Hà Nội
Trong Những Áng Văn của Nguyễn Tuân
&
Ca Khúc của Hoàng Hiệp



Quý vị đang nghe HàNội qua tiếng guitare của Văn Vượng



NHÀ VĂN NGUYỄN TUÂN VIẾT VỀ HÀ NỘI

Văn sĩ và thi sĩ người Hà Nội không ít. Văn sĩ và thi sĩ viết về Hà Nội càng nhiều. Mỗi tác giả đều có những áng văn hay về Thủ đô. Trong số đó có nhà văn Nguyễn Tuân.

Nguyễn Tuân quê ở làng Nhân Mục (làng Mọc), xã Thượng Đình, nhưng cất tiếng khóc chào đời cách đây 103 năm (10/71910 - 2013) tại phố Hàng Bạc một trong 36 phố phường Hà Nội cổ, trong một gia đình nhà nho.
Nguyễn Tuân bắt đầu viết báo, viết văn từ năm 1933 và thực sự sống bằng ngòi bút từ năm 1937, với một phong cách tài hoa không trộn lẫn với ai.
Trước cách mạng tháng 8, Nguyễn Tuân đã cho ra đời những truyện ngắn, tùy bút ghi lại những nét văn hóa của Hà Nội nghìn năm văn hiến.

- Truyện “Hương cuội” là nền nếp gia phong, là cách uống rượu, ngâm thơ, thưởng hoa của các nhà nho Hà Nội: “Cụ Kép làng Mọc nguyện đem cái quãng đời xế chiều của một nhà nho để phụng sự lũi hoa thơm cỏ quý. Biết đã đủ tư cách chơi cây cảnh, cụ mới gây một vườn lan nho nhỏ, muốn nói rằng người chơi hoa nhiều khi phải lấy cái chí thành chí tình mà đối đãi với giống hoa cỏ. Như thế mới phải đạo, cái đạo của người tài tử.”
Rượu nhà tự chưng cất, rất quý: “Mấy vò rượu này là rượu tăm đấy. Cụ nhà ta quý nó hơn vàng”. Rượu này uống với kẹo mạch nha cuốn bọc ngoài những viên đá cuội trắng phau xếp khéo vào chậu lan đang nở, đậy lồng bàn giấy dó để ủ hương hoa vào kẹo: “trên mỗi án thư nhỏ, ngất nghểu hai chậu lan còn lù lù chiếc lồng bàn úp và một hũ da lươn lớn có nút lá chuối khô...”. Tiệc rượu hương cuội thường được khai mở vào trưa mồng một Tết kéo dài đến chiều hoặc vào đêm rằm tháng giêng. Uống rượu và đọc thơ “Rồi mỗi chén rượu là một lời thơ ngâm trong trẻo”. Không có hoa lan thì phải có chậu hoa thủy tiên tỉa khéo, hoa nở, toả hương thơm ngào ngạt theo thời khắc chủ nhân muốn. Đấy là một nét văn hóa tao nhã, lịch sự trong sinh hoạt của các nhà nho.

Sau uống rượu, uống trà là việc phổ biến thường ngày trong thiên hạ. Nhưng với Nguyễn Tuân, uống trà là một nghệ thuật mang tính triết lý của người có văn hóa. Chả thế mà tác giả viết liền hai truyện “Những chiếc ấm đất” và “Chén trà sương” nói chuyện uống trà. Để có một chén trà ngon, phải hội đủ các thứ : ấm trà, nấu nước pha trà, loại trà, cách pha. Phải chọn một trong ba loại ấm: “Thứ nhất Thế Đức gan gà;- thứ nhì Lưu Thủy;- thứ ba Mạnh Thần”. Nước thì: “Những người uống trà đúng cách thức trà đạo bao giờ cùng có ít nhất là hai cái ấm đun nước. Ấm nước sôi nhắc ra khỏi lò than là đã có chiếc ấm thứ hai đặt lên đấy rồi. Và hai cái ấm đồng đỏ cứ được thay nhau đặt lên lò than đỏ rực, người ta có luôn tay một thứ nước sôi đủ độ nóng để pha một ấm trà ngon”. Trà phải là trà tàu, hoặc trà mạn ướp nhụy sen hồ Tây. Thưởng thức cái vị, cái hương của chén trà tàu, trà mạn là những người “không cẩu thả trong cái thú chơi thanh đạm. Pha cho mình cũng như pha mời khách đã để vào đấy nhiều công phu. Những công phu đó đã trở nên lễ nghi. Trong ấm trà pha ngon, người ta nhận thấy có một mùi thơ và một triết lý... Chỉ có người tao nhã, cùng một thanh khí mới có thể ngồi cùng nhau bên một ấm trà.”
- Ai đã có thời gắn bó với Hà Nội thì khi xa càng nhớ quay nhớ quắt Hà Nội, nhất là những người một thời sống ở khu phố cổ chật hẹp, luôn nghi ngút mùi khói Phở, mùi khói Thịt nướng, mùi Ngô nếp nướng, mùi Nước mắm cà cuống. Có người cực đoan đến mức không ăn phở Sài Gòn vì ngọt quá, dù công tác dài ngày ở thành phố phương nam này.

- Tháng 5- 1957, trong chuyến công tác 10 ngày ở Phần Lan, một sáng thức dậy giữa cái lạnh của người xa xứ, Nguyễn Tuân đăm đăm nhớ Hà Nội, ước gì lúc này có bát phở khói nghi ngút trước mặt. Thế là tùy bút “Phở” ra đời đăng lên báo Văn (10-5-1957 và 17-5-1957), được độc giả nồng nhiệt đón nhận. Người đã ăn phở Hà Nội thì thích thú thưởng thức mùi vị qua cách tả kỹ lưỡng của tác giả về các loại phở. Người ở khắp nơi chưa một lần tới Hà Nội thì làn khói từ tô phở trong văn của Nguyễn hấp dẫn sự tò mò và khao khát một lần được về Hà Nội để ăn một bát phở trong một quán phở chật chội, ám khói ở phố Bát Đàn, phố Hàng Bạc, Hàng Bè... hay những gánh phở rong như Nguyễn Tuân kể. Uống là thế, ăn là thế.

- Hà Nội xưa còn một thú chơi rất văn hóa nữa là viết chữ đẹp. Coi uống rượu, uống trà là một thú chơi tao nhã, lịch sự trong giao tiếp, các nhà nho còn trau dồi viết chữ đẹp để cho chữ, tặng chữ cho những người có nhân cách, có tấm lòng” biệt nhỡn liên tài” lại biết quý chữ . Người viết chữ đẹp không chỉ có hoa tay mà còn phải rèn luyện và hơn thế phải là nhà nho có nhân cách, có khí phách. “Chữ người tử tù” là một truyện ngắn ca ngợi nét văn hóa truyền thống của các hiền nhân quân tử : “Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm. Tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỷ, ông ít chịu cho chữ. Có được chữ ông Huấn Cao mà treo là có một vật báu trên đời.” Những nếp sống văn hóa “vang bóng một thời” trong văn chương Nguyễn Tuân tưởng rằng đã mai một theo sự thăng trầm của lịch sử. Nhưng nay đã và đang được khôi phục, phổ biến là viết thư pháp, viết câu đối ở các chùa, ở các lễ hội lớn như festival Huế và dịp tết NguyênĐán.

- Nguyễn Tuân có cách viết lịch sử rất súc tích: “Nói về ngoại xâm lấy đất Thăng Long - Hà Nội làm chiến trường, sử sách ghi lại 5 lần nội loạn và 9 lần xâm lăng (...). Pháp chiếm xong thành Hà Nội, đi vào cuộc bình định Bắc Kỳ và ngày 23-7-1893 Pháp ra Nghị định phá thành Hà Nội. Chiếu theo Nghị định trong 3 năm phải phá xong thành, nhát cuốc đầu tiên đã bổ vào thân thành một buổi sớm mùa thu 18-8-1894. Song song với việc bạt thành lấp hào là việc “chôn sống” con sông Tô Lịch” (Một ít lịch sử Hà Nội)

Đọc đến đây, ta chợt nghĩ : Hoàng thành Thăng Long cách đây 200 năm chắc còn tồn tại trên mặt đất và khi quân Pháp cho đập phá, chắc sử sách có ghi lại? Vậy thì tại sao đến một ngày tháng 12- 2002, khi cho san ủi mặt bằng xây dựng nhà Quốc hội, mới phát lộ di tích đồ sộ này? Câu hỏi này mấy năm nay chưa được nhà nghiên cứu nào trả lời!

- Tiếp nối truyền thống đánh giặc giữ nước của bao đời, những năm 60, 70 của thế kỷ 20, trước cuộc chiến tranh phá hoại bằng không lực của Mỹ, quân và dân miền Bắc nói chung, Hà Nội nói riêng đã chiến đấu và chiến thắng oanh liệt. Tinh thần chiến đấu đó được Nguyễn Tuân phản ánh sinh động qua tập ký “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi”. Tác giả tự hào với chiến công của Hà Nội: “Hăm ba con đại bàng Mỹ B.52 là thành tựu chiến thắng chung của Thủ đô trong chiến dịch mười hai ngày đêm liền Hà Nội chỉ ngủ có một mắt.”

Từ ngôi nhà ở phố Trần Hưng Đạo-Yết Kiêu, Nguyễn Tuân thường thả bộ trên các đường phố đến Hội Nhà văn, đến các nhà xuất bản, đến tòa soạn các báo, đến bạn bè, dạo quanh hồ Gươm bằng cảm quan của một người Hà Nội tinh tế, nhạy bén, giàu cảm xúc.

- Những hàng cây trên phố (mỗi phố Hà Nội thường trồng một loài cây riêng), và bao nhiêu cây quanh hồ Gươm đều đi vào sáng tác của Nguyễn Tuân như một nhà nghiên cứu thực vật chuyên nghiệp: “Cây sấu trông hình thù xấu xí. Cũng như anh Trương Chi tiếng hát rất hay, cây sấu có nhiều đức tính...” (Cây HàNội)

- Hà Nội có nhiều hồ lớn hồ nhỏ, nổi tiếng nhất là Hồ Gươm giữa trung tâm mà Nguyễn Tuân đặt cho nó cái tên “Con Hồ Thủ đô”- một bài tùy bút về Hồ Gươm làm cho bao độc giả nôn nao trong lòng nếu chưa đến và đến rồi lại muốn được đến nhiều hơn, lâu hơn để được ngắm nhìn vẻ đẹp của con Hồ này ở mọi thời khắc của một ngày, của những ngày khác nhau trong bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Con Hồ có lúc đã làm cho nữ văn sĩ Ba Lan phải thốt lên chút ganh tị đáng yêu: “Tôi muốn đánh ghen với tạo vật , cái thứ tạo vật biệt nhỡn với những con người Hà Nội- Không thế sao Thủ đô của anh lại có một cái Hồ xinh nhường ấy! Tôi mệnh danh hồ Hoàn Kiếm của các anh là một viên ngọc êmơrốt.”

Chúng ta tưởng nhớ về một nhà văn Hà Nội đã qua đời cách đây 16 năm ( 7-1987) – Nguyễn Tuân đã dùng văn phong tài hoa, độc đáo của mình để lại cho hậu thế những áng văn hay về thủ đô Thăng Long- Hà Nội yêu dấu và để thêm một lần được có lời cảm ơn nhà văn Nguyễn Tuân kính mến!

“NHỚ VỀ HÀ NỘI” CỦA NHẠC SĨ HOÀNG HIỆP

- "Dù có đi bốn phương trời, lòng vẫn nhớ về Hà Nội..."

Đây là lời mở đầu của một ca khúc viết về Hà Nội nổi tiếng của nhạc sĩ Hoàng Hiệp. Một cảm giác lạ lùng, man mác ẩn hiện trong lòng tôi, nhớ lại thời niên thiếu xa xưa ấy... Tôi sinh ra ở Pháp Vân, Thanh Trì, Hà Đông, rồi quê tôi sáp nhập vào Hà Nội, cách Hồ Hoàn Kiếm khoảng bảy cây số. Đây là vùng nổi tiếng với Bánh cuốn Thanh Trì, Bún Lươn, Bún Ốc...

Tôi nhớ về Hà Nội thời mới bỡ ngõ cắp sách đi học lớp năm (lớp 1) trường tiểu học Nguyễn Du , phố Bắc Ninh (nay đổi là trường Hàng Vôi, phố Hàng Vôi, Hà Nội). Thật là một ngôi trường uy nghi, bệ vệ với hai tầng, kiến trúc theo kiểu Pháp, điều này khiến cho một cậu học sinh bé bỏng càng run sợ, lúng túng trong buổi đẩu tiên tôi đi học; như nhà văn Thanh Tịnh đã viết:

"Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường. Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cánh hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng..."

- "Hà Nội của ta, Thủ đô yêu dấu một thời đạn bom một thời hòa bình..."

Với sự thăng trầm cùa lịch sử, Hà Nội đã trải qua biết bao thời kỳ đạn bom thời Toàn quốc Kháng chiến, qua 10 ngày chiến đấu, quân và dân Hà Nội đã giành thế chủ động, làm cho quân Pháp bị thiệt hại nặng, đã làm thất bại âm mưu đánh chiếm thành phố của Pháp. Sau khi đã giam chân địch được 2 tháng, thấy nhiệm vụ kìm chân, tiêu hao địch đã đạt yêu cầu và cần phải bảo vệ lực lượng, nên cấp trên quyết định để Trung đoàn Thủ đô rút lui ra ngoài.

Thời kỳ Mỹ thả bom Miền Bắc, Hà Nội đã bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, đã lập nên trận " Điện biên Phủ trên không", làm chấn động dư luận thế giới, bị thất bại nặng nề, Mỹ phải ngừng ném bom và ký Hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh. Cuối cùng, Hà Nội được sống trong thời kỳ hòa bình từ sau Hiệp đinh Geneve và sau ngày Tổ quốc thống nhất cho tới nay.

- "Nhớ phố Quang Trung, đường Nguyễn Du, những đêm Hoa sữa thơm nồng..."

- “ Và nhớ tiếng leng keng Tầu (điện) sớm khuya, hướng ra Đống Đa, Cầu Giấy…”

Việc đi học của tôi ở trường Nguyễn Du đang dệt trong tôi biết bao ước mơ thời niên thiếu thì tôi phải chuyển sang trường Trần Nhật Duật- mới xây xong- nằm cạnh phòng tắm công cộng, gần cầu Long Biên. Thế là tôi đành chia tay với một số bạn, vì chỉ một số học sinh đang sống từ đoạn phố từ Hàng Thùng tới Trần Nhật Duật mới phải chuyển trường. Lần đầu tiên trong đời cậu học sinh lớp Ba mới biết thế nào là chia tay bạn bè ,như nhạc sĩ Dzoãn Mẫn viết: "Biệt ly nhớ nhung từ đây. Chiếc lá rơi theo heo may, người về có hay?".

Học ở trường mới được một niên khóa, vì gia đình thân phụ dọn nhà, nên tôi lại phải chuyển về học tại trường tiểu học Quang Trung, tọa lạc gần góc phố Quang Trung và phố Nguyễn Du, nhìn ra hồ Thiền Quang. Trái tim tôi trải qua mấy cuộc chia tay, biệt ly nho nhỏ đó cũng khiến tối bớt buồn bã, chán nản đôi chút. Chính trong lúc đang hoc lớp Nhất tại trường Quang Trung, thì ngày Giải phóng Hà Nội đến. Tất cả học sinh trường tôi đi bộ ra phố Huế để đón Bộ đội tiến về Hà Nội, không khí thật là tưng bừng, náo nhiệt vang khắp phố phường Hà Nội, một cảm giác lâng lâng, tự hào mà khó có thể tôi quên được. Tôi cứ tưởng tượng ra không khí vang lừng, hãnh diện đó, như trong bài hát "Tiến về Hà Nội", nhạc sĩ tài hoa Văn Cao đã viết:

"Trùng trùng quân đi như sóng. Lớp lớp đoàn quân tiến về. Chúng ta đi nghe vui lúc quân thù đầu hàng, cờ ngày nào tung bay trên phố... Năm Cửa Ô đón mừng đoàn quân tiến về. Như đài hoa đón mừng nở năm cánh đào chảy dòng sương sớm long lanh."

Sau ngày vui đó khoảng hai tháng, tôi cùng các bạn học sinh trường Quang Trung và các trường khác tại Hà Nội cùng nhau đến Vườn Bách thảo để dự Lễ mừng Cụ Hồ và Chính phủ trở về Thủ đô. Từ đây, Hà Nội sống trong thời kỳ hòa bình đầu tiên...

Khu vực phố Nguyễn Du nổi tiếng với những hàng cây hoa sữa, có hoa màu trắng như sữa, mùi thơm nồng, đã là nguồn cảm hứng cho nhiều nhạc sĩ có những sáng tác mang hoa sữa vào ca khúc của họ. Và hoa sữa cũng từng chứng kiến biết bao những cặp đang yêu, đến tình tự, thề nguyện sẽ yêu nhau trọn đời...

" - Ôi nh H Gươm xanh thm, nơi Tháp Rùa nghiêng soi bóng..."

- “Thành cũ Thăng Long, hn nước non thiêng, còn lng đâu đây, du xưa oai hùng, Hà Ni ơi!

Vì sống ở gần Hồ Hoàn Kiếm tức Hồ Gươm, tôi có rất nhiều kỷ niệm với Hồ Gươm, với đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc cùng với tháp Bút và đài Nghiên. Hai di tích này do Nguyễn Văn Siêu, một nhà văn hóa lớn của Hà Nội, đã xây một tháp đá mà đỉnh là hình ngọn bút lông, trên thân tháp có tạc ba chữ "Tả thanh thiên" (viết lên trời xanh) và một đài Nghiên, là một cửa cuốn trên có đặt một cái nghiên bằng đá, tạc theo hình nửa quả đào. Qua Đài Nghiên là đến cầu Thê Húc (nơi đậu lại ánh sáng mặt trời ban mai). Đầu cầu bên kia là Đắc Nguyệt Lâu (lầu được trăng) tức cũng là cổng đền Ngọc Sơn. Đền là nơi thờ Văn Xương, Quan Vũ và Trần Hưng Đạo. Trước mặt bái đường là Trấn Ba Đình (đình chắn sóng), tại đây, cậu bé học trò lớp Ba đã ra đây, leo ra bờ đất bao quanh Đình, lấy đất sét về nặn tượng hình thú vật, hình lá cây, để nộp bài Thủ công cho thày giáo.

Xa trông, góc tây nam hồ là Gò Tháp Rùa. Tôi nhớ lại là có một lần duy nhất, khoảng năm 1953, Hà Nội có tổ chức Chợ Phiên ngay tại phố Lê Thái Tổ, nằm ven bờ hồ, chính tại Chợ Phiên, khách tham quan có thề mua vé để đi qua chiếc cầu Rồng - bằng phao làm dã chiến trên các thùng phuy nổi trên hồ, sang bên Gò, bước xuống thảm cỏ xanh mướt quanh Tháp Rùa cổ kính, để thăm nơi cùa các Cụ Rùa, lâu lâu bò lên nằm tắm nắng, đảo mắt ngắm hồ Gươm và thủ đô của chúng ta. Đây đúng là một dịp hi hữu mà tôi đã có cơ hội ra tận Gò của cụ Rùa thăm Tháp Rùa cổ kính, rêu phong. Hơn nữa, vì trường Nguyễn Du - nơi tôi theo học - nằm ở gần Hồ Gươm, nên tôi đã có vài dịp, cùng các bạn học cùng trường, Rước Đèn màu sắc rực rỡ, ánh nến lập lòe xuyên qua giấy bóng kính nhiều màu sáng loáng vào đúng đêm trăng tròn Tết Trung thu, trông như học sinh chúng tôi đang chơi trò “Rồng Rắn lên mây” vòng quanh Hồ Hoàn Kiếm thân yêu của tuổi thơ.

TÓM TẮT

Qua những Áng văn đẹp về Hà Nội của nhà văn Nguyễn Tuân và ca khúc “Nhớ về Hà Nội” của nhạc sĩ Hoàng Hiệp, đã khiến người viết thả hồn về đất Thăng Long xa xưa, nhớ nhất là Lẵng hoa của Thủ đô, đó là Hồ Gươm xinh xắn và mỹ miều.

Biết bao kỷ niệm về Hồ Hoàn Kiếm đã khắc sâu vào trong lòng tôi - một câu bé học sinh tiểu học vô tư, ngây thơ - cho đến nay, da dẻ nhăn nheo, tóc đã nhuốm hai màu, vẫn không bao giờ phai mờ theo năm tháng...


___________________________________

(Tham khảo: Sách báo về Nguyễn Tuân và ca khúc của Hoàng Hiệp)
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 21.06.2013 theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SaìGòn .
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com