ĐẾ HỆ - PHIÊN HỆ TRIỀU NGUYỄN

Trực thẳng tư duy vào chữ nghĩa – ý tưởng trong bài Đế hệ thi và 10 bài Phiên hệ thi của vua Minh Mạng (1820 – 1840), chúng ta sẽ thấy được những kỳ vọng vinh quang miên trường truyền ngôi báu của Nguyễn Thánh tổ - vị Hoàng đế thứ hai của Nhà Nguyễn, vương triều phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.

Dẫn theo tư liệu và phả hệ hoàng tộc lưu giữ tại nhà ông Nguyễn Vĩnh Sanh ngụ số 74, đường Châu Thượng Văn, thành phố Đà Nẵng. Ông ta là hậu duệ đời thứ 16 của vua Minh Mạng, con của Bửu Khản, cháu nội của Ưng Tiến, và cháu cố của Hường Nông. Tựa đề trang mở đầu - Ngày Lịch sử quan trọng của Hoàng Tộc-

“Từ ngày Đức Gia Long xưng vị Hoàng đế (1802) và khai sáng ra Nguyễn Triều cho đến niên hiệu Minh Mạng thứ 2 (1821) thì người trong Hoàng tộc vẫn xưng Quốc Tính là Nguyễn Phước ( 阮福 ). Qua niên hiệu Minh Mạng thứ ba (1822), ngày 28 tháng 5, Đức Minh Mạng ban chiếu soạn ra 11 bài thơ ngũ ngôn, mỗi bài 20 chữ. Mười bài ban cho Phiên hệ (tức là 10 vị hoàng tử của Đức Gia Long), anh và em của Đức Minh Mạng, còn 1 bài cho Đế hệ, tức là các vị Hoàng tử, con của Đức Minh Mạng, và 2 chữ Tôn thất ( 尊室 ) cho các con cháu của 9 hệ Chúa Vương trước Đức Gia Long, đặng thay hai chữ Nguyễn Phước xuất hiện trước năm 1563. Vậy ngày 18 tháng 5 năm Minh Mạng thứ 3 là một ngày lịch sử quan trọng của Hoàng Tộc”.

Những bài Đế hệ thi Phiên hệ thi đã minh luận cho quy thức vô cùng ưu mỹ, trang trọng trong sự phân cấp các thế thứ hoàng tộc, và các phòng của những hoàng tử.

I-Đế hệ thi:

MIÊN HƯỜNG ƯNG BỬU VĨNH

BẢO QUÝ ĐỊNH LONG TRƯỜNG

HIỀN NĂNG KHAM KẾ THUẬT

THẾ THOẠI QUỐC GIA XƯƠNG

Đại ý bài ngũ ngôn tứ tuyệt: Nghiệp lớn vững bền dài lâu, mãi mãi oai hùng. Hãy luôn nêu danh cao quí gia tộc. Lòng vinh hạnh ôm ấp giữ gìn. Quyết đoán, đảm đang mọi việc. Biết sử dụng hiền tài. Ra công biên chép và có trách nhiệm lập định kế hoạch bảo tồn giang sơn, làm cho nước nhà phồn thịnh.

Về phía con gái, được qui ước đối chiếu cùng hệ đẵng cấp tương đương với con trai. Tuy nhiên, phải là những người trực hệ thuộc dòng dõi vua Minh Mạng.

MIÊN - CÔNG CHÚA

HƯỜNG - CÔNG NỮ

ƯNG - CÔNG TÔN NỮ

BỬU - CÔNG TẰNG TÔN NỮ

VĨNH - HUYỀN TÔN NỮ

BẢO - TÔN NỮ

Và kể từ sau đời thứ 6, con gái hoàng tộc đều dùng Quốc tính Tôn Nữ

Các phòng của những vị Hoàng tử đời vua Minh Mạng, và con cháu đều đặt tên theo bộ Mộc ( ), bộ Thủy ( ), bộ Mịch ( )…

II- Phiên hệ thi. Phiên () có nghĩa là phên dậu, che chắn, giữ vững. Tất cả gồm 10 bài “chế ngự” dành cho 10 ông hoàng anh em của vua Gia Long, dùng để đặt tên đệm cho các đời. Một bài thơ cho mỗi dòng dõi. Những bài phiên hệ thi nhiếp dẫn sau đây sẽ minh xác uy quyền vương tước, thế thứ các hoàng tử.

1- Phòng Tăng Duệ Hoàng Thái tử Nguyễn Phúc Cảnh, con của vua Gia Long

Mỹ Duệ Tăng Cường Tráng

Liên Huy Phát Bội Hương

Linh Nghi Hàm Tốn Thuận

Vĩ Vọng Biểu Khôn Quang

Đại ý: Tạo thêm sức mạnh khỏe, tốt đẹp của họ tộc trong mọi việc điều hành, sai khiến. Giữ liền dòng và tăng gấp bội phần hương thơm. Biểu dương sự vui hòa, sáng soi rạng rỡ.

Ví dụ như: Hai người con trai của Hoàng tử Cảnh đặt tên Mỹ Đàng, Mỹ Thùy. Sang đến đời con của Mỹ Đàng, là Lệ Chung. Tương tự, con trai của Kỳ Ngoại hầu Cường Để ( Nguyễn Phúc Đan – 1882/1951) là Tráng Liệt. Ông là cháu đích tôn đời thứ 6 của vua Gia Long

2-Phòng Kiến An Vương (Đệ ngũ hoàng tử)

Lương Kiến Minh Hòa Thuật

Du Hành Suất Nghĩa Phương

Dưỡng Di Tương Thức Hảo

Cao Túc Thái Vi Tường

Đại ý: Gìn giữ niềm vui hòa cùng nhau, như ánh sao sáng tỏa trên trời cao.

3- Phòng Quảng Oai Công (Đệ thập hoàng tử)

Phụng phù Trưng Khải Quảng

Kim Ngọc Trác Tiêu Kỳ ( )

Điển Học Kỳ ( ) Gia Chí

Đôn Di Khắc Tự Trì

Đại ý: Trưng bày mở mang sự tốt đẹp rộng khắp. Xem chiếc ghế quý như vàng như ngọc. Hướng tới mục đích noi gương học hành điều mới lạ (kỳ). Theo kinh điển đúng hạn (kỳ) thời gian để đạt thêm ý chí. Lấy điều đôn hậu hiền lành mà tự mình phải hết sức phò trì.

4- Phòng đệ thập nhất hoàng tử (Hoàng tử thứ 11)

Thường Cát Tuân Gia Huấn

Lâm Tráng Tụy Thạnh Cung

Thận Tu Di Tấn Đức

Thọ Ích Mậu Tân Công

Đại ý: Theo những điều dạy dỗ tốt lành. Ra sức tận tụy, cẩn mực sửa thân, trau dồi đức tính luôn tiến bộ để đem lại lợi ích lâu bền.

Phiên hệ thi là những bài “ngự chế” dùng để phân cấp thế thứ, “vai vế” mang tính “khép kín” trong dòng dõi hoàng tộc. Do đó, chỉ có những người thuộc hệ phả vương triều Nhà Nguyễn mới biết rõ để “truyền thừa” trong cách đặt tên cho con cháu.

11 bài “ngự chế” là 11 khối “khuôn vàng thước ngọc”, dung chứa những ý đẹp, hoài bảo tính vĩnh cửu và tôn vinh triều đại, nêu gương sáng tiền nhân... Tương truyền 11 bài thơ ấy được khắc trên tấm vàng nguyên khối, và bạc ròng.

Ngoài ra, vua Minh Mạng còn làm những bài thơ qui ước chính danh bộ chữ đối với cách đặt tên cho các hoàng tử lúc chưa làm vua, bắt buộc phải dùng một chữ theo bộ đó. Ví dụ như: tên các hoàng tử của Minh Mạng dùng bộ Miên ( ). Con vua Thiệu Trị dùng bộ Nhân ( ). Đông Cung Hoàng Thái tử Bảo Long dùng bộ Phụ ( )- bộ thứ 6 của bài thơ…

Ngự chiếu chữ lót của mỗi đời, lấy một chữ trong bài thơ. Tên của mỗi đời được dùng một bộ trong hệ ngũ hành tương sinh theo thứ tự : Thổ ( ), Kim ( ), Thủy ( ), Mộc ( ), Hỏa ( ) và rồi trở lại. Do đó, tên của tất cả đời thứ nhất đều dùng bộ Thổ

Bộ thổ ( ) trong chữ Tráng ( ) của Phòng Tăng Duệ Hoàng Thái tử. Bộ Mộc ( ) trong chữ Tương ( ) của Kiến An Vương. Bộ Kim ( ) trong chữ Khâm ( ) của Phòng đệ thập nhị An Khánh Vương (Khâm Tùng Xưng Ý Phạm)…Đó là những “ngự tự”xác luận đã được nhà vua Minh Mệnh sắc chỉ.

III- Nguyên quán: “Bổn triều quán ở làng Gia Miêu Ngoại Trang, Tổng Thượng Bạn, huyện Cống Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

Đến triều vua Gia Long, 1803, chữ Gia Miêu Ngoại Trang đổi thành Qúi Hương, và Cống Sơn đổi thành Qúi Huyên.

Ngày trước, triều Nguyễn chúng ta nguyên là Nguyễn Văn ( ). Xem như Ngài Trừng Quốc công sanh ra Đức Triều Tổ Tịnh Hoàng đế Nguyễn Kim, húy là Nguyễn Văn Lựu, thì đã rõ…”

Lật ra những trang sử liệu, mọi người đã biết chuẩn xác từng niên đại và thời gian từ khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua năm 1802, lấy niên hiệu là Gia Long (1802 – 1819) - người khai sáng triều đại Nhà Nguyễn - cho đến vị vua cuối cùng là Bảo Đại kế vì năm 1926 và vĩnh viễn rời ngai vàng vào năm 1945. Triều Nguyễn tổng cộng gồm 13 đời vua trị vì 143 năm. Tuy nhiên, chúng ta thường nghe cụm từ “chín chúa mười ba vua” là để nói về tính liền dòng lịch sử từ thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1600 – 1613) đến chúa Nguyễn Phúc Thuần (1765 – 1777). Và 13 vua, tính từ Gia Long đến Bảo Đại.

Những người con trai kế nghiệp chúa Tiên Nguyễn Hoàng đều mang chữ lót là Phước (Phúc). Việc dùng chữ lót ấy mang tính diệu mộng thiêng liêng được lưu chép như sau: “Còn về chữ Phước lót sau chữ Nguyễn, sử có chép rằng: Người đầu tiên mang chữ ấy là Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, vì lý do sau đây:

Bà vợ của Chúa Nguyễn Hoàng sinh ra Chúa Sãi vào ngày Giáp Thìn, tháng Bảy, năm Qúy Hợi (1563), tức là sau khi vào trấn Thuận Hóa được 6 năm (từ năm 1558) dưới triều đại Lê Anh Tông.

Tục truyền rằng: Khi bà Gia Dũ còn bụng mang dạ chửa, một đêm bà nằm mộng thấy một người đem dâng cho bà một tờ giấy có nhiều chữ “Phước”( ), đến khi thức dậy, bà sanh được một con trai. Bà định lấy chữ “Phước” đặt tên cho con. Nhưng bà nghĩ lại, nếu làm như vậy thì chỉ một mình con của bà tên là Phước mà thôi, chi bằng tốt hơn là dùng chữ “Phước” để làm chữ lót và tên cho dòng dõi, thì sẽ nối truyền mãi về sau”.

Chữ “Vĩnh” đặt ở hàng cuối câu thứ nhất của bài Đế hệ thi - phải chăng là “sự chấm dứt vĩnh viễn” vận mệnh triều Nguyễn mà vua Minh Mạng đã “nhập định dự phê bút ngự”? Hoàng tử Vĩnh Thụy (Bảo Đại) đặt “dấu”chấm hết lời sấm “vạn đại” của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm “Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân” vào tháng 9/1945.


Tài liệu tham khảo: - Các Triều đại Việt Nam. Tác giả Quỳnh Cư – Đỗ Đức Hùng. Nxb Thanh Niên, năm 1995
- Tư liệu của Ông Nguyễn Vĩnh Sanh cung cấp.


© Tác giả giữ bản quyền
Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ Vạn Ninh ngày 21.06.2013.
. Đăng Tải Lại Xin Vui Lòng Ghi Rõ Nguồn Newvietart.com