CHÙA LINH ỨNG


Chùa Linh Ứng hiệu là Linh Ứng Tự, toạ lạc tại thị trấn Thịnh Long huyện Hải Hậu Nam Định

Đã hàng trăm năm về trước, người dân đến nơi chân sóng Thịnh Long này mở đất đã phải vật lộn với phong ba, bão táp, nắng lửa mưa hàn sấm sét, thú dữ. Đêm đêm họ chỉ biết cầu trời, cầu đất, cầu thần sấm, thần sét, thần biển. Rồi có một hôm mưa to gió lớn, nước biển dâng cao, nước trên nguồn đỏ như son laị cuồn cuộn đổ về cửa sông Ninh Cơ cuộn tròn lấy sóng dữ gào thét âm ầm suốt ngày đêm. sáng dậy nhân dân thấy điều lạ là nổi lên một cồn cát lớn. Lại có một tượng Phật dập dềnh nơi mép nước. Nhân dân rước tượng lên để giữa cồn cát rồi thắp hương khấn bái. sau đó họ rủ nhau làm thành một cái am nhỏ để che mưa che nắng cho tượng . Mỗi ngày đi làm đồng, đi biển họ qua đây cầu xin được điều lành đem lại, điều dữ đem đi, thấy có ứng nghiệm, nhân dân góp công góp của làm thành ngôi miếu để thờ Phật. Từ khi Phật về nơi chân sóng nhân dân yên tâm làm ăn, yên tâm đi khơi đi lộng thuyền ra, thuyền vào.

Năm 1936 hoà thượng Thích Thanh Quảng (quê xã Hải Châu xuất gia tu hành bên tỉnh Thái Bình) về đến đây, người thấy cạnh dòng sông Ninh Cơ có ngôi miếu thiêng liền cải miếu thành chùa đặt tên là linh ứng tự (có nghĩa là Linh thiêng và ứng hiện). Hoà thượng trụ trì chùa đến ngày 10 tháng 5 năm 1955 thì viên tịch.

Năm 1956 sư cụ Thích Đàm Khôi ở chùa Cát Thượng ra khêu đèn thắp hương phục vụ tín ngưỡng cho nhân dân cho đến ngày 24-8-1968 thì cụ viên tịch.

Năm 1968 thượng toạ Thích Chính Liên ( tục tính Trần Thanh Tuệ) từ chùa Cồn về chùa Linh ứng nhập cảnh( nhằm ngày19-11- Mậu Thân).

Một nhân duyên trùng lặp là thượng toạ Thích Chính Liên xuất gia năm 13 tuổi thì cùng năm cụ về nhập cảnh tại chùa Linh Ứng lại có thiếu niên cũng 13 tuổi quê ở thị xã Hải Dương mồ côi cả cha lẫn mẹ, lang thang phiêu bạt tới chũa xin xuất gia đầu Phật, làm đệ tử của cụ. Nhìn cháu bé gầy gò, ốm yếu, ngẫm ngĩ một lúc rồi cụ nói:

Trước đây một tháng ta nằm mộng thấy trên trời có vầng hào quang, có bông hoa Hồng với dòng chữ: Thị thế kim tu, hiện tại nhất thiên thân. Nghĩa là: Con là người thiếu nữ con trời, giáng sinh xuống trần thế tu tại nơi đây. Chắc hẳn con tên là Hồng?

– Dạ , con tên là Lê Thị Hồng ạ.

Vậy là ứng với đềm mộng của ta, giấc mộng của ta đã có nghiệm.

Thượng toạ nhất đỗi vui mừng thế phát cho thiếu nữ xuất gia lấy pháp danh Thích Đàm Bích mà nói rằng: “Sau ba mươi năm đất này sẽ phát con ạ.”

Lúc bấy giờ khu vực đát chùa còn là bãi hoang tứ bề sông nước, sóng biển ào ạt vỗ vào, thầy trò tương cháo nuôi nhau, sớm hôm tụng kinh niệm Phật cầu cho Quốc thái dân an, nhân dân bình an tránh được bom rơi đạn lạc của giặc Mỹ mà yên ổn làm ăn Ni sư Thích Đàm Bích, sẵn có duyên lành, phát chí, xuất trần từ nhỏ, chốn không môn tìm đạo xuất gia, nêu cao chí cả vượt qua mọi thử thách khó khăn chịu đựng mọi gian lao như con tằm phải chịu qua bao cơn đau đớn để tự chui ra khỏi cái kén để trở thành con bướm biết bay. Như hạt giống nằm sâu dưới đất, nảy mầm phải xuyên qua tầng đất để vươn thẳng lên thành cây cứng cáp. Người Phát lời thề nguyện, nhẹ bước vân du trên đường giải thoát, bỏ ngoài ngàn dặm lòng tham ái, để lẽ huyền vi còn mãi trong tâm, giữa phàm trần không nhiễm hồng trần. Người đã thiết tha cầu đạo, ngưỡng mong: Thượng thừa Phật đạo, hạ hoá quần sinh. Dù cho ở nơi khó khăn nhất hoằng dương Phật pháp, tiêp dắt chúng sinh vào đạo, cứu khổ độ mê. Bằng đức giới trang nghiêm, bao năm chầy tháng quyết chí học hành, đạo hạnh song toàn, đạo tâm trác thế, trí tuệ cao siêu, Ni Sư một lòng lo chu toàn sự nghiệp kế vãng khai lai,báo phật ân đức, ngõ hầu báo ơn thầy Tổ trong muôn một. Người luôn nỗ lực trong mọi công việc, vượt qua mọi khó khăn, thử thác đứng vững bằng chính đôi chân của mình như lời Phật dạy:

“ ỷ lại nơi kẻ khác để giải thoát cho mình là tiêu cực.Nhưng đảm đang lãnh lấy trách nhiệm,chỉ tuỳ thuộc nơI mình để tự giải thoát quả thật là tích cực”.

Tuỳ thuộc nơi người khác là đem tất cả cố gắng của chúng ta quy hàng.

“Hãy tự xem con là hải đảo của con.Hãy tự xem con là nương tựa của con.Không nên tìm nương tựa nơi người khác”.

- Xây dựng ngôi Tam Bảo :

Đến năm 1998 là vừa tròn 30 năm, đúng như lời Thượng toạ Thích Chính Liên tiên đoán “ Ba mươi năm sau đất này sẽ phát con ạ.” Lúc này nhà chùa cũng còn nhiều khó khăn. Được sự cho phép của giáo hội Phật giáo và các cấp chính quyền cùng sự giúp đỡ đóng góp của chư thiện nam, tín nữ thập phương xa gần, nhà chùa đã xây dựng lại ngôi Tam bảo chùa Linh Ứng. Với tâm thành của Ni Sư nên đạo giao được cảm ứng, được chư Phật, chư Bồ Tát mười phương gia hộ, Ni Sư đã đạt được ý nguyện hoàn tất ngôi Tam bảo vào năm 2001, không biết sức manh nào đã giúp Ni Sư sớm hoàn thành đuợc ngôi chùa trước hạn định hàng chục năm ? chỉ có Phật độ, Tổ giúp mới thành,

Đây là ngôi chùa hình chữ Đinh, làm hoàn toàn bằng bê tông cốt thép, mái lợp ngói mũi.

Tiền đường 5 gian, có hiên rộng đi xung quanh. Phần cổ đẳng ghi hiệu chùa “ linh ứng tự”cao hàng mét đỡ mái chùa, tạo với mái hiên thành tám mái cong cong giao nhau bằng các bờ giải, bờ nóc được tạo ra các đao nguột hình long chầu phượng vũ uyển chuyển mềm mại.

Tiếp với tiền đường là cung chính điên( hậu chẩm) được xây cao ba tầng mười hai mái ngói cũng giao nhau bằng các bờ giải được đắp 12đao nguột cong vút hình rồng chầu phượng múa. Bờ nóc của hậu cung hai đầu có hai Rồng kìm chầu mặt nhật.

Năm 2004 hoàn thành nhà thờ Tổ, năm 2007 xây xong phủ Mẫu.

- Xây dựng Đại Bảo Tháp :

Năm 2008 chùa Linh Ứng khởi công xây dựng đại Bảo tháp Phải nói đây là công trình thế kỷ 9 tầng, cao 49m .Tháp được thiết kế với quy mô 11 tầng, Gồm tầng hầm, tầng đế, và 9 tầng tháp. Phần lõi tháp được bố trí cầu thang máy, xung quanh lõi cầu thang máy là cầu thang bộ.

Chiều cao tầng đó là 4,5 m, chiều cao các tầng tháp trung bình là 3,9 m, phần hành lang xung quanh tháp là 1,8 m. Tầng đế, vuông có mỗi cạnh là 18,8 m Tầng đế được bố trí làm nơi trưng bày hiện vật và đón tiếp khách, hai bên tầng đế được bố trí hai cầu thang bộ phục vụ khách thường nhật lên sân thượng thỉnh lễ. Tại hai đầu trên của cầu thang bộ tầng đế được thiết kế hai tháp chuông, phía sau được bố trí hai tháp đèn. Kết cấu công trình được thiết kế theo hệ khung chịu lực, cột, dầm, sàn bê tông cốt thép đúc liền khối. Tường xây gạch, nền, sàn lát đá xẻ tự nhiên.

Mặt bằng sân thượng tầng một đặt bốn pho tượng ở bốn mặt tháp, phía Đông là tượng Đức Dược Sư, phía Nam l;à Đức quan Âm Bồ Tát, phía Tây là Đức Di Đà, phía Bắc là Đức Địa tạng Vương Bồ Tát. Các pho tương đều được trạc bằng đá trắng to cao gấp ba bốn lần người thật.

Sau khi đặt bốn pho tượng thì đã có ngay bốn rồng vàng hạ giới chầu ở bốn góc tầng một. Mặt băng các tầng2,3,4,5,6,7,8,cũng vuông có mỗi cạnh là12,3 m, mặt bằng tầng 9 thu hẹp hơn cho hành lang rộng ra để chúa được nhiều người hơn khi lên thắp hương lễ Phật. Từ tầng hai đến tầng tám trừ phía mặt tháp quay vào chùa để mở cửa, các mặt còn lại gắn 21 bức phù điêu bằng đá để tưởng nhớ đến cuộc đời của Đức Phật từ lúc giáng sinh đến khi tu chứng nhập Niết bàn. tâng chín là để thờ sá lợi Phật có bốn Phượng chầu bốn góc, ở giữa mái ngói đỏ tươi là bệ hoa sen to ôm bình cam lộ, bình đựng thứ nước phép nơi nước Phật tươí mát cho chúng sinh muôn phương. Đây là công trình tôn giáo được thiết kế theo ý chỉ của nhà chùa như hội tụ được những nét tinh hoa của cả nước, đan xen vào nhau sự huyền ảo kì vĩ như chính con người , vùng đất đ• sản sinh ra chúng vậy. đồng thời tháp cũng là công trình văn hoá mang tính nghệ thuật cao, là điểm nhấn tâm linh văn hóa Phật nơi đầu sóng ngọn gió, hiện thời là to cao hiện đại nhất trên đất Nam Định.







. Đăng ngày 21.06.2013 theo nguyên bản của tác giả từ Nam Định.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .