống, muốn giúp đời, thì ở “Tư Dung Vãn”, tác giả, qua phong cảnh một cửa bể8, nói lên ý thức hệ của những người sống ở Đàng Trong.

Ý thức hệ nầy chủ điểm ở chỗ:

- Ca tụng người lãnh đạo Nam Hà,

- Khen ngợi phong cảnh miền Nam,

- Chê trách bọn người vô trách nhiệm.

1. Ca tụng người lãnh đạo miền Nam như những vị vua hiền đức, tài năng của Trung Quốc cổ thời, đã dùng tài đức đem lại cảnh thái bình, thạnh trị cho quốc gia:

“Đường Ngu lấy đức trị dân,

Súng trời buông lửa, sóng thần nép oai.

Đặt an nệm chiếu trong ngoài,

Cánh chim hồng nhạn phới bay vui vầy”.

(Tư Dung vãn)

Nhân dân no ấm, người cầm quyền không có điều gì bận tâm:

“Tử vi rạng tỏ trước rèm

Trong mừng thánh Chúa dũ xiêm trị lành”.

(Tư Dung vãn)

Ca tụng chế độ mà ông đang phục vụ như một chế độ vững bền, nước nhà - vùng đất đang có bàn tay kiến thiết của ông - ở trong cảnh thạnh trị, yên ổn, vui vẻ:

“Cõi Nam từ định phong cương,

Thành đồng chống vững, âu vàng đặt an.

..................................................................

Đặt an nệm chiếu trong ngoài

Cánh chim hồng nhạn phới bay vui vầy”

(Tư Dung vãn)

2. Ca tụng phong cảnh, đất đai chỗ ông góp mặt như một vùng đất linh thiêng, hiểm trở, nơi xuất hiện nhân tài, nơi đào tạo những người giúp ích cho quê hương, cho nhân dân:

“Động Đình ấy nước, Thái Hàng kìa non.

Cuộc thiên hiểm nữa Kiếm Môn

Chốn tranh vương bá, dòng tuôn công hầu,

Vần xoay hùm núp rồng chầu,

Quanh dòng nước biếc, giỡn màu trời xanh”.

(Tư Dung vãn)

Sự ca tụng cảnh đẹp của thiên nhiên thể hiện đến cao độ khi Đào Duy Từ đề cao luôn những người ở trong cảnh đó, những phong cảnh như gấm hoa với người tài tử giai nhân:

“Bút Vương Duy khéo vẽ đồ,

Mây xuân dường gấm, nước thu tợ ngần.

Người thanh tân, cảnh thanh tân,

Ngàn lau quyến nhạn, bãi tần sa le”

(Tư Dung vãn)

3. Ngoài những lời tán tụng, Đào Duy Từ còn qua bài vãn Tư Dung chê trách, lời chê trách của ông đánh mạnh vào hạng người tu niệm, hạng người nương của chùa để làm những điều ô uế, hư hỏng, miệng nói tu nhân lòng đầy trần tục, gian ác:

“Kìa ai thói tục chẳng răn,

Tiềm tâm Đạo Chích, ẩn thân Di Đà.

Rừng thiền lẫn dấu vào ra,

Cắp trăng vườn hạnh, trộm hoa cửa đào.

Nam mô hai chữ bán rao

Lòng gương soi tỏ lưỡi dao sáng ngời”.

(Tư Dung vãn)

Bọn tu “giả cầy giả cáo nầy” tuy nói mình thoát khỏi thế tục, bỏ ngoại giới, không ăn ngon mặc đẹp, nhưng thật ra cái “Ngã” của mình còn đầy, đã mắc vào tội “tham” khi thích cao lương mỹ vị:

“Đã rằng dưa muối bả bô,

Lạp bình tương thủy những đồ cao lương”.

(Tư Dung vãn)

Không chỉ vạch ra sự hư hỏng trong lối tu của những người nầy thôi, Đào Duy Từ còn đánh họ trên căn bản của việc tu. Theo ông, việc tu hành vốn là một hành vi vô ích bởi vì người tu đã tự tách mình ra khỏi cuộc đời, ra khỏi quốc gia trong thời đại nầy - thời Đào Duy Từ - rất cần những người nhập thế:

“Đã rằng chống giữ Kim Cương,

Nào gươm cắt muộn, nào gương soi tà.

Nào phường ngay Chúa thảo cha,

Nào phường lợi nước lợi nhà xá toan”.

(Tư Dung vãn)

Kết luận cho tác phẩm Tư Dung Vãn, Đào Duy Từ nhắc đến một cách không rõ ràng nhưng cũng khiến người đọc hiểu được phần nào tư tưởng của ông: Ai muốn vui thú ở ẩn, ai muốn thực hiện cảnh nhàn bằng ngư tiều canh mục cũng được, nhưng phải theo đúng tiêu chuẩn, ở ẩn tấm thân, hình hài nhưng lòng, tâm trí phải hướng về cảnh thế với hoài bão giúp đời:

“Thiên Thai người khéo lang đang

Dạ lăm cắp núi, chí toan vá trời”.

(Tư Dung vãn)

***

Tư tưởng của Đào Duy Từ mở đường cho người đi sau - một Nguyễn Cư Trinh sau nầy theo đúng truyền thống đó nhất - mở đường bằng cách trình bày ý chí giúp đời, biểu lộ quyết tâm phục vụ chế độ, chê trách những người ở ẩn, tu niệm, lánh thế.

Tư tưởng dấn thân thời loạn lạc - thời có những cuộc tranh bá đồ vương, những trận tương tàn vì quyền lợi - rất hợp, nhưng nhìn chung có đặc biệt hay không, có đúng hay không, đó là vấn đề khác.

Tuy nhiên đặt vào thời đại, Đào Duy Từ quả là con người xứng đáng đại biểu cho lớp nho sĩ hành động, quyết tâm phục vụ chế độ ở Nam Hà.

Phụ lục I

NGỌA LONG CƯƠNG NGÂM. 9

1. Cửa xe chầu chực ban trưa.

Thấy thiên võ cử đời xưa luận rằng:

Thế tuy loạn, trị ; đạo hằng.

Biết thời sự ấy ở chưng sĩ hiền.

5. Hán từ tộ rắn 10 ngửa nghiêng.

Ba phân chân vạc, bốn phương anh hùng.

Nhân tài tuy khắp đời dùng,

Sánh xem trường lợi, áng công vội giành.

Nào ai lấy đạo giữ mình.

10. Kẻ đua tới Ngụy, người giành sang Ngô.

Nam Dương có sĩ ẩn nho,

Khổng - Minh là chữ, trượng phu khác loài.

Ở mình giành vẹn năm tài

Phúc ta gẫm ắt ý trời hậu vay

15. Điềm lành thụy lạ 11 đã hay,

Đời này sanh có tài này ắt nên.

Bèn xem be bé một hiên,

Nhà tranh liều dội, tánh quen bơ sờ.

Ba gian phong nguyệt hứng thừa,

20. Bốn mùa đều có xuân ưa bốn mùa.

Nước non khéo vẽ nên đồ:

Thấp cao phượng nhiễu, quanh co rồng nằm.

Vững bền chủ khách chiêu đăm 12,

Minh đường rộng mở thiên tâm thẳng bằng.

25. Tri âm những đấng khác hằng 13,

Kết thung bậu bạn, mây trăng láng giềng.

Đất lành câu khí linh thiêng,

Một bầu thế giới thấy nên hữu tình.

Lâm truyền trong có thị thành,

30. Phong trần vẫn ít, cảnh thanh thêm nhiều.

Thú vui bốn thú thêm yêu,

Kìa ngư, nọ mục, ấy tiều, nầy canh.

Hạc già đứng cửa nghe kinh,

Trái dâng màu thắm, thức xanh vượn quỳ.

35. Góc sân 14 trúc uốn vo ve,

Ngõ đua hạnh tía, hiên khoe cúc vàng.

Khúc cầm cổ cẩm cung xoang,

Ca ngâm lương phủ đạo càng hứng mau.

Của kho vô tận xiết đâu,

40. Thú vui ta thú, ai dầu mặc ai.

Thanh nhàn 15 dưỡng tánh hôm mai,

Gềnh trong cuốc nguyệt, khóm ngoài cày mây.

Lợi danh nào chút móng tay,

Chẳng hiềm thế vật, trao tay thế tình.

45. Dựa song hé bức mành mành,

Gẫm chưng đời trước công danh mấy người.

Doãn chưa đặng lễ Thang vời,

Cày kia chưa dễ buông nơi nội Sằn

50. Lữ dầu chưa gặp xe Văn,

Câu kia chưa dễ gác 16 cần Bàn Khê.

Gẫm xem thánh nọ hiền kia,

Tài nầy nào có khác gì tài xưa.

Nẻo mầu máy nhiệm binh cơ,

55. Lục thao đã đọc, thất thư lại bàn.

Nương long làu biết thế gian 17,

Máy linh trời đất tuần hoàn tay thông,

Thảo lai 18 trong có anh hùng,

Miếu đường chống vững thấy còn tài cao.

60. Có phen xem tượng thiên tào,

Kìa ngôi khanh tướng, nọ sao quân thần.

Có phen binh pháp thảo luân 19,

Điểu xà là trận, phong vân ấy đồ.

Có phen thơ túi rượu hồ,

65. Thanh y sớm chuốc, hề nô cạn bồi.

Dõi trong danh giáo có vui,

Bàng nhân chẳng biết rằng người ẩn tiên.

Hùm ngâm gió thổi tự nhiên,

Chúa tôi sao khéo hợp duyên thay là.

70. Ngạc thư mở 20 phút tâu qua,

Xe loan tạm khuất 21 hai ba phen vời.

Dốc lòng phò chúa giúp đời,

Xoay tay thủ đoạn, ra tài đống lương.

Cá mừng gặp nước Nam Dương,

75. Rồng bay Thiên 22 Hán vội vàng làm mưa

Chín lần lễ đãi quân sư,

Phấn vua lấy 23 bén móc mưa gội nhuần.

Hai tình gánh nặng quân thần 24,

Chín phần ở thảo, mười phần trọn ngay.

80. Binh quyền việc những đương tay,

Lâm cơ thể 25 thắng, một này địch muôn.

Trận bày Bác Vọng thiêu đồn,

Bạch Hà dụng thủy 26 Hầu Đôn chạy dài

Bốn cờ biết mấy sức trai

85. Có tài thiệt chiến, có tài tâm công

Dạ nghiêm thuyền dựa vịnh sông,

Mười muôn tên 27 Ngụy nộp cùng 28 Chu Lang.

Hỏa công dâng chước ra hoang,

Gió ngàn Xích Bích thổi tàn Ngụy binh

90. Hoa Dung khiển tướng phân dinh,

Gian hùng sớm đã nớp mình 29 vỡ gan.

Thần cơ bí kế chước toan,

Kinh Châu trước hẹn giục thuyền rước mau.

Hòa thân đôi chước 30 dấu theo,

95. Tiên sinh chước ấy Ngô hầu kế sa.

Chước dùng bảy bắt bảy tha,

Oai trời nhường ấy giặc đà chạy tênh.

Có phen chàng đặng ra binh,

Tiết bền vàng đá, nhật tinh hay lòng.

100. Éo le Thiên Thủy chước dùng,

Khương Duy khi đã kế cùng bó tay.

Thần tiên máy phát xa bày,

Tào binh lá rụng, tro bay bạt ngàn.

Lên thành làm chước gảy đàn,

105. Sa cơ, Trọng Đạt nớp gan kinh hồn.

Nỏ trời phục cửa Kiếm Môn,

Mã Lăng mất vía Quyên Tôn khác gì.

Chước nào chước chẳng ngoan ngùy31,

Chốn thì lưu mã, chốn thì mộc ngưu.

110. Chặt bền đánh đặng công nhiều,

Hoa di tống 32 dậy, dã triều đà hay.

Khăng khăng một tiết thảo ngay.

Tôn 33 phù chính thống sáng tày nhật tinh.

Sửa sang nghiêm cẩn phân doanh,

115. Tôi loàn con giặc chạy tênh tơi bời

Hán gia chín vạc phù trì,

Suy thôi lại thịnh, nguy thì lại an.

Công lênh kể ở nhà quan,

Cậy bằng thạch trụ Thái Sơn nầy là.

220. Non xanh, nước biếc chẳng già,

Trai mà nhường ấy đích là nên trai.

So xem đời lẽ đâu hai,

Tài này ai chẳng rằng tài quân sư.

Luận đời Tam quốc hữu dư

Luận đời Tam Đại còn chờ nhẫn sau.

225. Hai triều từ gót nhẫn đầu,

Bái tướng phong hầu ai dễ dám phen 34.

Muôn đời nhân vật kính khen,

Để danh trúc bạch, chép tên kỳ thường.

Phúc trời còn tộ long cương,

130. Ắt là Hán thất khôn lường thịnh suy.

Hưng vong bĩ thái sự thì,

Chớ đem thành bại mà chê anh hùng.

Chốn nầy thiên hạ đời dùng,

Ắt là cũng có Ngọa Long ra đời.

135. Chúa hay dùng đặng tôi tài,

Mừng xem bốn bể dưới trời đều yên.

(NVS, phiên trích trong Việt - Nam Phong Sử 越南風史của Nguyễn Văn Mại)

Phụ Lục II

Tư Dung Vãn

1. Cõi Nam từ định phong cương,

Thành đồng chống vững âu vàng đặt an

Trải xem mấy chốn hồ san,

Hoa tươi cỏ tốt đòi ngàn gấm phong.

5. Khéo ưa thay cảnh Tư Dung

Cửa thâu bốn bể, nước thông trăm ngòi.

Trên thời tinh tú phân ngôi,

Đêm treo thỏ bạc, ngày soi ác vàng

Dưới thời sơn thủy khác thường,

10. Động - Đình ấy nước, Thái - Hàng kìa non.

Cuộc thiên hiểm nữa 35 Kiếm - Môn

Chốn tranh vương bá, dòng tuông công hầu.

Vần xoay hùm núp rồng chầu,

Quanh dòng nước biếc, giỡn màu trời xanh,

15. Đoái dòng thương hải rộng thênh,

Bâng khuâng sẽ nhớ đức lành Tiên quân.

Đường Ngu lấy đức trị dân,

Súng trời buông lửa, sóng thần nép oai.

Đặt an nệm chiếu trong ngoài,

20. Cánh chim hồng nhạn phới bay vui vầy.

Sực nhìn đáy nước in mây,

Trăng kia rọi sóng, sóng nầy giỡn trăng.

Đuốc hồng thấp thoáng trông chừng,

Đưa thoi nhật nguyệt chơi vừng Đẩu Ngưu.

25. Lần xem ngàn khoảnh ba đào,

Vũng không thấy đục, dòng nào chẳng trong.

Éo le lũ hến đầu đồng,

Sức đâu Tinh Vệ ra công lấp hồ.

Nực cười hai gã ngao cò,

30. Tranh chi nên nỗi đôi co vậy là?

Thú vui thửa thú ngư hà,

Rùa linh đội sách bạng già sanh châu.

Thẳm xanh trăm trượng khôn dò,

Cớ sao khát uống chẳng no một người.

35. Lẽ thường đắp đổi đầy vơi.

Chi Di 36 bao nỡ tếch khơi Ngũ - hồ.

Nhạn đâu văng vẳng kêu thu,

Trương Hàn hứng cảm Thành - đô ra về.

Canh thuần gỏi vược thú quê

40. Nồng phương tiêu sái, lạt bề công danh.

Cảnh màu trời sẵn để dành,

Có doi thả lưới có ghềnh buông câu.

Bên thuyền lác đác giọt châu,

Cầm đâu đã phiếm, ca đâu lại bài.

45. Lạnh lùng lãnh bắc khoảng tây

Châu cày đảnh Sở, Doãn cày nội Thang.

Gió đưa thoảng nực mùi nhang.

Người tiên đất ngọc phong quang ưa nhìn

Có nơi vịnh nguyệt bá thuyền 37,

50. Kinh ngâm thảnh thót, chuông chiền đỉnh đang.

Là nơi từ vũ nghiêm trang,

Trung trinh hai chữ lửa hương muôn đời.

Đông Tây đều khách vãng lai

Rước ai nọ quán, đưa ai nọ đò.

55. Am ta kiệt lập non Vu,

Đêm khuya chuông dóng gọi chùa Bà - Viên

Dập dìu buồm xuống thuyền lên,

Cánh hồng lướt gió, khách tiên nghiêng hồ.

Bên hồ đá ngọc khi khu

60. Cây che tán gấm, ngàn thu điểm đà.

Thú vui mảng những lân la,

Bỗng đâu xao xác tiếng gà dóng canh.

Bích đàm leo lẻo trong xanh,

Kìa vòng Kiệu tẩu (?), họ danh miếu thừ (?)

65. Danh thành tiếng nổi gần xa,

Làm trai dường ấy thiệt đà nên trai.

Mênh mông biển rộng trời dài,

Hải tần còn dấu, Vân đài còn danh.

So le cuối vịnh đầu gành

70. Người nôn bắt ngạc, kẻ giành cắp ngao.

Côn đưa sóng nhảy lao xao,

Vẫy đuôi một phút bay cao chín trời 38.

Xa trông biển rộng vơi vơi,

Thuyền ông phu tử nổi chơi chốn nào.

75. Lánh đời mấy khách ly tao,

Non tiên ngao ngán, nguồn đào sóng khơi.

Buồm ai dàng dạng chân trời

Phất phơi cờ gió, thẳng vời chèo trăng.

Lửa ngư ánh lộn bóng Hằng,

80. Nhắm miền hải đảo tưởng chừng Thiên Thai

Thủy tần chốn ấy nghiêm thay,

Người vui rượu thánh, cá say thơ thần.

Chợ hoa quán nguyệt ngày xuân,

Mặc dầu khách Sở, người Tần nghỉ ngơi.

85. Kìa đâu khói biếc ngời ngời,

Mỗi am một đảnh kẻ nơi bồng hồ.

Bút Vương Duy khéo vẽ đồ

Mây xuân dường gấm, nước thu tợ ngần.

Người thanh tân, cảnh thanh tân,

90. Ngàn lau quyến nhạn, bãi tần sa le.

Mảng còn ngợi cảnh giang khê

Lá ngô phơi nắng, ngọn quỳ dầm sương

Vẳng nghe điêu đẩu 39 tiếng vang

Ló xem thấy một tòa vàng cẩn nghiêm.

95. Tử vi rạng tỏ trước rèm,

Trong mừng thánh chúa dủ xiêm trị lành.

Điềm trình hải án hà thanh,

Khánh vân quanh nhiễu, cảnh tinh sáng lòa.

Đôi nơi tiệc mở ỷ - la,

100. Chốn ngâm bạch tuyết, nơi ca thái bình.

Rợp đường kiệu tía tàn xanh,

Kìa đoàn quân sói, nọ doanh tướng hùm.

Giữa trời rồng dấy mây xum,

Xuân đưa muôn hộc đàm 40 thâm hòa ngàn

105. Cửa sông trông lại bến lan

Giữa dòng núi đá thạch bàn lạ sao!

Kình nghê chống vững đảnh ngao,

Gập ghềnh nanh sấu, dợn sao bọt kình.

Kim ngư đeo ấn ở mình

110. Cá trông cửa Vũ, rồng giành hột châu.

Vườn lên muôn khoảnh mô - hồ

Gấm tuông vẻ biếc, quyến phô nhị đào

Giao long cuồn cuộn chầu vào,

Sánh nơi cửa ngọc khác nào cung tiên.

115. Hồ gương rạng tỏ thuyền quyên,

Đêm thanh có khách nổi thuyền ca chơi

Ca rằng:

“Non xanh xanh, nước xanh xanh,

Có non có nước mới song thanh.

Hồ tiên biển thánh dầu thung thả,

Thuyền ai một lá nổi Động Đình”.

Ca thôi thóc thóc cả cười.

Ghé thuyền bãi tuyết, nhẹ giầy bước lên.

Thần - châu cảnh hảo vô biên,

120. Lãnh mai sơn tẩu (?) hồ liên tây hồ.

Đoái nhìn nọ tháp kia chùa,

Trinh măng (?) một đỉnh cổ cò khá khen

Bửu - đông (?) nên một hồ thiên,

Trăng thiền soi tỏ, rừng thiền rạng thanh.

125. Lạ thay tạo hóa đúc hình,

Đất bằng nổi một đỉnh xanh trước trời.

Xa trông chất ngất am mây,

Mái nam hạc diễu, mái tây rồng chầu.

Kiền khôn riêng quảy một bầu,

130. Ngoài thâu tám cõi, trong thâu ba tài.

Tốt thay cảnh hợp với người,

Đã lầu trông sóng lại đài chơi trăng.

Sóc tuông, cáo nhảy tưng bừng,

Ong say nếm nhị, bướm mừng giỡn hoa.

135. Những khi gió tỏa yên hà.

Mảnh âu mấy chốn Di Đà Tây Thiên.

Những khi Thái ất nhen đèn

Hào quang soi tỏ trên đền Thái la

Những khi bóng ác ban tà,

140. Nhành treo gấm kết, lửa già vàng tương.

Những khi Ngân hán treo gương,

Kim qui hiện vảy, lục dương mở mày

Trách ai lòng khéo thày lay

Khua chuông lầu bắc, dóng chày thành nam.

145. Chốn thanh gợi một danh lam

Ước tay tiêu sái mới cam dựa nhờ,

Linh chi rưới nước Ma Ha

Trân cầm chiu - chít, kỳ hoa lăng tằng

Thiên thê 41 từng vẹn đòi tầng.

150. Bước lên ngửa đã thấy chừng ngọc kinh

Tay tiên chống vững thạch bình

Tam quan trông thấy uy linh động người.

Xưa kia ba chữ tốt tươi.

Rằng chuông hải tự kết vời huyền đô

155. Rõ ràng son điểm phấn tô,

Bên tranh cửu lão, bên đồ bát tiên.

Chuông đâu vừa động mái thiền.

Mây lành kết đóa, trái tiên phơi màu.

Cuộc trời lồng lộng trước sau

160. Từ bi nọ các, tiêu diêu ấy đền.

Kíp thâu thế giới ba nghìn,

Danh sơn có một danh chiền đâu hai.

Rửa thanh bán điểm trần ai,

Nghĩ xem tiên cảnh đã ngoài phàm gian

165. Tỏa vàng bông lục chan chan,

Đan thanh quyết vẽ, trầm đàn cột xoi.

Đòi nơi ngọc trổ châu rơi.

San hô lề đá đồi mồi tường xây

Mưa hoa tưới khắp sân mây.

170. Khói hương nghi ngút rồng bay ngất trời

Nghiêm thay tướng pháp Như lai

Cao giơ tuệ kiếm, sáng ngời thủy tinh.

Thời lành cả mở hội lành,

Reo đưa gió phật, quét thanh bụi tà.

175. Vầy đoàn yến múa oanh ca,

Vượn xanh dâng trái, hạc già nghe kinh.

Phật đình nào khác vương đình,

Ngũ vân tán lớn, cảnh tinh thoại tường

Thiên nga nâng chén quỳnh tương.

180. Tiêu thiều nhạc múa, thái dương khí hoà

Xiêm nghê rạng thức tử hà,

Kim đồng ngọc nữ xướng ca đôi hàng.

Người dâng thánh thọ vô cương,

Bàn đào chánh nhụy (?) thiên hương đầy toà

185. Rừng công cây đức diềm dà,

Trổ chồi y bát, kết hoa bồ đề

Vẳng nghe tiếng mõ đồ lê 42

Ngòi phiền bến não rửa thì sạch không.

Dịch (ước) nên cảnh lạ vô song,

190. Hứng xui tao khách điêu trùng 43 ngợi khen.

Thơ rằng:

Một bầu chi cũng thú yên hà.

Nghi ngút hương bay cửa Thái la

Ngày vắng vang reo chuông bát nhã,

Đêm thanh dóng dỏi kệ Di Đà

Nhặt khoan đờn mối ban mưa tạnh,

Réo rắt ca chùn (chim ?44 ) thuở bóng tà.

Há đạo đâu xa mà nhọc kiếm

Bồ đề kết quả ở lòng ta.

Thơ thôi vẫy gọi thiền tăng

Cảnh nầy thú ấy vui chăng hỡi thầy?

Nghêu ngao tắm suối nằm mây,

Thị phi mặc thế, tháng ngày thung dung.

195. Làu làu gương sáng giá trong.

Vui niềm son đỏ, lánh dòng bạc đen

Người đà nên đứng cao thiền,

Phật dầu chưa hẳn, ắt tiên đã gần.

Kìa ai thói tục chẳng răn

200. Tiềm tâm Đạo Chích, ẩn thân Di Đà

Rừng thiền lẩn dấu vào ra.

Cắp trăng vườn hạnh, trộm hoa cửa đào

Nam mô hai chữ bán rao.

Lòng gương soi tỏ lưỡi dao sáng ngời.

Rằng hay cứu vật độ người

205. Rằng mình chẳng chính, chính ai đó là?

Đã rằng nương dấu Thích ca

Nào thuyền bát nhã vượt qua ái hồ.

Đã rằng dưa muối bả bô 45,

210. Lạp bình tương thủy những đồ cao lương.

Đã rằng chống vững kim cương,

Nào gươm cắt muộn, nào gương soi tà.

Nào phương ngay chúa thảo cha

Nào phương lợi nước lợi nhà xa toan.

215. Nào ai sức trải gian nan,

Chẳng soi chính đạo, dẹp loàn dưới dân.

Sao bằng người ẩn non nhân,

Cây che mắt tục, mới46 ngăn lòng tà.

Dạo chơi thế giới bà sa,

220. Sớm vào cửa thánh, tối ra hang thần.

Ở trần mà chẳng nhiễm trần,

Tả chân bèn ngợi một vần họa xoang

Thơ rằng:

Ai gọi lâm tuyền thú chẳng vui?

Ca chùn đờn suối hảo hòa đôi

Hây ha thu rót bầu huỳnh cúc

Thủng thỉnh xuân trèo lãnh bạch mai

Chống tuyết thông già đeo hổ phách

Lướt sương trúc cứng đượm đồi mồi

Hay đâu là phúc không là phúc

Tạm lánh nhân gian chốn lẻ - loi.

Thơ thôi bước tới ngàn thông,

Đường chùn lắt léo suối rồng nhiễu quanh

225. Lầu dựng đá, cảnh vẽ tranh.

Hòe vàng trương tán, lầu xanh phất cờ.

Liễu tươi trúc đợm đó ưa,

Đào non ngậm tuyết thông già chống sương.

Lơ thơ bóng xế hải đường.

230. Gà rừng eo óc, dế tường đảnh đa.

Thoảng chừng trông lại thanh sa,

So le cánh nhạn bay qua mái chiền

Rèm hồng lầu tía đua chen

Đỏ lòe khoảnh biếc xanh in đáy ngần

235. Linh sơn một đỉnh tần ngần,

Tám phương cõi thọ đài xuân xum vầy.

Màn trời muôn trượng không dời,

Cao thay Kiều nhạc, vững thay Thái bàn.

Doi le vịnh hạc chen đoàn,

240. Cầm bầu thanh cúc, dủ màn bạch vân

Thuyền ai kề cận bãi tần ?

Thương lang dóng dả một vần hòa ghê.

Ca rằng:

Dòng trong vì nguồn sạch

Bóng thẳng bởi cây ngay.

Thái bình mừng gặp hội.

Chốn chốn hứng đều say.

Ngâm thôi cười nói hỏa huê,

Thú vui mát mẻ bén kề thú trăng.

245. Tới lui cẩn niệm đạo hằng,

Loan le gá bạn, gió trăng kết mành.

Lánh thời yến sẽ cùng oanh,

Quảy bầu danh lợi chí kình sá bao?

Trót chừng hồng hộc bay cao.

250. Lẽ đâu ngồi luận cò ngao rối lòng.

Khách nghe cả gọi ngư ông,

Thuyền người đậu đó, tớ cùng luận chơi.

So xem trong đạo làm người,

Lấy nơi đâu chánh, bỏ nơi đâu tà.

255. Ngư rằng: “Lời thiệt chẳng ngoa,

Tại minh minh đức ấy là nẻo xưa.

Trăng ngô gió liễu chẳng ưa,

Lẽ đâu gẫm biết lời xưa tiền hiền.

Suối mới thông, lửa mới nhen,

260. Càng cao càng vọi, càng bền càng xoi.

Bầu Nhan nếm cũng biết mùi,

Gội dòng sông Tứ, nảy chồi non Ngưu.

Năm hằng ba mối làm đầu

Cội tùng nhành bách mặc dầu đông tây.

265. Chớ nghe lời nói êm tai.

Dẫu đường họa phước, luận lời hư vô.

Sao bằng tâm chánh thân tu,

Thảo ngay là chí trượng phu trên đời”

Đàm thôi trở lại non mây.

270. Suối đờn thánh thót, niềm tây chạnh phiền

Gẫm thế sự, thể bóng đèn

Cớ chi quyến luyến trần duyên nhọc mình

Xa hơi vừa cách góc thành

Vật vờ hồn tục trên thành chào ai.

275. Người nào thắc thoải non đoài.

Tay xoang khoan nhặt, miệng thài nghêu ngao.

Ngâm rằng:

Búa trăng đủng đỉnh

Rìu gió thảnh thơi

Ngân liễu mưa vừa ráo

Nguồn đào nắng mới phơi.

Xa xem thấy Thiên Thai vòi vọi

Bàn Khê đầu điểm tuyết là ai ?

Yên hà treo một gánh

Trung hiếu nặng hai vai

Kíp thâu dài với ngắn

Nào khác thánh dụng tài

Dừng chân xin hỏi ngã tiều:

“Thú non, thú nước người yêu thú nào?”

Tiều rằng: “Nhân trí đứng cao

280. Non tiên từng trải, suối đào từng sang.

Kìa như Lượng ẩn Long Cang,

Vững chia chân vạc vinh vang muôn đời.

Kìa như Quang Võ 47 điếu đài.

Côn Dương một trận phá hoài Mãng gian.

285. Những mong ngợi thú khảo bàn,

Cây kia đã gác trên ngàn cao ngâm.

Ngâm rằng:

Sớm thời dậy, tối thời nằm

Khát đào uống, đói cày ăn

Sự ai ta chẳng biết.

Thú ta ai dễ ngăn ?

Lều Doãn ơ thờ ba mớ cỏ

Kíp thâu phong nguyệt bốn mùa xuân.

Xa nghe cả gọi kẻ cày,

Thú ta vui dạo chốn nầy ai ngăn.

Mặc dầu cuốc giá cày trăng.

290. Rau cần sự cũ lẽ hằng đó chăng?

Lem nhem sách Dịnh 48 treo sừng,

Duyên sao tỏ đặng phế hưng sự đời.

Lịch sơn ấy dấu ai cày?

Chim kia tha cỏ voi nầy thế trâu 49.

295. Mựa 50 nơi trải gió tắm mưa,

Họa may nhuốm gội ơn thừa Đường, Ngu

Mảng xem cảnh cũ làm vui,

Vẳng nghe tiếng địch mục phu góc rừng

Bên rừng vừa gác bóng trăng,

300. Gác chân cật nghé gõ sừng ca chơi:

Ca rằng:

Nội Võ rộng, dặm Châu ngay

Rau non nhiếm, cỏ xanh rì

Hứng vui cánh diếu (?) mặc lòng ai.

miệng trâu ta thẳng nét cày

Dầu có Điền Đan51 ra kế xảo

Nên ngồi ta chẳng thấy rằng hay

Lân la vẫy mục buông lời,

Rằng người chắc đã nên người phong lưu.

Hiu hiu hứng mát đền Vu,

Gió xuân thay quạt, trăng thu thế đèn

305. Ấy là cưỡi hạc lên tiên,

Thị thành cũng trải, lâm thuyền cũng xuê?

Kìa ai lụm cụm Bàn Khê,

Tám trăm chỉ đỏ cuộn về một dây.

Kìa ai thơ thẩn non tây,

310. Nương không cưỡi gió ước gì theo tiên.

Kìa ai mến cảnh hồ thiên,

Chí nguyền viên hạc, kết nguyền gió trăng.

Kìa ai dạo chốn sơn trang,

Ghê nơi cảnh lạ, thú càng vui xuê.

315. Kìa ai tay hái cỏ vi.

Chim kêu ngỡ tiếng Bá Di nên mừng.

Kìa ai dạo chốn sơn trang,

Ghê nơi cảnh lạ, thú càng vui xuê.

Kìa ai tay hái cỏ vi,

320. Chim kêu ngỡ tiếng Bá Di nên mừng.

Kìa ai cầm chén gọi trăng,

Xưa nay rằng cũng mấy vừng tỏ soi.

Kìa ai đạp tuyết tìm mai,

Lục bào kim đái nở chồi gấm xuân.

325. Kìa ai xa lánh cõi trần,

Ba căn hải ốc, mấy lần tang thương.

Kìa ai mến cảnh Tiêu Tương,

Lênh đênh một lá, dọc ngang năm hồ.

Kìa ai thích chí ngao du,

330. Nhà ...ngạch hở, bạch câu nước dồn.

Thảnh thơi khách hứng nước non,

Thông reo thế địch, suối tuông tạm (?) đờn,

Thiên thai người khéo lang đang,

Dạ lăm cắp núi, chí toan vá trời.

335. Rộng thênh đường thế mặc ai,

Ngụ trong bốn thú gác ngoài một thơ.


__________________________________

1 Theo Khái Sinh Dương Tụ Quán “Đào Duy Từ, tiểu sử và thơ văn”, Đông Tây Thư Quán, Hà Nội, 1944, trang 11).

2 Cũng theo Dương Tụ Quán, trang 12, lúc này Đào Duy Từ được 21 tuổi, ta suy ra năm sinh của ông 1572.

3 Theo “Đại Nam liệt truyện tiền biên” ông vào Nam thời Nguyễn Hoàng(1558 - 1613) vì nghe tiếng Thái Tổ Hoàng Đế (Nguyễn Hoàng) có lòng yêu chuộng hiền sĩ. Theo “Đại Nam thực lục tiền biên” ông vào Nam năm 1625 (Ất Sửu)

Ông Phạm Văn Diêu, VHNS, số 62 tháng 8 - 1961 cho rằng tài liệu sau đúng, chúng tôi nghĩ tài liệu trước đúng hơn vì:

- Sự ra đi do phẫn chí phải xảy ra gần năm 1592 là năm Đào Duy Từ bị cấm thi, không lẽ đợi đến 33 năm sau mới vào Nam vì mối hận từ mấy chục năm trước.

- Đại Nam liệt truyệt còn cho biết Đào Duy Từ phiêu lạc từ Quảng Bình xuống Bình Định phải đi chăn trâu một thời gian rồi dạy học ở nhà quan Khám Lý Trần Đức Hoà, sau đó được ông nầy gả con gái cho. Khônng lẽ trên 50 tuổi mà Từ chưa có vợ, để được người thương tài gả con. Không lẽ thời gian lận đận của Từ chỉ gần hai năm thôi (1625 - 1627) với điều ông bày tỏ một cách ẩn ý trong “Ngoạ Long Cương Ngâm”.

- Cũng theo Đại Nam Thực lục Đào Duy Từ gả con gái cho Nguyễn Hữu Tiến vào năm 1631. Lấy vợ khoảng 1626 mà năm 1631 gả con mình không hợp lý. Nói con gái nầy ông dẫn từ Bắc Hà vào thì không ổn vì như vậy, ông khó lấy vợ.

4 Xem Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề, “Những đại lễ và vũ khúc của Vua Chúa”, trang 473, 493, 501...

5 Theo bia đã dẫn, lời chú của bài III.

6 Bài “Nhà Lá Cột Nhà Tre”, Phan Kế Bính (Việt Hán văn Khảo, trang 179), Dương Tụ quán (Đào Duy Từ, tiểu sử và thơ văn) và Phạm Văn Diêu (VHNS số 63) cũng đều cho là Đào Duy Từ, chúng tôi thấy không có gì chắc chắn. LM Thanh Lãng (y ...) cũng không nói gì đến bài nầy. Thanh Lãng (Bảng lược đồ ...) trang 312, 313 có nhắc đến tuồng San Hậu của Đào Duy Từ với lý do Từ là một người chuyên về ca nhạc nên có khiếu về tuồng tích và ông soạn để mua vui cho quân sĩ xây lũy Trường Dục và Nhật Lệ. Điều nầy không có gì chắc chắn, truyền thuyết vẫn nói rằng tuồng San Hậu là do một thuộc hạ của Lê Văn Duyệt coi về việc hát xướng trong dinh của ông. Do đó chúng tôi chỉ để ý đến những tác phẩm chắc chắn của Đào Duy Từ. Tuy nhiên, chúng tôi cũng không nói đến quyển Hổ trướng xu cơ (then máy trong trướng hùm), một tác phẩm có tính cách binh pháp. Quyển nầy ông Phạm Thế Ngũ “VNVHSGỨTB, trang 204” nghi ngờ không phải của Đào Duy Từ và cho là đã mất, nhưng chính thật của Đào Duy Từ và hiện nay vẫn còn, có lẽ bản dịch sẽ ra mắt đọc giả trong một ngày gần đây.

7 Ở đây chúng tôi đi ngược lại thuyết Tư Dung vãn xuất hiện trước Ngoạ Long Cương ngâm. Thuyết này phát sinh từ hai ông Bùi Văn Lang và Lê Ngô Tố (lịch sử Đào Duy Từ - Trung Bắc Tân văn, Hà nội, 1937) và được ông Phạm văn Diêu bước theo.

Chúng tôi đi ngược lại vì:

- Khi mới vào Nam, chưa được đắc dụng, không lý do Đào Duy Từ lại quá ca tụng miền Nam. Sự đề cao cần phải có thời gian để xem xét kỹ chế độ.

- Ngoạ Long Cương ngâm có nhiều chữ cổ hơn của Tư Dung vãn. Ông Phạm Văn Diêu (VHNS, số 65/1951) cũng nhận thấy điểm nầy, nhưng lại cho rằng Tư Dung vãn bị người sau sửa chữa (?) Thật ra muốn biết có sự sửa chửa hay không chúng ta cần phải có những bản Nôm để so sánh hay ít ra cũng căn cứ vào sử liệu ...

8 Cửa bể phía Nam Thuận An, huyện Phú Lộc, Thuận Hoá.

9 Cuối sách có in kèm một bản Nôm trích trong Việt Nam Phong Sử của Nguyễn Văn Mại, bài nầy tựa là “Ngọa Long Cương vãn”. Ở phần sau, khi thực hiện việc đối chiếu dị bản với bản quốc ngữ, sẽ gọi tắt nó là “Bản Nôm”

10 Tộ rắn: theo tích Hán Cao Tổ chém rắn trắng khởi binh dựng nghiệp.

11 Lạ: Bản Nôm viết chữ bên chữ la giản, nhưng không chuẩn lắm.

12 Chiêu đăm: từ cổ nghĩa là trái-phải (lệ thường khách ngồi bên phải chủ và ngược lại).

13 Hằng: Bản Nôm là thường , nhưng thấy dấu sửa.

14 Sân: Bản Nôm viết chữ ngăn .

15 Nhàn: Bản Nôm là thần , thanh thần là sớm mai, có vẻ trùng ý với chữ hôm mai cuối câu.

16 Gác: Bản Nôm là chữ buông.

17 Nương long: chữ cổ nghĩa là lòng, dạ. Câu này diễn ý thành ngữ chữ Hán “Hung trung binh pháp”.

18 Bản Nôm viết chữ lai bộ thảo, là một thứ cỏ ruộng, các sách khác thường viết là “thảo lư”, nghĩa như nhau.

19 Nay đọc là “thảo luận” , chữ này cũng có âm luân, nên phiên luân cho hợp vần.

20 Mở: Bản Nôm là chữ nọ, cũng có nghĩa.

21 Tạm khuất: Bản Nôm viết tạm ốc , thì phải đọc là “chạm ốc”, nghĩa là “tới nhà”, dùng chữ tạm khuất thì e là làm cao quá, lỗi đạo chúa tôi.

22 Thiên: Bản Nôm là chữ trời.

23 Lấy: Bản Nôm là chữ giồi.

24 Thần: bản Nôm bị nhòe, nhưng vẫn đoán được là thân .

25 Thể: Bản Nôm không rõ, như là chữ chế, đúng nghĩa hơn.

26 Thủy: Bản Nôm là chữ hỏa.

27 Tên: tức là mũi tên. Tích truyện Tam Quốc: Khổng Minh lợi dụng sương mù, dùng thuyền chất cỏ khiêu chiến, ngồi uống rượu với Lỗ Túc mà bắt mười vạn mũi tên của quân Ngụy nộp cho Chu Du. Bản Nôm viết “tên” là tên gọi (=tiên + danh), hẳn có ý buộc người đọc theo đúng âm Nôm, nhưng dễ gây hiểu lầm là “tên lính”.

28 Cùng: Bản Nôm là chữ Hang(=thuyền), mất vần, nhưng cần xét kỹ, vì có thể gần chữ nguyên tác.

29 Mình: Bản Nôm là kình .

30 Chước: Bản Nôm là chốn .

31 Ngoan ngùy: chữ cổ nghĩa là mưu mẹo, xảo quyệt.

32 Tống: bản Nôm là chữ tiếng .

33 Tôn: Bản Nôm là chữ rập / rắp ().

34 Phen : chữ cổ nghĩa là so, bì. Lục Vân Tiên: Chẳng phen đài cát cũng phường trâm anh.

35 Kiếm Môn tức cửa Kiếm Các, nơi nổi tiếng hiểm yếu án ngữ đường vào đất Thục (Tứ Xuyên). Nữa: từ cổ nghĩa là bằng, có người nói là hơn, Chinh phụ ngâm: “Gieo Thái sơn nhẹ nữa hồng mao.

36 Chi Di: tên riêng của Phạm Lãi nước Việt đời Xuân Thu, sau khi công thành thì lui về ẩn ở Ngũ Hồ, lại vì ngụ ở đất Đào nên có tên hiệu là Đào Chu công.

37 Có lẽ là “bạ thuyền”, nghĩa là đậu thuyền.

38 Câu theo sách Trang tử: “Cá Côn một lần nhảy xa ba nghìn dặm, chim Bằng một lần bay xa chín vạn dặm”.

39 Điêu đẩu: loại mõ canh. Nguyên nó là đồ binh, bằng đồng, ngày dùng thổi cơm, đêm dùng làm mõ canh.

40 Đàm: tức đầm, chính là đầm Cầu Hai, là chỗ mở rộng nhất của phá Tam Giang, thông ra biển qua cửa Tư Hiền (Tư Dung).

41 Thiên thê: thang trời.

42 Đồ lê: A đồ lê, tiếng nhà Phật, chỉ vị sư gương mẫu.

43 Điêu trùng: Khắc con sâu, thành ngữ chỉ việc làm văn, làm thơ chau chuốt, tỉ mỉ, quá chuộng hình thức.

44 Theo “Hợp tuyển thơ văn VN Thế kỷ X - Thế kỷ XVII” NXB Văn Học, HN 1976, thì là “chim”. Có lẽ đúng vì đoạn sau có chữ “đường chùn lắt léo”, chính là ứng với thành ngữ “điểu đạo”, “đường chim lối thỏ” là những nhóm chữ thường hay gặp trong Tuồng chữ Nôm. Các tác giả của Hợp tuyển trên cũng chú rõ là không có bản Nôm, nên có nhiều chữ nghi vấn mà không khảo cứu được. Chú thích năm 2000.

45 Bả bô: xuềnh xoàng, tiếng cổ.

46 Dị bản: suối ngăn dòng tà, theo sách dẫn trên.

47 Tích sử: vua Hán Quang Võ là Lưu Tú diệt Vương Mãng trung hưng nhà Hán, lập lên nhà Đông Hán, Côn Dương là nơi quân Quang Võ thắng quân Vương Mãng.

48 Dịnh: (Nịnh) tức Nịnh Thích, tính chăm học, khi chăn trâu thường treo sách ở đầu sừng, sau giúp Tề Hoàn Công dựng lên nghiệp bá.

49 Tích vua Thuấn cày ruộng ở Lịch sơn (tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc), có voi đến giúp kéo cày, chim đến giúp nhặt cỏ.

50 Mựa: tiếng cổ nghĩa là chẳng phải, chẳng cứ.

51 Điền Đan: Người nước Tề thời Chiến Quốc, dùng mẹo “hỏa ngưu” (buộc lửa phía đuôi trâu để xua vào phá trận giặc), đánh thắng quân nước Yên, thu lại hơn 70 thành.




Trang Trước
Trang Tiếp Theo