(Bài nói chuyện nhân buổi RMS quyển sách
Tuyển Thơ Chữ Hán của Cao Bá Quát của Thái Trọng Lai,
tại Viện Việt Học CA, ngày 23 tháng 09 năm 2012)

Nhân Đọc quyển Dịch Thơ Cao Bá Quát của Thái Trọng Lai:
Dịch một bài thơ chữ Hán của người Việt Nam tốt hơn
dịch mấy chục bài thơ Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Liễu Tông Nguyên….



NGUYỄN VĂN SÂM

Quý vị đang nghe Souvenir de Paganini của Chopin

Người Việt dính dáng với văn chương thơ phú của Việt Nam đa số thích thơ chữ Hán. Ai có tâm hồn nghệ sĩ hơn và đam mê hơn thường nghêu ngao ngâm nga thơ của Lý Bạch, Đỗ Phủ, Vương Xương Linh, Mạnh Hạo Nhiên, Liễu Tôn Nguyên, Bạch Cư Dị… để tự mình tìm tòi cái hay đẹp của chính nguyên tác. Vẫn chưa đủ, họ nghiền ngẫm bài dịch của các bài thơ nầy để mong hiểu thêm nữa mà khi đọc nguyên tác chưa hiểu hết ý. Có người lại dùng thời giờ và sở học của mình dịch từng tập dầy thơ chữ Hán ra quốc ngữ để cho riêng mình thưởng thức. Họ rất sung sướng khi thấy một vài chữ mà mình dịch thiệt là đắc thể, đúng chỗ, lột được ý của nguyên tác. Thậm chí có người không biết chữ Hán hay lỏm bỏm vài ba chữ cũng nhảy vô dịch, căn cứ trên những bản dịch có sẵn từ trước, thay đổi một vài chữ hay một vài nhóm từ. Cách dịch dễ nhứt là căn cứ trên bản dịch của ai đó giúp mình hiểu ý bài thơ làm căn cứ rồi diễn dịch lại bằng câu thơ mà vần là vần của nguyên tác. Cách nầy phổ thông nhứt khiến cho có cảnh tượng mà tôi không biết là đáng vui hay buồn: anh dịch, tôi dịch, nó dịch, chúng ta cùng dịch thơ chữ Hán.

Chuyện ưa thích và đi đến tình trạng sính thơ chữ Hán đến tuyệt đỉnh như vậy không có gì đáng chê trách vì thơ Đường nói riêng và nói chung các thứ thơ của những đời trước hay sau đó của Trung Quốc vừa là tài sản văn hóa của nước Trung Hoa vừa là thứ gì đó rất gần gũi với người Việt. Bao thế kỷ rồi ông bà ta sống với loại thơ nầy, thưởng thức nó và thậm chí học hỏi từ nó. Dịch thơ chữ Hán của Trung Hoa cũng là dịp thưởng thức cái hay của thơ một cách cẩn thận, có dịp khám phá hết các chi tiết sâu thẩm ẩn tàng trong một bài thơ mà khi chỉ đọc qua không thể nào nắm bắt được hết. Dầu thơ chữ Hán là thơ của một nước trong quá khứ từng làm khổ dân ta và hiện tại nhà nước của thứ thơ đó còn có mộng nuốt chửng cả nước ta. Thế nhưng Thơ chữ Hán như một hoàng tử tốt áo. Thiên hạ xúm lại sờ mó, ca tụng tâng bốc đã nhiều, không chỉ người trong các nước Đông Á từng chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc thôi mà cả người của nhiều nước Tây Phương như Anh Mỹ Pháp… nữa cũng thích.

Thơ chữ Hán, dầu hay, đó cũng là thứ gì đó của người nước khác, thuộc một nền văn hóa không phải là của người Việt trong khi nước ta cũng có thứ tương đương là thơ chữ Hán của người Việt Nam. Gia tài của Mẹ Việt Nam nầy lâu nay chưa được chú ý đúng mức. Trần Trọng Kim, Ngô Tất Tố, Trần Trọng San, Bùi Khánh Đản, Đinh Văn Chấp… vừa chỉ giới thiệu và dịch thơ chữ Hán của Trung Quốc, sang quốc ngữ bằng nguyên thể thường gọi là Đường luật. Các ông nầy đã bỏ quên loại Đường thi của người Việt Nam sáng tác trong 4, 5 trăm năm người Việt chịu ảnh hưởng của Trung Hoa. Công việc làm lúc đó, 7, 9 chục năm trước có thể là tốt, là chấp nhận được. Nó giúp chúng ta hiểu hơn văn học và văn hóa của người bạn láng giềng khổng lồ Trung Quốc ở phía Bắc. Mặt khác lúc đó, nền văn hóa ảnh hưởng đến người Việt Nam mạnh nhứt phải nói là văn hóa Trung Hoa, sự giới thiệu thơ Trung Hoa cho độc giả Việt là chuyện dĩ nhiên và cần thiết.

Nhưng thời thế đã đổi thay rồi.

Ta, nếu có sở học, nếu có thời giờ, nên trở về với cái thật sự là thành phần gia tài của dân tộc mà dịch thơ chữ Hán của người Việt Nam.

Thơ chữ Hán của Việt Nam có nghệ thuật và có dính dáng đến sinh hoạt văn hóa hay tâm tình thiệt sự của người Việt không nhiều gì, bởi vì, phải thú thiệt một điều đau lòng là, một phần lớn loại thơ nầy được sáng tác để thù tiếp bạn bè hay sáng tác lúc trà dư tửu hậu, người làm thơ vui chơi với kỷ thuật hơn là biểu lộ tâm tình ẩn náo trong long mình. Còn lại thiệt sự là thơ , là văn chương có dính dáng nhiều đến cảm thức của người thơ có thể kể ra chừng năm bảy chục tập thôi. Số lượng đó là gia tài văn chương chữ Hán của người Việt Nam. Mấy trăm năm mà có bấy nhiêu đó thì thiệt là quá ít, nghĩa là nghèo bàn, khiêm tốn. Thế mà chúng ta không mấy ai biết đến chúng một cách tường tận trong khi thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ và các thi nhân đương thời hay sau đó có cả mấy trăm nhà với cả chục ngàn bài mà quá nhiều người biết, quá nhiều tập thơ dịch công phu và tài hoa…

Chuyện của nước người sao mà nhanh nhẩu, còn chuyện của nước ta sao mà ta thờ ơ thế. Đã đến lúc nên suy nghĩ lại, có đáng chăng bỏ phí thời giờ và tâm huyết vô lo cho đứa con của hàng xóm có cha mẹ đầy đủ trong khi vợ chồng mình thiếu trước hụt sau lại chẳng lo cho con mình?

Thơ chữ Hán của các thiền sư đời Lý (Khánh Hỷ, Bảo Giác, Huyền Quang, Pháp Loa, ..), của các vị minh quân đời Trần (Trần Thái Tôn, Trần Thánh Tôn, TRần Nhân Tôn, Trần Minh Tôn…) và gần đây là của các thi sĩ thứ thiệt như Nguyễn Du, Nguyễn Trải, Nguyễn Xuân Ôn, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định (Gia Định Tam Gia), Phan Thanh Giản, Kiều Oánh Mậu, Kỳ Đồng, Ngô Thế Vinh, Ngô Đình Thái, Dương Khuê, Dương Bàng…vẫn chưa được dịch hết, đó là chưa kể trong số các tác giả nói trên có người chưa từng được dịch bài nào ra quốc ngữ, khiến cho cái tên ta nghe mà tưởng chừng họ là người Trung Quốc..…

Cái khổ Việt Nam ta là nước nhỏ, văn hóa thì chịu ảnh hưởng của nước lớn, chữ viết cũng lấy của họ làm của mình một thời gian dài trong quá khứ. Bây giờ thì con cháu họ dầu xa lạ với thứ chữ đó nhưng gia sản văn hóa của ông cha không thể xổ toẹt, coi như không có. Ai có chút Hán học, phải bỏ công dịch tác phẩm chữ Hán của người Việt Nam ra chữ quốc ngữ để chúng ta cùng hgiểu xem xưa kia ông bà mình nghĩ gì, tình cảm ra sao….

Đó là chuyện phải làm.

Đã đến lúc ta nên quay trở về góp công sức để giới thiệu nền văn hóa của dân tộc, ít nhứt là với người Việt Nam ta, nếu sau nầy có điều kiện, các học giả Việt của thế hệ di dân 2, 3, 4…n,… viết và giới thiệu những bản dịch nầy bằng ngôn ngữ nơi họ sinh sống thì còn gì đáng vui mừng bằng. Và quyển sách dịch thơ của Cao Bá Quát của giáo Sư Thái Trọng Lai cung cấp cho chúng ta những điều ban đầu cần thiết đó. Ông dịch một tác giả Việt Nam bậc thầy và dịch bài nào cũng hay cũng lột hết ý của tác giả….

Thơ văn Cao Bá Quát đã được dịch nhiều lần rồi, không kể thời tiền chiến ở Bắc mỗi người dịch một ít, thời Việt Nam Cộng Hoà, Sa Minh Tạ Thúc Khải dịch gần như toàn bộ rồi, và gần đây Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Học ở Sàigòn cũng dịch lại nữa.

Tại sao lại còn có công trình của Giáo Sư Thái Trọng Lai? Theo tôi có thể là ông thấy tác giả nầy quả thiệt như đời xưng tụng là thánh thơ, nghĩa là ý tứ cao thâm, từ ngữ vi diệu mà mỗi người chỉ cảm nhận được một ít, thiệt chẳng bỏ công dịch lại lần nữa, chú lại lần nữa, đem ra ánh sáng những gì thánh thơ đó cảm nhận lần nữa.

Đọc thơ văn chữ Hán hiểu hết ý tại ngôn ngoại là điều thích thú nhưng không phải lúc nào cũng đạt được. Chẳng hạn như bài Quỳnh Hải Nguyên Tiêu của Nguyễn Du trong Thanh Hiên Thi Tập, tác giả tả trăng coi đó người con gái đẹp chứ không phải như người con gái đẹp. Tác giả nói: bây giờ đêm rằm tháng Giêng nàng đang soi sáng nhà ai, có soi sáng nơi vợ mình ở xa xôi chăng (nhớ vợ), có thấy cảnh huynh đệ mình ly tán chăng (thương gia đình mình), có soi được tấm lòng buồn bã của mình bây giờ đây sau những biến đổi chăng (tự thương thân). Nguyễn Du dùng chữ thiền quyên 嬋娟, chữ nhữ (mày, nhà ngươi, em) để chỉ mặt trăng mà có người dịch lại cho rằng chữ nhữ chỉ vào chính Nguyễn Du!

Vấn đề theo tôi không nằm trong sự đúng sai mà là do người dịch đã chọn chữ không thuyết phục được người xem. Đọc suốt quyển sách Tuyển Dịch Thơ Chữ Hán Cao Bá Quát của Thái Trọng Lai tôi không có nhiều sự-bực –mình-vì-không-đồng-ý tương tợ như sự kiện trên. Đó là ưu điểm lớn, kế bên ưu điểm thơ ông dịch có nhiều thi vị. (xin không dẫn chứng chi tiết chỗ nầy, vì vấn đề thời giờ và để sự thích thú khám phá cho người đọc quyển sách của ông Lai.) Hai ưu điểm trên nói thì coi như nhỏ nhưng thực sự muốn đạt được điều nầy người dịch phải có nội lực chữ Hán thâm hậu và có khả năng vận dụng vần điệu thiệt tân kỳ, dễ như lấy chữ trong túi, giúp cho người đọc dễ lý hội, từ đó hiểu rõ hơn con người phản kháng Cao Bá Quát mà thơ Nôm của ông chỉ là những vệt nắng soi qua khóm lá của ánh sáng mặt trời…

Và đây là điều hân hạnh cho người giới thiệu…



Ghi chú sau buổi nói chuyện:

1. Hôm đó phần GS Lê Văn Khoa nói chuyện về tác giả đã nhấn mạnh rằng ông Thái Trọng Lai là một người gàn đời nay giới thiệu về thơ của một người gàn đời xưa. Có sự đồng cảm của người nay thì việc giới thiệu thơ của người xưa sẽ tinh tế hơn.
2. Luật sư Trần Thanh Hiệp thì cho rằng Cao Bá Quát là người đầu tiên đứng lên tranh đấu cho tự do, tự do hành động và nhất là tự do phát biểu. Đi tìm hiểu những phản kháng của Cao Bá Quát là điều đáng làm trong lúc nầy, lúc mà tổ quốc chúng ta cần có tiếng nói của người phản kháng, người đòi tự do ngôn luận và tưởng.
3. Diễn giả NVS đề nghị để cho những bản dịch thơ Cao Bá Quát được lưu truyền rộng rãi hơn thì nên cho lên mạng nào đó để nhiều người có dịp truy cập, chứ bản in chữ nhỏ quá và lại không có mục lục từng bài người lớn tuổi khó lòng đọc tường tận….
_________________________________
(Victorville, CA, Sept.15, 2012)
 
 
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả ngày 24.05.2013.
. Xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com khi trích đăng lại.