GIỌNG NAM TRUNG NGƯỜI ĐỨC
DIETERICH FISCHER-DIESKAU
(1925- …)

Giọng nam trung – bariton Fischer-Dieskau là một trong những nghệ sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại. Fischer-Dieskau thực sự là một tượng đài của thanh nhạc cổ điển mà mọi thế hệ nghệ sĩ sau này đều phải ngả mũ ngưỡng mộ: một kỹ thuật thanh nhạc tuyệt vời và khả năng hát như nói. Ông nói:” Âm nhạc và thi ca rộng mở của tâm hồn con người. Kết hợp với nhau, chúng tạo thành một thứ ngôn ngữ mà không nghệ thuật nào khác có thể diễn đạt được." - Năm 1999 trong một cuộc bình chọn lớn của một tạp chí cổ điển của Anh cho danh hiệu nghệ sĩ xuất sắc nhất của thế kỷ Fischer-Dieskau đứng thứ 2, sau tenor huyền thoại Jussi Bjorling.

Dietrich Fischer-Dieskau sinh ngày 28 tháng 5 năm 1925 ở Berlin trong một gia đình dòng dõi trí thức có tiếng ở Đức. Mẹ ông là giáo viên và cha ông là một hiệu trưởng một trường trung học. Bà ngoại ông xuất thân từ gia đình dòng tộc quý tộc von Dieskau. Thiên bẩm âm nhạc của ông bộc lỗ khá sớm. Fischer-Dieskau học piano từ mẹ ông và tiếp tục học nhạc suốt những năm trên ghế nhà trường. Fischer-Dieskau học thanh nhạc chính thức vào năm 16 tuổi cùng giáo sư âm nhạc Georg Walter. Năm 1943, khi mới hoàn thành chương trình học phổ thông và 1 học kì học thanh nhạc tại nhạc viện, Dietrich đã bị 2 năm phải phục vụ trong quân đội. Năm 1945 Dietrich bị bắt ở Ý và mất thêm 2 năm nữa làm tù nhân chiến tranh ở Mỹ. Năm 1947, ông tiếp tục học thanh nhạc với giáo sư Hermann Weissenborn tại nhạc viện Berlin. Năm 1947, Fischer-Dieskau hát chính thức ở Badenweiler, phía Tây Nam nước Đức và gây ra tiếng vang khi biểu diễn bản German Requiem của Brahms. Năm 1948 Fischer-Dieskau được chọn làm baritone chính của nhà hát opera thành phố Berlin và công diễn trên sân khấu opera với vai Posa trong vở Don Carlos của Verdi dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng người Hungary Ferenc Fricsay. Sự nghiệp biểu diễn quốc tế của ông bắt đầu từ năm 1949 tại các sân khấu lớn ở Anh, Hà Lan, Thuỵ Sĩ, Pháp và Italia. Năm 1951 ông công diễn ở Salzburg với chùm ca khúc "Những bài ca người bộ hành" của Mahler dưới sự chỉ huy của Wilhelm Furtwãngler. Từ năm 1954 đến 1961 ông tiếp tục ra mắt trên sân khấu opera ở Bayreuth và từ 1956 đến những năm 1970 trên sân khấu Salzburg. Fischer-Dieskau đặc biệt gắn bó với các nhà hát opera của Mũnchen và Berlin.

Năm 1964, trong một buổi biểu diễn các tác phẩm thanh nhạc thính phòng tại Carnegie Hall nước Mỹ, giọng hát của ông đặc biệt được ngưỡng mộ bởi những màu sắc âm thanh phong phú và sự thể hiện chi tiết đến từng câu từng chữ trong các bài hát. Qua những lần biểu diễn thành công vang dội và những dự án ghi âm khổng lồ với các hãng ghi âm nổi tiếng, tạp chí Times nhanh chóng ca ngợi Fischer-Dieskau là "Nghệ sĩ biểu diễn bài hát - lieder vĩ đại nhất thế giới" Sự nghiệp biểu diễn và ghi âm huy hoàng của Fischer-Dieskau kết thúc vào năm 1993 sau hơn 45 năm lao động nghệ thuật không biết mệt mỏi. Ông chia tay với sân khấu âm nhạc của ông trong lần biểu diễn ở nhà hát Opera Mũnchen vào ngày 31 - 12 – 1992. Việc thể hiện các tác phẩm thanh nhạc của Fischer-Dieskau thực sự làm cái tên ông gắn liền với những nhạc sĩ như Schubert, Schumann hay Wolf

FISCHER-DIESKAU - NGHỆ SĨ PHONG CÁCH ĐỨC

Với các tác phẩm thanh nhạc thính phòng phổ thơ của các nhạc sĩ như Schubert, Schumann, cảm giác "thính phòng" là yếu tố hàng đầu: Đó là khả năng tạo ra một sự liên hệ thân mật về tinh thần giữa những người thể hiện với nhau, giữa những người thể hiện với khán giả. Bản thân chất giọng baritone có màu sắc và vẻ đẹp đặc trưng của Fischer-Dieskau là một phương tiện hữu ích để đem đến những sự thể hiện đáng nhớ. Với ông, người nghe được chứng kiến một nhạc cảm tuyệt vời, một tư duy nhả chữ hoàn hảo, sự sáng tạo trong việc tạo câu và uốn nắn các dòng thơ một cách điêu luyện và đặc biệt là một sự nhạy bén đáng khâm phục với lời hát. Người nghe lied (ca khúc nghệ thuật Đức) thực sự có cảm giác Fischer-Dieskau thấu hiểu tác phẩm đến từng chữ, đến từng dấu lặng và kỹ tính đến tinh vi với từng chi tiết của tác phẩm. Fischer-Dieskau đi từ một tổng thể lớn để từ đó ông vẽ nên những chi tiết nhỏ bé một cách vừa phải. Những chùm ca khúc như Tình yêu nơi thi sĩ - Dichterliebe của Schumann hay Du ngoạn mùa đông - Winterreise của Schubert thực sự gắn liền với những ghi âm của Fischer-Dieskau.Tác phẩm thanh nhạc được Fischer-Dieskau biểu diễn trong vai trò soloist xuất sắc nhất phải kể đến là "Das Lied von der Erde"của Mahler - một bản giao hưởng – ca khúc lớn. Ý tưởng tác phẩm được ông hình thành từ xúc cảm trước những tác phẩm thi ca Trung Quốc trong tập thơ “Tiếng sáo Trung Hoa”. Giao hưởng “Bài ca Trái đất” được ông khởi soạn vào mùa hè năm 1908 và hoàn thành năm 1909. Có 7 bài thơ được G.Mahler tuyển chọn để chuyển soạn âm nhạc là những bài thơ đời Đường, hầu hết của thi hào Lý Bạch; cách thời điểm đó hơn 1000 năm. Với “Bài ca Trái đất”, G.Mahler đã tạo ra một sự kết hợp tuyệt vời giữa ca khúc và giao hưởng, của âm nhạc và thi ca, của văn hóa - triết lý phương Đông và nghệ thuật phương Tây; tất cả vượt lên mọi khoảng cách về không gian và thời gian.
Trích Der Trunkene im Frühling (Gã say ngày xuân thơ của Lý Bạch)

Nếu đời chỉ là mơ,
Sao sầu đau đến thế?
Ta rót uống cả ngày,
Uống tới khi không thể!

Khi không thể uống thêm,
Lòng dạ đã đầy cả,
Lảo đảo tới thềm nhà
Đánh giấc say thật hả!

© Tác giả giữ bản quyền .
. Cập nhật trên Newvietart.com ngày 16.05.2013 theo bản gởi của tác giả từ Sài Gòn.
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com