HAI NGÀY LỄ: NGÀY CHA & NGÀY MẸ
XUẤT PHÁT TỪ HOA KỲ

Vào chủ nhật tuần thứ 2 của tháng Năm, trong các gia đình Mỹ, con cái ở tất cả các độ tuổi đều đặc biệt quan tâm đến Mẹ mình. Đó là ngày duy nhất trong năm, khi con cái, dù già hay trẻ, cố gắng tỏ rõ sự tôn kính Mẹ mình một cách thiết thực .

Anh Quốc là một trong các nước đầu tiên đặt ra ngày kỷ niệm người Mẹ. Thế kỷ 18, khi rất nhiều người còn làm gia nô cho các gia đình giàu có “Ngày của Mẹ” được đặt ra để họ có thể nghỉ việc về nhà ở với các bà Mẹ của mình. Mặc dù tập tục này đã mất đi, khi cuộc cách mạng công nghiệp làm thay đổi cách sống và cách làm việc của họ, nhưng một ngày Chủ nhật giành cho Mẹ vẫn được đặt ra như một ngày lễ vào thế kỷ 20.

- Tại Hoa Kỳ, có được lễ Ngày của Mẹ (Mother’s Day) là nhờ tính kiên tâm và tình yêu Mẹ mãnh liệt của một cô con gái, Anna Jarvis. Mẹ của Anna đã dồn hết tâm sức cho gia đình khi họ ở tiểu bang West Virginia (WV), trong khi cha cô nhậm chức Bộ trưởng ờ Philadelphia, Pennsylvania. Là con gái, Anna giúp Mẹ chăm sóc khu vườn nhà đầy những hoa Cẩm chướng trắng, loài hoa ưa thích của Mẹ cô. Khi bà mất vào ngày 5-5-1905, Anna quyết định tôn vinh Mẹ mình. Cô cầu xin vị mục sư ờ nhà thờ cô thường đi lễ, cho đặt một bàn thờ để tưởng nhớ Mẹ mình. Cũng trong ngày Chủ nhật đó ở Philadelphia, vị mục sư đã cầu nguyện cho Mẹ của Anna và tất cả các bà Mẹ bằng một lễ “Ngày của Mẹ” đặc biệt. Cô Anna Jarvis khi đó bắt đầu viết thư cho các nghị sĩ Quốc hội tiểu bang WV, đề nghị họ đặt ra một ngày để tôn vinh các bà Mẹ.

Vào năm 1910, Thống đốc tiểu bang WV tuyên bố ngày Chủ nhật thứ 2 của tháng Năm là “Ngày của Mẹ”; và một năm sau thì tất cả các tiểu bang Hoa Kỳ đều kỷ niệm ngày lễ này. Vào buổi sáng Ngày của Mẹ, con cái những gia đình Mỹ, theo truyền thống, phục vụ bữa sáng cho Mẹ ở trên giường. Một số người khác lại tặng Mẹ những món quà do chính mình tự làm ra (Sau này cô Anna đã phản đối các món quà do các công ty chế tạo sẵn, vì như thế khiến các con lười biếng, không tự tay làm mà cứ ra cửa hàng mua quà tặng Mẹ, cô cho là như thế sẽ mất hết ý nghĩa cao quý lúc ban đầu).
Trong dịp này, người lớn thì
tặng Mẹ hoa cẩm chướng màu Đỏ - loại hoa chính thức của “Ngày của Mẹ”. Nếu Mẹ đã mất thì có thể sẽ mang hoa cẩm chướng màu Trắng đặt trên mộ Mẹ.

ĐOẢN VĂN - NHẠC PHẨM “BÔNG HỒNG CÀI ÁO”

Chúng ta biết là “Bông hồng Cài áo” – đoản văn nổi tiếng của Thiền sư Thích Nhất Hạnh sáng tác tại trại hè Camp Ockanickon ở Medford, New Jersey, Hoa Kỳ vào năm 1962 trong dịp Thiền sư nói chuyện với thanh thiếu niên về văn hóa Việt Nam và đã được đoàn Sinh viên Phật tử Sài Gòn chép tay 300 bản, mỗi bản đều có gắn thêm một bông hoa màu hồng cho người còn Mẹ, hay màu trắng cho người đã mất Mẹ. Rằm tháng Bảy năm ấy, họ họp nhau lại tại chùa Xá Lợi, làm lễ Bông hồng cài áo đầu tiên. Từ đó, lễ Bông hồng cài áo đã trở thành một truyền thống. Năm 1964, nhà xuất bản Lá Bối ra mắt độc giả bằng quyển Bông Hồng Cài Áo trong ngày Vu Lan. Năm 1965, đoàn cải lương Thanh Nga đã dựng và trình diễn vở tuồng Bông Hồng Cài Áo. Tại trong nước cũng như tại nước ngoài, đoản văn Bông Hồng Cài Áo đã được dịch và in ra nhiều thứ tiếng như Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Trung Quốc, Nga, Thái Lan và tiếng Lào.

- Có người thắc mắc hỏi Thiền sư: Tại sao lại chọn hoa hồng và phải chăng chỉ hoa hồng là biểu trưng cho tình yêu, Thiền sư cho biết: “Mình nên hiểu chữ hồng trong bông hồng là đỏ. Cài hoa khác như hoa cẩm chướng cũng có màu đỏ. Không nhất thiết phải là hoa hồng, bất cứ hoa gì cũng được, kể cả hoa lan.”

Lễ Bông hồng cài áo tổ chức tại Làng Mai (miền nam nước Pháp - nơi Thiền sư viết sách, dạy thiền, làm vườn và giúp trẻ em nghèo đói ở khắp nơi) mỗi mùa hè kể từ năm 1983 đã làm theo tinh thần Việt Nam. Lễ này không những để vinh danh người Mẹ mà cũng để tưởng nhớ và vinh danh người Cha nữa. Mỗi người được cài hai bông hoa hồng, một dành cho Mẹ và một dành cho Cha. Bông hoa dành cho Cha nằm hơi cao lên một chút để phân biệt với bông hoa cho Mẹ. Và anh sẽ cài một bông hồng cho Cha khi Cha còn sống, một bông hồng cho Mẹ khi Mẹ còn sống.

Từ đoản văn nổi tiếng này, nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ đã phóng tác ra một nhạc phẩm mang cùng tên “Bông Hồng cài áo” cũng rất nổi tiếng - khiến đoản văn Bông Hồng Cài Áo của Thích Nhất Hạnh càng nổi tiếng hơn:

Bài hát: Bông Hồng Cài Áo

Một bông Hồng cho em
Một bông Hồng cho anh
Và m
ột bông Hồng cho những ai
Cho những ai đang còn Mẹ
Đang còn Mẹ để lòng vui sướng hơn
Rủi mai này Mẹ hiền có mất đi
Như đóa hoa không mặt trời
Như trẻ thơ không nụ cười
Ngỡ đời mình không lớn khôn thêm
Như bầu trời thiếu ánh sao đêm

Mẹ, Mẹ là giòng suối dịu hiền
Mẹ, Mẹ là bài hát thần tiên
Là bóng mát trên cao
Là mắt sáng trăng sao
Là ánh đuốc trong đêm khi lạc lối

Mẹ, Mẹ là lọn mía ngọt ngào
Mẹ, Mẹ là nải chuối buồng cau
Là tiếng dế đêm thâu
Là nắng ấm nương dâu
Là vốn liếng yêu thương cho cuộc đời

Rồi một chiều nào đó anh về nhìn Mẹ yêu, nhìn thật lâu
Rồi nói, nói với Mẹ rằng "Mẹ ơi, Mẹ ơi, Mẹ có biết hay không ?"
- Biết gì ? - "Biết là, biết là con thương Mẹ không ?"


Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó anh
Đóa hoa màu hồng vừa cà
i lên áo đó em
Thì xin anh, thì xin em
Hãy cùng tôi vui sướng đi


NGÀY CỦA CHA

Ngoài ra, Hoa Kỳ còn có “Ngày của Cha” vào Chủ nhật thứ 3 của tháng Sáu. Thành phố Chicago, tiểu bang Illinois, đã tổ chức “Ngày của Cha” lần đầu vào năm 1915.

Ngày Của Cha là một lễ được dùng để tôn vinh những người làm cha, tôn vinh cương vị làm cha, mối quan hệ với người cha và ảnh hưởng của người cha trong xã hội. Ngày này được ăn mừng vào Chủ nhật thứ ba của tháng 6 tại nhiều quốc gia và có thể rơi vào những ngày khác ở một số nơi. Ngày này bổ sung cho Ngày của Mẹ - lễ tôn vinh các bà mẹ.

- Tại nước Mỹ, Ngày của Cha được ăn mừng phổ biến từ những năm đầu thế kỷ 20. Ngày của Cha được cử hành vào nhiều ngày khác nhau trên toàn thế giới và thường liên quan đến việc tặng quà, bữa ăn tối đặc biệt cho cha, mẹ, và các hoạt động mang tính gia đình.

Nhưng việc ăn mừng Ngày của Cha sớm nhất được biết đến đã diễn ra ở Fairmont, tiểu bang West Virginia (WV) vào ngày 5 tháng 7 năm 1908. Sự kiện được bà Grace Golden Clayton tổ chức, với mong muốn vinh danh cuộc đời của 210 người cha bị mất vài tháng trước trong Thảm họa Monongah MiningMonongah, WV vào ngày 06 tháng 12 năm 1907. Có thể Clayton chịu ảnh hưởng bởi việc ăn mừng Ngày của Mẹ lần đầu tiên trong năm đó, và chỉ cách đó một vài dặm. Clayton đã chọn ngày Chủ nhật gần nhất so với ngày sinh của người cha vừa mới qua đời của bà.

Tuy nhiên, sự kiện đó bị lu mờ bởi các sự kiện khác trong thành phố. Tiểu bang WV không chính thức công nhận ngày lễ này, và nó không được tổ chức trở lại. Tất cả công lao trong việc giúp Ngày của Cha ra đời về sau lại được ghi nhận cho Sonora Dodd người thị trấn Spokane, tiểu bang Washington (WA) đã tổ chức Ngày của Cha một cách độc lập vào 2 năm sau đó. Sự kiện của bà cũng chịu ảnh hưởng từ Ngày của Mẹ.

Lễ kỷ niệm của bà Clayton đã bị lãng quên cho đến năm 1972, khi một trong những người tham dự để buổi lễ do bà tổ chức nhìn thấy Tổng thống Mỹ Richard Nixon công bố Ngày của Cha, và làm việc để phục hồi di sản của nó. Ngày lễ này hiện được tổ chức hàng năm nhà thờ chính tòa Methodist - tức nhà thờ Williams Memorial Methodist Episcopal. Fairmont, WV nay được đề cử là "Quê hương Ngày của Cha đầu tiên".

Một dự luật công nhận Ngày của Cha là ngày lễ quốc gia được đưa lên Quốc hội Mỹ vào năm 1913. Năm 1916, Tổng thống Woodrow Wilson đến Spokane để nói chuyện trong lễ kỷ niệm Ngày của Cha và muốn công nhận nó chính thức, nhưng Quốc hội phản đối, vì sợ rằng nó sẽ bị Thương mại hóa. Tổng thống Mỹ Calvin Coolidge đề nghị vào năm 1924 rằng nên đưa Ngày của Cha vào diện các ngày lễ quốc gia, nhưng chưa có công bố quốc gia.

Năm 1957, Thượng nghị sĩ Margaret Chase Smith viết một kiến nghị buộc tội Quốc hội đã bỏ phớt lờ Ngày của Cha suốt 40 năm, trong khi tôn vinh các bà mẹ, do đó "chỉ tôn vinh 1 trong 2 phụ huynh của chúng ta". Năm 1966, Tổng thống Lyndon B. Johnson đã đưa ra lời loan báo tổng thống đầu tiên tôn vinh những người cha, và chỉ định dành ngày Chủ nhật thứ ba trong tháng 6 làm Ngày của Cha.

Sáu năm sau, ngày này đã được chính thức trở thành ngày nghỉ lễ trên toàn quốc ở Mỹ sau khi Tổng thống Richard Nixon ký nó thành luật vào năm 1972.

NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ

Ngày Quốc tế Phụ nữ hay còn gọi là Ngày Liên Hiệp Quốc vì Nữ quyền và Hòa bình Quốc tế được Liên Hiệp Quốc chính thức hóa vào năm 1977. Trong một thế kỷ qua, người phụ nữ đã giành được sự bình đẳng trước pháp luật trong hầu hết các lĩnh vực và ở hầu hết các nước trên thế giới. Tuy thế, hiện nay phụ nữ vẫn không ngừng tranh đấu vì quyền bình đẳng với nam giới.

Ngày 8 tháng 3 năm 1857, các công nhân ngành dệt chống lại những điều kiện làm việc khó khăn và tồi tàn của họ tại Thành phố New York : 12 giờ làm việc một ngày. Hai năm sau, cũng trong tháng 3, các nữ công nhân Hoa Kỳ trong hãng dệt thành lập công đoàn đầu tiên đã được bảo vệ và giành được một số quyền lợi.[

8 tháng 3 năm 1975 , Liên Hiệp Quốc bắt đầu chú ý và tổ chức ngày Quốc tế Phụ nữ.

Hiện nay ngày Quốc tế Phụ Nữ vẫn còn được xem là ngày lễ chính thức tại những nước sau đây: Angola , > Armenia , Azerbaijan, Belarus, Bulgaria, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Macedonia, Moldova, Mông Cổ, Nga , Tajikistan , Ukraina , Uzbekistan , và Việt Nam. Trong những xã hội này, đàn ông tặng hoa và quà cho những người phụ nữ trong đời của họ như mẹ, vợ, bạn gái, vv.vv. Tại một số nơi, nó cũng được xem tương đương với Ngày của Mẹ (Mother's Day).

Điều đáng nói là ngày Quốc tế Phụ nữ ít được quan tâm đến tại Anh và Mỹ và các nước Tây phương khác.

NGÀY QUỐC TẾ NAM GIỚI

Ngoài Ngày của Cha, còn có Ngày Quốc tế Nam giới được tổ chức tại nhiều quốc gia vào ngày 19 tháng 11 để dành cho những người đàn ông con trai không phải là cha.

Ngày Quốc tế Nam giới là một sự kiện quốc tế được tổ chức vào ngày 19 tháng 11 hàng năm. Ngày này được bắt đầu vào năm 1999 ở Trinidad và Tobago và được Liên Hợp Quốc ủng hộ, và nhận được sự ủng hộ của các nhóm nam giới ở Mỹ, châu Âu, châu Á, châu Phi và vùng Caribe.Mục đích của Ngày Quốc tế Nam giới là tập trung vào sức khoẻ của nam giới và trẻ em nam, cải thiện quan hệ giữa hai giới, thúc đẩy bình đẳng giới và làm nổi bật vai trò của nam giới. Đây là dịp để nam giới nêu bật sự phân biệt đối với họ và để kỉ niệm những thành tựu và đóng góp của mình, đặc biệt là đóng góp đối với cộng đồng, gia đình, hôn nhân và chăm sóc con cái. Ngày Quốc tế Nam giới được tổ chức tại Trinidad và Tobago, Jamaica, Australia, Ấn Độ, Mỹ, Singapore, Anh và Malta vào ngày 19 tháng 11 và nhận được sự ủng hộ trên toàn cầu.

VIỆT NAM CÓ NGÀY LỄ VU LAN

Tích xưa kể rằng, khi đức Phật còn ở dương thế, trong số những người theo hầu đức Phật có ngài Mục Kiền Liên, một vị tôn giả tu luyện được nhiều phép thần thông. Tưởng nhớ mẹ nên một ngày nọ Mục Kiền Liên dùng đôi mắt thần nhìn xuống địa ngục, thấy mẹ là bà Thanh Đề bị Diêm Vương đày làm quỷ đói do kiếp trước gây nhiều nghiệp ác.

Thương mẹ quá, Mục Kiền Liên dùng phép thuật xuống địa ngục để mang cơm dâng cho người. Bà Thanh Đề do lâu ngày nhịn đói nên khi ăn đã dùng một tay che bát cơm của mình vì sợ các cô hồn khác đến tranh. Chính vì vẫn còn tính "tham sân si" nên khi bà đưa bát lên miệng, thức ăn đã hóa thành lửa đỏ không thể ăn được. Chứng kiến cảnh này Mục Kiền Liên đau xót vô cùng bèn cầu xin Đức Phật giúp mình cứu mẹ.

Đức Phật dạy rằng: Kiền Liên thần thông quảng đại nhưng một mình không thể cứu được mẹ do ác nghiệp của bà quá nặng, chỉ còn cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong thành công. Vào ngày Rằm tháng bảy, nhân lúc chư tăng mãn hạ (sau 3 tháng an cư kiết hạ) thì sửa một cái lễ đặt vào trong chiếc chậu để dâng cúng và thành khẩn cầu xin mới có thể cứu rỗi vong nhân khỏi địa ngục tăm tối.

Mục Kiền Liên thành tâm làm theo lời Phật dạy và không những cứu được mẹ mà còn giải thoát được tất cả vong hồn bị giam cầm ở âm cung. Từ đó ngoài ý nghĩa "mùa hiếu hạnh", tháng bảy Âm lịch còn gọi là tháng "xá tội vong nhân", tức là thời gian các vong hồn được thả tự do. Trong những ngày này, người dân thường lập đàn cầu siêu hoặc cúng thí (bố thí) thức ăn cho các cô hồn (tức là vong hồn không có người thân) để mong họ phù hộ cho mình.

Từ đó về sau theo lời Phật dạy, các phật tử muốn báo hiếu cha mẹ cũng cử hành lễ Vu Lan để cầu siêu cho các đấng sinh thành và cầu phá địa ngục cho những vong hồn.

. Điều linh thiêng là vào ngày Lễ Vu Lan, một chiếc cầu vô hình dường như được bắc giữa hai bờ của thế giới Dương (người sống) và thế giới Âm (người chết. Lễ Vu Lan ở Việt Nam vào ngày Rằm tháng 7 âm lịch, không những nhắc nhớ việc báo hiếu cha mẹ mà còn bao hàm ý nghĩa tìm về cội nguồn để biết ơn và báo ơn. Tư tưởng ấy hoàn toàn phù hợp với tư duy hiền hậu chất phác của người Việt Nam: "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây".

TÓM TẮT

Năm nay, Ngày lễ Mẹ nhằm vào ngày 12-5-2013 và Ngày lễ Cha rơi vào ngày 23-6-2013, chúng ta đều tưởng nhớ đến các bậc Sinh thành đã khuất bóng hay tỏ lòng biết ơn nếu Cha Mẹ còn sống. Chúng ta cùng hát vang bài hát ngợi ca Công ơn của cả hai Cha - Mẹ:

Bài hát: Ơn nghĩa Sinh thành – của nhạc sĩ Dương ThiệuTước

Uống nước nhớ nguồn
Làm con phải hiếu
Em ơi hãy nhớ năm xưa
Những ngày còn thơ
Công ai nuôi dưỡng.
Công đức sinh thành
Người hỡi đừng quên
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước
Trong nguồn chảy ra
Người ơi, làm người ở trên đời
Nhớ công người sinh dưỡng
Đó mới là hiền nhân.
Vì đâu, anh nên người tài ba
Hãy nhớ công sinh thành
Vì ai, mà có ta
Uống nước nhớ nguồn
Làm con phải hiếu
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước
Trong nguồn chảy ra ...


___________________________________

(Tham khảo: trích bài hát Bông hồng cài áo - Ơn nghĩa Sinh thành và sách báo nói về Ngày Cha –Ngày Mẹ)
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 30.05.2013 theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SaìGòn .
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com