Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới







Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam




Quốc kỳ Việt Nam là lá cờ đại diện cho nước Việt Nam thống nhất từ 1976 đến nay. Lá cờ có hình chữ nhật, chiều rộng bằng 2/3 chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh. Ý nghĩa là cờ thể hiện trong nền đỏ tượng trưng cho cách mạng, màu vàng là màu truyền thống tượng trưng cho dân tộc Việt Nam , và năm cánh sao tượng trưng cho năm tầng lớp sĩ , nông công , thương , binh cùng đoàn kết.

Giả thuyết về tác giả Cờ đỏ sao vàng

Nguyên mẫu của quốc kỳ Việt Nam hiện nay được ghi nhận xuất hiện lần đầu tiên trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ ngày 23 tháng 11 năm 1940 . Tuy nhiên, dù đã tồn tại hơn 70 năm nhưng tác giả của lá cờ vẫn không được xác định một cách chính xác.

T rong công văn số 1393/VHTT-BTCM do Thứ trưởng Bộ Văn hóa - thông tin Lưu Trần Tiêu ký ngày 18 tháng 4 năm 2001 có ghi: " Tất cả các nguồn tài liệu hiện có tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, tại Viện Lịch sử Đảng trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh đều không có tài liệu nào chứng minh đồng chí Nguyễn Hữu Tiến là người vẽ lá cờ Tổ quốc".

Các quốc kỳ trong lịch sử Việt Nam

Cho đến trước năm 1945 Việt Nam không có quốc kỳ chính thức. Phải đến năm 1945 cùng với việc thành lập Đế quốc Việt Nam Việt Nam mới có quốc kỳ chính thức đầu tiên được ban bố.

Trước thời Pháp thuộc

Quốc kỳ là lá cờ đại biểu cho chủ quyền quốc gia, xuất hiện trước tiên ở các quốc gia chủ quyền phương Tây cận đại. Trước thế kỷ 16 không tồn tại khái niệm " quốc gia dân tộc " và " chủ quyền ", do đó không có quốc kỳ tượng trưng cho quốc gia chủ quyền dân tộc. Cho tới trước khi Pháp xâm lược Việt Nam, các hoàng triều trong lịch sử Việt Nam đều không có và cũng không cần có quốc kỳ.

Tại Việt Nam trước đây các nhà cầm quyền đã có các hiệu kỳ thường mang màu phù hợp với "mạng" theo ngũ hành : người mạng kim thì cờ màu trắng , người mạng mộc mang màu xanh , mạng thủy thì màu đen , người mạng hỏa treo cờ màu đỏ , người mạng thổ dùng cờ màu vàng. Màu cờ của các triều đại thì được chọn theo thuyết của học phái Âm Dương Gia nhằm giúp triều đại hợp với một hành đang hưng vượng. Ngoài cờ của triều đại, các nhà vua đều có thể có lá cờ riêng, chỉ để biểu tượng cho hoàng gia .

Từ khi giành được quyền tự chủ sau thời kỳ Bắc thuộc, các vương triều nhà Ngô , nhà Đinh , nhà Tiền Lê , nhà Lý , nhà Trần , nhà Hồ , nhà Hậu Lê đều dùng hiệu kỳ màu vàng. Vua Gia Long (1802-1820) cũng dùng màu vàng cho là cờ tiêu biểu của vương triều mình. Có nguồn cho là vua Khải Định (1916-1925), khi sang Paris dự hội chợ đấu xảo, cùng các quan Nam triều sáng chế tại chỗ cờ Long Tinh (thêm hai vạch đỏ tượng trưng cho hình rồng vào giữa lá cờ vàng) vì cần thiết cho nghi lễ; tuy nhiên, từ "cờ long tinh" có lẽ đã xuất hiện từ thời vua Gia Long. Cụ thể, cờ có tên Hán "Long Tinh Kỳ" với "Kỳ" là cờ; "Long" là rồng , biểu tượng cho hoàng đế, có màu vàng với râu tua màu xanh dương , tượng trưng cho Tiên và đại dương là nơi rồng cư ngụ; "Tinh" là ngôi sao trên trời, cũng là màu đỏ, biểu tượng cho phương Nam và cho lòng nhiệt thành, chấm ở giữa Tóm lại "Long Tinh Kỳ" là cờ vàng có chấm đỏ viền tua xanh.

Liên bang Đông Dương (1883 - 1945)

Long tinh kỳ tung bay trong Đại nội Huế , năm 1924 nhân lễ Tứ tuần Khánh thọ của vua Khải Định

Trong thời kỳ Pháp thuộc , chính quyền bảo hộ Pháp trên toàn Liên bang Đông Dương sử dụng lá cờ có nền vàng và ở góc trái trên cao là hình quốc kỳ Pháp, từ năm 1923 đến khi bị Nhật lật đổ vào 9 tháng 3 năm 1945 .

Tại từng vùng thuộc địa trên lãnh thổ Việt Nam, Nam kỳ dùng quốc kỳ Pháp (còn gọi là cờ tam sắc hay tam tài), Bắc kỳ Trung kỳ dùng cờ biểu tượng cho vua nhà Nguyễn, nhưng cờ này chỉ được treo nơi nào có nhà vua ngự. Cụ thể nó được treo ở kỳ đài ở quảng trường Phu Văn Lâu , cột cờ đàn Nam Giao ở ngoại ô kinh thành Huế , hay cột cờ Hành Cung ở các địa phương.

Việt Nam Đế quốc (1945)

Sau khi Đế quốc Nhật đảo chính thực dân Pháp , hoàng đế Bảo Đại tuyên bố độc lập trên danh nghĩa, dưới sự bảo hộ của Nhật. Ngày 11 tháng 3 năm 1945 , ông tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Quý Mùi 1883 Hòa ước Giáp Thân 1884 . Chính phủ mới được thành lập ngày 17 tháng 4 năm 1945, đứng đầu là học giả Trần Trọng Kim . Quốc hiệu được đổi thành Đế quốc Việt Nam và, ngày 8 tháng 5 năm 1945, quốc kỳ được chọn gọi là cờ quẻ Ly. Cờ này cũng nền vàng, ở chính giữa có một quẻ Ly màu đỏ. Quẻ Ly là một trong 8 quẻ của bát quái và gồm một vạch liền, một vạch đứt và một vạch liền; bề rộng của các vạch này chỉ bằng một phần bề rộng chung của lá cờ.

Cờ quẻ Ly về danh nghĩa là cờ của cả nước Việt Nam, nhưng trong thực tế Nhật vẫn cai trị Nam kỳ . Sau khi Nhật đầu hàng quân Đồng Minh , Nam kỳ mới được trao trả ngày 14 tháng 8 năm 1945, nhưng 16 ngày sau đó Hoàng đế Bảo Đại thoái vị (chiều ngày 30/8/1945). Nam Kỳ, trên thực tế, chưa bao giờ dùng cờ quẻ Ly.

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945 - 1976)

Quốc kỳ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lấy mẫu từ hiệu kỳ Cờ đỏ sao vàng của Mặt trận Việt Minh Bắc kỳ từ trước tháng 8 năm 1945 .

Theo Võ Nguyên Giáp , hiệu kỳ này do Hồ Chí Minh mang về từ nước ngoài và được chính thức treo lần đầu tiên vào ngày "19/5/1941, lá cờ được treo giữa hang Pắc Bó, khai mạc Hội nghị thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội" Vào năm 1944, Văn Cao sáng tác Tiến quân ca , tuy trong ca khúc có những câu như "...Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước,... Sao vàng phấp phới..." nhưng lúc đó ông cũng chưa thấy lá cờ mà chỉ tưởng tượng ra.

Sau khi giành được chính quyền, thì cờ Việt Minh được sử dụng biểu tượng một nước Việt Nam mới. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, cờ đỏ sao vàng chính thức xuất hiện trong buổi lễ Tuyên bố độc lập tại quảng trường Ba Đình. Ngày 5 tháng 9 năm 1945 , Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh ký sắc lệnh quyết định quốc kỳ Việt Nam là cờ đỏ sao vàng. Trong cuộc họp Quốc hội khóa I quy định cụ thể về quốc kỳ ngày 2 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Lá cờ đỏ sao vàng đã thấm máu đồng bào ta trong Nam Kỳ khởi nghĩa 1940. Chính lá cờ này đã cùng phái đoàn Chính phủ đi từ châu Á sang châu Âu, từ châu Âu về châu Á; cờ đã có mặt trên khắp đất nước Việt Nam. Vậy thì trừ 25 triệu đồng bào, còn không ai có quyền thay đổi quốc kỳ và quốc ca".

Kỳ họp thứ I, Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 2 tháng 3 năm 1946 đã biểu quyết nhất trí cờ đỏ sao vàng là quốc kỳ của chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và xác nhận bởi Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946.

Sau năm 1954, Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1959 cũng xác nhận lại cờ đỏ sao vàng là cờ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau khi Việt Nam thống nhất năm 1976, lá cờ này được sử dụng làm quốc kỳ của chính thể Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho đến tận ngày nay.

Cộng hòa tự trị Nam Kỳ (1946 - 1948)

Sau khi quân đội Đế quốc Nhật Bản đầu hàng lực lượng Đồng Minh , lãnh thổ Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở xuống được tiếp quản bởi quân đội Liên hiệp Anh . Sau đó, Anh đã nhượng lại quyền kiểm soát cho Pháp . Chính quyền Pháp đã ra sức cổ súy một phong trào gọi là Nam kỳ tự trị. Ngày 26 tháng 3 năm 1946 , Nam kỳ Cộng hòa quốc ( tiếng Pháp : République de Cochinchine) đã thành lập. Từ ngày 1 tháng 6 , quốc gia này dùng quốc kỳ nền vàng, với ba sọc xanh vắt ngang ở giữa. Hình dạng lá cờ có ý nghĩa biểu trưng cho ba con sông Đồng Nai , Tiền Giang Hậu Giang trên đất Nam kỳ .

Lá cờ này chỉ tồn tại được hai năm do chính quyền Nam kỳ quốc giải thể và sáp nhập vào Quốc gia Việt Nam do Quốc trưởng Bảo Đại đứng đầu (ngày 2 tháng 6 năm 1948 ).

Quốc gia Việt Nam Việt Nam Cộng hòa (1949 - 1975)

Có thông tin cho rằng cờ này do họa sĩ Lê Văn Đệ vẽ và đã trình cho vua Bảo Đại chọn trong một phiên họp ở Hồng Kông năm 1947 , với ý nghĩa màu vàng và đỏ của lá cờ vì người Việt Nam "da vàng máu đỏ và ba sọc tượng trưng cho ba miền Bắc, Trung, Nam. Cờ có nền vàng với ba sọc đỏ và hai sọc vàng chen nhau nằm vắt ngang ở giữa, tượng trưng cho quẻ Càn trong Bát Quái , màu vàng thuộc hành thổ và ở vị trí trung ương thể hiện cho chủ quyền quốc gia, màu đỏ thuộc hành hỏa và chỉ phương nam. Bề ngang của mỗi sọc đỏ và vàng này bằng nhau và bề ngang chung của năm sọc bằng một phần ba bề ngang chung của lá cờ. Đây là sự biến thể từ cờ Nam kỳ cộng hòa quốc và cả hai lá cờ này cũng đều được biến thể từ lá cờ quẻ Ly của chính phủ Trần Trọng Kim mà thôi.

Ngày 2 tháng 6 năm 1948, chính phủ lâm thời của thủ tướng Nguyễn Văn Xuân chính thức dùng lá cờ vàng ba sọc đỏ làm quốc kỳ của Quốc gia Việt Nam Quốc gia Việt Nam ( 1949 - 1955 ), và sau đó là quốc kỳ cho suốt thời Đệ Nhất Đệ Nhị Việt Nam Cộng hòa ( 1955 - 1975 ).

NHỮNG LÁ CỜ TRONG LỊCH SỬ

- Hàng 1: Long Tinh kỳ, cờ thời Phong kiến, cờ thời Pháp thuộc

- Hàng 2: Cờ Quốc gia VN, VN Cộng hòa và cờ quẻ Ly (vạch đỏ đứt quãng)

- Hàng 3: Cờ VN cách mạng T.8 – Cờ Nam Kỳ quốc (3 sọc xanh) và cờ Cộng hòa Miề n Nam VN (cờ đỏ sao vàng thêm màu xanh dương)

- Hàng 4: Cờ chính thức của nước VN Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa VN của nước VN thống nhất.

Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (1969 - 1976)

Trước khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được thành lập, trong các phong trào đấu tranh của những người Cộng sản tại miền Nam Việt Nam chống lại chính quyền Việt Nam Cộng hòa (tiêu biểu là phong trào Đồng khởi), hiệu kỳ cờ đỏ sao vàng thường được sử dụng để hiệu triệu dân chúng như một biểu tượng nhắc nhở về những thắng lợi trong cuộc Kháng chiến chống Pháp của Việt Minh .

Khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam thành lập vào ngày 20 tháng 12 năm 1960 , với thành phần chủ chốt là lực lượng Việt Minh hoạt động ở miền Nam Việt Nam, với mục tiêu đấu tranh chính trị và vũ trang, chống Mỹ và tiến tới thống nhất đất nước, đã sử dụng hiệu kỳ cờ có nền gồm nửa trên màu đỏ, nửa dưới màu xanh, ở giữa là sao vàng.

Khi chính phủ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam được thành lập năm 1969 để đối trọng với chính phủ Việt Nam Cộng hòa , hiệu kỳ này được dùng làm quốc kỳ cho Cộng hòa Miền Nam Việt Nam. Nó được sử dụng đến khi sáp nhập hai nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Cộng hòa Miền Nam Việt Nam .

Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1976 đến nay)

Năm 1976 , sau khi Việt Nam thống nhất, Quốc hội Việt Nam khóa VI đã lấy quốc kỳ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, làm quốc kỳ của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với vài thay đổi nhỏ so với mẫu cờ nguyên thủy. Đây chính là lá quốc kỳ chính thức đại diện cho nước Việt Nam thống nhất từ 1976 đến nay.

Quốc ca Việt Nam

Quốc ca Việt Nam là bài Tiến Quân Ca do Văn Cao sáng tác, bắt nguồn từ lúc phong trào Việt Minh sử dụng bài hát này cho tới khi trở thành quốc ca Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau đó sử dụng cho toàn nước Việt Nam sau khi Quốc hội Việt Nam họp và chính thức thống nhất năm 1976 . Bài quốc ca đem lại không khí hào hùng, sôi nổi, vẻ vang của những năm nhân dân ta anh dũng chiến đáu bảo vệ quê hương

Trong quá khứ, Việt Nam chỉ mới bắt đầu có quốc ca từ giữa thế kỷ 20. Trước đó, Việt Nam không có truyền thống chỉ định một bài nhạc làm quốc ca, theo nghĩa được hiểu hiện nay.

Các bản Quốc ca trong lịch sử Việt Nam

Bản quốc ca đầu tiên

Theo Nguyễn Ngọc Huy , đến thời Đệ nhị thế chiến , hoàng đế Bảo Đại xuống chiếu chọn một quốc kỳ và quốc ca. Quốc kỳ là cờ long tinh còn quốc ca là bài Đăng đàn cung .

Đăng đàn cung là một bản cổ nhạc Việt Nam, hiện vẫn được sử dụng trong hầu hết các giáo trình dạy cổ nhạc và nhạc cụ cổ truyền. Đây là bài nhạc nằm trong nghi thức lễ tế Nam Giao , được dùng khi vua ngự đến đài tế lễ. Lễ tế Nam Giao, thực hiện ba năm một lần vào ngày đông chí, là lễ quan trọng nhất trong nghi thức của triều đình, khi nhà vua thay mặt quốc dân làm lễ tế trời.

Bài Đăng đàn cung được dùng cho nước Đại Nam, gồm Trung kỳ và Bắc kỳ, chứ không dùng cho Nam kỳ vì Nam kỳ là đất thuộc địa, một lãnh thổ hải ngoại của Pháp.

- Trong khi đó, năm 1946 , tại Nam kỳ, Pháp thành lập Nam Kỳ quốc . Chính phủ Nam kỳ Cộng hòa quốc được thành lập ngày 23 tháng 6 do Nguyễn Văn Thinh lãnh đạo. Chính phủ Nam Kỳ quốc dùng quốc kỳ là lá cờ Quẻ Ly (nhưng 3 sọc nối liền và tô màu xanh –tượng trưng cho 3 dòng sông: Tiền giang, Hậu giang và Vàm Cỏ ờ Nam Kỳ) và quốc ca là một bài hát của giáo sư Võ Văn Lúa, lời dựa trên đoạn đầu Chinh phụ ngâm khúc . Chính phủ này tồn tại hai năm.

- Năm 1948, chính phủ Quốc gia Việt Nam ra đời, với Bảo Đại làm quốc trưởng và thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng. Chính phủ Quốc gia Việt Nam đã chọn quốc kỳ là lá cờ của Nam Kỳ quốc với 3 sọc xanh được tô màu đỏ trên nền màu vàng (giải thích là tượng trưng cho 3 miền Bắc, Trung và Nam) và quốc ca là bài Tiếng gọi công dân ( là bài Tiếng gọi thanh niên của Lưu Hữu Phước, đồng thời thay chữ "thanh niên" bằng chữ "công dân").

Giai đoạn 1954 - 1976

- Năm 1954, hiệp định Genève chia đất nước ra hai vùng tập kết quân sự. Tại miền Bắc, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục dùng bài Tiến quân ca làm quốc ca. - Tại miền Nam, chính phủ Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại làm quốc trưởng tiếp tục sử dụng bài Tiếng gọi công dân .

Năm 1956, Quốc Hội Lập Hiến tại miền Nam lập nên chế độ Cộng hòa, Hiến pháp 1956 thành lập nước Việt Nam Cộng Hòa , bài Tiếng gọi công dân vẫn giữ làm quốc ca.

Năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được thành lập. Năm 1969, Mặt trận thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam chọn quốc kỳ là lá cờ với màu Đỏ và màu Xanh dương, với ngôi sao Vàng ở giữa lá cờ, và chọn quốc ca là bài Giải phóng miền Nam, cũng của Lưu Hữu Phước (Huỳnh Minh Siêng)

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, bài Giải phóng miền Nam trở thành quốc ca cho cả miền Nam trong nước Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Cho tới khi hai miền thống nhất ngày 2 tháng 7 năm 1976 thành nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với quốc kỳ là lá cờ Đỏ sao Vàng và quốc ca là Tiến quân ca của Văn Cao . Bài Quốc ca Việt Nam đã ra đời và tồn tại hơn 60 năm.


______________________________________________

(Tham khảo: Tài liệu về Quốc kỳ & Quốc ca VN trong Sách báo và Internet)